Sưu tầm ư nghĩa các loài hoa

Hoa Bướm - Pansy

Nhớ nhung
   

Hoa Bướm c̣n được gọi là Tử La Lan, hoặc thông dụng hơn là hoa păng-xê, từ chữ "pensée" trong tiếng Pháp hay "pansy" trong tiếng Anh. Người ta thường gửi loài hoa này đến những người gần gũi và thân thiết nhất để nhắc nhớ đến nhau. Loài hoa này có những cánh phẳng x̣e rộng, mượt mà như nhung, với nhiều màu sắc rực rỡ. Ngày nay, hoa Bướm thường được trồng trong vườn, xuất xứ từ loài păng-xê dại, mà thi hào Shakespeare của Anh từng gọi là "T́nh yêu vu vơ". Người đời đă yêu mến đặt cho loài hoa này nhiều biệt danh khác nhau, mà nổi bật nhất có lẽ là Thanh thản (Heartsease), bởi v́ người ta tin rằng nếu bạn luôn giữ bên ḿnh những cánh hoa này th́ bạn sẽ chắc chắn nhận được t́nh yêu của người bạn yêu .

Ta gởi cho người vào dịp đầu năm
Những đóa păng - xê
Vàng rực như tia nắng, tím ngắt như trời đêm
Những đoá hoa nhớ nhung ...
Và hăy gửi trở lại ta một ư nghĩ của người

Sarah Doudney

Cát cánh - Bluebell
Thủy chung
  

Cát cánh là một trong các loài hoa dại cứng cỏi nhất, chúng thường trở lại một cách thủy chung năm này qua năm khác, và chắc hẳn chúng mang ư nghĩa của sự bền bỉ là do khả năng tồn tại bền vững một khi đă được trồng trong khu vườn của chúng ta. Ở những nơi hoang dă, loài hoa này phủ những tấm thảm xanh ngát màu da trời lên những cánh rừng vào mỗi độ tháng Năm. Song, chúng sẵn sàng khước từ khi bị chiếm đọat: những đoá hoa h́nh quả chuông lay động sẽ nhanh chóng rủ xuống một khi bị hái.

Cát cánh đôi khi bị lầm lẫn với hoa Harebell (Huệ dạ hương) hay Bluebell xứ Xcốtlen, là một loài hoa khác hẳn thuộc họ Campanula. Tên nhóm là Endymion lấy theo tên một chàng chăn cừu trẻ đẹp được nữ thần mặt trăng Selene đem ḷng yêu thương. Đây là một thiên t́nh ca đầy thơ mộng trong thần thoại Hy Lạp.

Selene yêu Endymion tha thiết. Endymion lại chẳng hề biết đến t́nh yêu ấy. Chàng chỉ ước mơ một điều là được trẻ đẹp măi. Chấp nhận lời khẩn cầu của chàng, thần Zeus đă giáng xuống đôi mắt chàng một giấc ngủ triền miên. Selene được tin rất đỗi buồn rầu. Nàng cưỡi cổ xe song mă, cỗ xe có đôi ngựa trắng muốt như tuyết xuống trần gian. Nàng đến động Latmos huyền diệu, nơi Endymion đang ch́m đắm trong giấc ngủ vĩnh hằng. Selene ôm lấy chàng, phủ lên người chàng những chiếc hôn nồng ấm. Nàng đưa tay vuốt ve người chàng, nằm xuống bên chàng, nghe tiếng tim chàng đập và say sưa uống từng hơi thở nồng nàng của chàng. Và cứ thế, hàng đêm, khi bóng tối đă bao phủ cả trái đất, Selene lại mặc chiếc áo dài trắng muốt, trên mũ cài một lưỡi liềm, lặng lẽ uy nghi đi ngang qua bầu trời. Nàng hiền hoà tỏa ánh sáng trắng bạc xuống đất. Khi đă đi khắp ṿm trời, nàng lại lặng lẽ đến cái hang sâu vùng với Endymion. Nàng cúi xuống bên chàng, vuốt ve chàng, nỉ non những lời ân ái.

Năm tháng cứ trôi đi, Endymion vẫn ngủ triền miên c̣n Selene vẫn giữ măi mối t́nh thủy chung, thầm lặng mà tuyệt vọng ấy. V́ vậy, ánh sáng của nàng ban đêm chiếu xuống trần gian cũng đượm vẻ mơ màng, buồn bă. H́nh như những mối t́nh thầm lặng và tuyệt vọng đều đẹp, đều êm ái, nhẹ nhàng và bàng bạc như ánh trăng nhưng đều nhiễm phải cái nỗi buồn man mác của nữ thần Selene.

Hàng năm em trở lại
Trên sân vườn xanh tươi
Bao người qua hờ hững
Em vẫn đời nhớ thương
 
John Keats, 1795-1821

Cúc Dại - Daisy
Ngây thơ
  
                 daisy                       Marguerite daisy

Cúc dại là loài hoa nhỏ thường mọc hoang, có những cánh trắng ngần, từ giữa tỏa ra như h́nh nan hoa quanh một nhụy vàng tươi. Đây là loại hoa của trẻ em. Chúng thường thích hái Cúc dại để kết thành bó hay xâu thành chuỗi. Ở bên Anh, Cúc dại c̣n được gọi là Baby's pet hay Bairnwort có nghĩa là hoa trẻ em.

Nếu một cô gái nhỏ nhắm mắt lại và hái một chùm Cúc dại rồi đếm th́ số hoa trong chùng hoa đó sẽ là số năm c̣n lại trước khi lấy chồng. Các cô thiếu nữa thường đoán số mạng của ḿnh bằng cách lần lượt bứt ra từng cánh của một bông Cúc dại đồng thời lập đi lập lại điệp khúc:

- "Chàng yêu ta, chàng không yêu ta "....

Daisy có nghĩa là day's eye hay con mắt của ban ngày: nó mở ra cùng với ánh sáng ban mai và rồi khép lại những cánh trắng khi mặt trời lặn xuống, như thể là nó đi ngủ.

Xin làm loài Cúc dại - nếu là hoa
Dịu dàng khép cánh mỗi chiều tà
Và mỗi sớm mai bừng thức giấc
Đón chào nắng ấm với sương sa.

I'd choose to be a daisy - Vô Danh

Cúc Vạn Thọ - Marigold
U sầu
   

Cúc vạn thọ luôn được liên hệ với cuộc hành tŕnh của vầng thái dương ngang qua bầu trời mỗi ngày, từ 9 giờ sáng tới 3 giờ chiều. Những người dân Anh thời xưa tin rằng họ có thể chỉnh đồng hồ dựa theo thời khắc mà loài Cúc này mở hay khép lại những cánh hoa rực rỡ của nó. Cúc vạn thọ thuộc nhóm Calenduala - hoa nở quanh năm. C̣n tên gọi Marigold có lẽ có nghĩa là Mary-gold, từ tên của Đức Mẹ Đồng Trinh.

Cúc vạn thọ được trồng trong vườn, nở hoa tṛn và lớn, có màu vàng hoặc màu cam. Người đời tin rằng hoa này tương trưng cho nỗi buồn bởi v́ mỗi ngày hoa đều khóc than cho sự ra đi của mặt trời mà vào lúc đó những cánh hoa đành phải khép lại.

Anh như tia nắng mặt trời
Ḷng em sưởi ấm chan ḥa t́nh anh
Hoàng hôn anh đă đi rồi
C'anh hoa khép lại đau sầu riêng ai
 
John Keats, 1798-1821

Diên Vĩ - Iris
Sứ điệp hạnh phúc
   

Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là tín sứ của thần Zeus và nàng thường xuất hiện trước muôn loài trên trái đất dưới h́nh một chiếc cầu vồng. Người đời nói rằng chiếc cầu vồng rực rỡ đó chính là đường bay của Iris trên đó nàng sải cánh đem theo sứ điệp của c'ac vị thần linh ngang qua bầu trời. Nàng c̣n phải lướt nhanh bởi v́ đời mỗi đóa hoa thường ngắn ngủi. Và cầu vồng có bao nhiêu sắc màu khác nhau th́ người đời có thể t́m thấy bấy nhiêu màu sắc nơi những đóa hoa diên vĩ.

Diên vĩ là loài cây lưu niên có thân thảo vươn cao, có lá h́nh lưỡI kiếm và những đóa hoa to nhiều màu sắc quyến rũ với ba cánh và ba đài hoa rủ xuống. Loài hoa đầy sức thu hút này được rất nhiều người ngưỡng mộ, trong đó có các vị vua chúa nước Pháp đă dùng nó làm biểu tượng của Hoàng gia và gọi nó là Fleur-de-Lis (hoa Bích hợp). Shakespeare thường hay đề cập tới hoa Diên vĩ trong các vở kịch của ông dưới tên gọi là Flower-de-Luce

Hăy nở nữa đi, loài hoa sang cả
Để ḍng sông quanh quẩn hôn chân người
Hăy nở nữa đi, loài hoa khúc hát
Cho chốn trần này thêm măi đẹp tươi
 
H.W. Long Fellow, 1809-1882

Uất Kim Hương - Tulip
Màu đỏ : Tuyên ngôn của t́nh yêu
Lốm đốm nhiều màu sắc : Đôi mắt đẹp
Màu vàng: T́nh tuyệt vọng


          
Không có một loài hoa nào từng trải qua nhiều lần đổi thay trong sự hoan nghênh, hâm mộ của người đời như Uất kim hương. Trong nhiều năm trời loài hoa này bị bỏ mặc trong những công viên thị xă, những khu vườn của các nhà ga xe lửa, thế rồi giờ đây nó lại được ca tụng nồng nhiệt về sắc màu rực rỡ và những cánh hoa trông tựa như áo dài vũ hội của phụ nữ. Được chăm chú và quư chuộng như châu báu bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, và cũng được đánh giá cao bởi người Ba Tư, tên Tulip của loài hoa này ph'at xuất từ chữ "tulipant" trong tiếng Ba Tư có nghĩa là cái khăn xếp, để diễn tả h́nh dáng của hoa. Uất Kim hương thâm nhập vào châu Âu từ thế kỷ XWI và được chào đón khắp nơi, song chỉ có ở Hà Lan loài hoa này mới được đưa vào kinh doanh trên quy mô lớn. Việc trồng, mua và bán hoa Tulip đôi lúc trở nên điên cuồng tới mức đe dọa cả nền kinh tế. Vài thập kỷ sau đó, hội chứng cuồng si Tulip đă ập đến nước Anh và Chính phủ buộc ḷng phải thông qua một sắc luật giới hạn giá cả của một củ Uất Kim hương là 400 bảng Anh.

Hoa vương ánh mắt đa t́nh
Hồn dâng như gió ngàn cây băo bùng
Mắt ai đằm thắm sao trời
Cho tôi lặng lẽ bên đời quạnh hiu

Love's LaBours's Lost, William Shakespeare, 1564-1616

Hoa Hồng - Rose
T́nh yêu

Hồng trắng - Trong trắng và t́nh yêu cao thượng
Hồng vàng - T́nh yêu sút giảm và sự phản bội
Hồng cải - sứ giả của t́nh yêu
Hồng đại đóa - Mỹ nhân kiêu kỳ
Hồng đơn - Đơn giản

   

Từ đầu thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, nhà thơ trũ t́nh Sappho trên đảo Lesbos thuộc Hy Lạp đă từng viết : Nếu như vị thần Jupiter - vị chúa tể của các vị thần - muốn t́m một nữ hoàng cho thế giới loài hoa th́ hẳn Người sẽ chọn hoa hồng. Hoa hồng là đứa con xinh xắn nhất của buổi sáng đẫm sương, là viên ngọc quư trang điểm cho bộ ngực trái đất, là ánh sáng rực rỡ trên những thảm cỏ xanh và là hơi thở của t́nh yêu...

Cánh Hồng có những cuống lá đầy gai rất đặc trưng, với những lá kép mọc xen kẽ đối nhau, nở ra những đóa hoa nhiều màu sắc, có nhiều nhị hoa và thường tỏa hương thơm. Từ xa xưa, hoa Hồng đă được coi là trượng trưng cho t́nh yêu. Song, mỗi loại Hồng khác nhau lại mang những ư nghĩa riêng: Hồng trắng là sự trong sạch và t́nh yêu tinh thần; Hồng vàng là t́nh yêu phai nhạt và sự không chung thủy; Hồng đỏ là biểu tượng muôn đời của t́nh yêu đam mê; Hồng Pháp (Rose la France) là t́nh yêu lăng mạng phóng đăng, Hồng Cabbage (xuất xứ từ Caucasus và là loại hoa Hồng phổ biến khắp nơi hiện nay) là sứ thần của t́nh yêu; và Hồng đơn (chỉ có một lớp cánh hoa) tượng trưng cho sự giản dị.

Nụ hồng chớm nở rạng đông
Hồn linh khẽ động vườn xanh ánh ngời
Mỹ nhân muôn vạn hoa trời
Em là sứ giả muôn đời anh yêu

Sappho of Lesbos, E. 600 BC

Hướng Dương - Sunflower
Kiêu Kỳ
       
Hướng dương hẳn luôn cảm thấy có quyền kiêu căng. v́ lẽ nó là loại hoa cao lớn trồng trong vườn. Hơn nữa, kích thước của Hướng dương không phải là vốn quư duy nhất của nó, mà mọi bộ phận của loại cây này đều hữu dụng theo cách này hay cách khác: hạt Hướng dương để ăn và ép dầu ăn, lá và thân dùng làm thực phẩm gia súc và dệt thành vải, đôi khi c̣n dùng thay thuốc lá.

Đóa hoa to lớn có những cánh vàng bao quanh một dĩa tṛn màu vàng sẫm, nâu hay tím này thuộc về một nhóm có tên khoa học là Helianthus, do hai chữ Hy Lạp gh'ep lại "helios" nghĩa là mặt trời và "anthos" là hoa. Người Incas ở Peru và sau đó là người da đỏ ở Bắc Mỹ từng tôn thờ loài hoa này như một biểu tượng của mặt trời. Có một truyền thuyết cổ xưa kể rằng một nữ thần dưới nước tên là Clytie đă chết v́ trái tim tan vỡ khi bị thần mặt trời Apollo bội phản và nàng hóa thân thành hoa Hướng dương.

Hướng dương c̣n có nhiều tên gọi khác ở các nước, song hay nhất có lẽ là "girasole" ở Ư, ghép bởi hai chữ "girare" là quay và "sol" là mặt trời. Đóa hoa này thực sự quay theo hướng mặt trời trong chuyến hành tŕnh mỗi ngày từ Đông sang Tây.

Hoa đài các qui triều bao ánh sáng
Như trái tim thương nhớ hướng về em
Hoa vẫn thế kiêu kỳ không thay đổi
Văn ngàn năm soi bóng ánh mặt trời

Thomas Moore, 1779-1852

Kim Ngân - Honeysuckle
Sự ngọt ngào thiên phú
  

Chỉ cần hút hử một chút mật từ nhị của một đóa Kim Ngân, bạn sẽ hiểu v́ sao loài hoa này mang ư nghĩa sự ngọt ngào thiên phú, và v́ sao trong tiếng Anh nó được gọi là Honeysuckle (honey: mật, và suckle: cho bú). Hương thơm dịu dàng, ngọt ngào của loài hoa này vẫn làm say đắm các nhà thơ và Shakespeare thường nhắc đến Kim ngân, gọi nó bằng cái tên mộc mạc của đồng quê nước Anh "woodbine". Là một loại cây leo nở rộ những đóa hoa nhỏ màu vàng hoặc hồng, cuống thân mộc của hoa luôn quấn lấy mọi thứ bắt gặp và leo lên theo chiều kim đồng hồ. Trong thảo dược học, nó có tên là Caprifolim, hoa leo nhanh nhẹn như một con dê. Người Pháp gọi kim Ngân (Chevre-feuille) là hoài hoa của lứa đôi, tượng trưng cho t́nh yêu không bao giờ chia ĺa.

Thường mọc ở những nơi hoang dă, Kim ngân - hay có người con gọi là hoa Ngẫn Đồng - biến những nơi đó thành một cảnh trí tuyệt vời đầy hoa tỏa ngát một mùi hương gợi cảm.

Trên đồi thôn nữ hát ca
Dịu dàng trong gió ôn nhu tiếng cười
Em tôi trinh nữ xuân th́
Trên đầu một đóa xanh ngọt ngào

Robert Herrick, 1591-1674

Hoa Lan Chuông - Lily of the Valley
Hạnh phúc t́m lại
          

Không có ǵ lạ khi hoa Lan chuông được coi như tượng trưng của hạnh phúc t́m lại, v́ đây là loài hoa ngọt ngào dễ thương nhất. Người đời nói rằng những đóa hoa trắng xinh xắn h́nh chuông này với mùi thơm thanh khiết đặc biệt không thể lẫn lộn - đă lôi cuốn những con họa mi ra khỏi tổ và dẫn chúng đi gặp người bạn t́nh của ḿnh.

Hoa Lan chuông nở ra trên một loài cây lưu niên thân thảo thường mọc trong bóng mát, mỗi cây chỉ có một cặp nhánh mà mỗi nhánh mang những chiếc lá h́nh thuôn cùng với một chùm hoa nở rộ, tỏa hương rất thơm. Có người c̣n gọi là hoa Linh lan, hay hoa Huệ củ thung lũng. Ở phương Tây, hoa Lan chuông c̣n có tên là May Lily và Our Lady's Tears v́ người đời tin rằng chúng mọc lên từ những giọt nước mắt của Đức Mẹ dưới chân Thánh Giá. Loài hoa này thường được các linh mục cho trồng để trang trí bệ thờ và c̣n được gọi là Ladder to Heaven (thang dẫn lên thiên đường) bởi v́ những bông hoa nhỏ bé h́nh chuông này mọc lên đều đặn từ cuống, giống như những bậc thang.


Hồn tôi đau đớn muộn phiền
Giác quan tê cóng nỗi bàng hoàng xưa
Hay là độc dược cần sa
Đưa hồn xa cơi lăng quên tuyệt mù
Nhẹ nhàng tung cánh phiêu du
Trong niềm diễm phúc ngọt ngào t́nh ta
Xanh rờn thảm cỏ bóng cây
Mùa hè vang tiếng bài ca dâng đời

Ode To A Nightingale, John Keats, 1795-1821

Lan Dạ Hương - Hyacinth
Nỗi buồn
       

Trong huyền thoại Hy LL.ap có một chàng tuổi trẻ đdd.ep tai tên gọi Hyacinthus, ở xứ Sparta. Chàng là bb.an thân của Apollo, vị thần mặt trời vẫn thường ngự trên chiếc chiến xa song mă bay từ trên trời xuống trái đất để chơi đùa với Hyacinthus. Một ngày nọ hai người rủ nhau thi ném dĩa xem ai là người ném xa nhất. Bấy giờ có thần gió Zephyrus đứng coi. Thần gió vốn săn ghen tuông với thần Apollo, v́ ông ta mến thích Hyacinthus và đang t́m dịp trả hận. Khi tới lượt Apollo ném cái dĩa tṛn và nặng, Zephyrus bèn thổi một ngọn gió Tây làm cho cái dĩa chuyển hướng đánh trúng vào đầu Hyachinthus một cú chí tử. Apollo tràn ngập nỗi buồn nên đă khiến những đóa Lan dạ hương mọc lên từ vũng máu của bạn ḿnh. Bằng cách đó, Apollo giữ cho kỷ niệm về người bạn thân thiết sẽ c̣n sống măI.

Cây Lan dạ hương mọc từ củ, có những chiéc lá xẻ răNh và hoa mọc thành chùm màu trắng, vàng, đỏ, xanh da trời, hay đỏ tía.

Em mệch bạc ngàn thu sầu vĩnh biệt
Cơi vô thường chẳng thấy bóng em yêu
Ta đi măi trong cuộc đời vô tận
Hồn nhớ thương hoa tím ngủ trên mồ

JOHN MILTON, 1608-1674

Lâu Đẩu - Columbine
Khờ dại
  

Thi hào Shakespeare vốn rất am tường về ngôn ngữ loài hoa, và trong tác phẩm Hamlet bất hủ, ông đă để cho nàng Ophelia điên rồn khốn khổ ôm những cánh hoa Lâu đẩu trong ṿng tay. Những cánh Lâu đẩu hoàn toàn thi'ch hợp để kết thành bó hoa cho một người t́nh bị bỏ rơi. Riêng những đó màu đỏ lại tượng trưng cho sự lo âu và những đóa màu trắng, sự quả quyết.

Ở vùng thôn quê nước Anh, hoa Lâu đẩu có tên là Granny's Bonnet (mũ trùm đầu của bà), và trên khoa học của nhóm hoa này là Aquilegia, chữ Latinh để chỉ chim ưng, bởi v́ đài hoa có h́nh dáng giống như móng vuốt của loài măNh cầm. Hoa Lâu đẩu c̣n gợi cho một số người h́nh ảnh một đàn chim bồ câu, v́ tên Columbine xuất xứ từ chữ La Tinh "columba", nghĩa là bồ câu. Cũng do sự liên tưởng này mà hoa Lâu đẩu đă trở thành biểu tượng của Thánh thần và đă thường xuyên xuất hiện trong các họa phẩm tôn giáo của các danh họa bậc thầy phương Tây.

Lâu đẩu là loại cây trong vườn nở ra những đóa hoa xinh xắn đa sắc, có cánh mỏng, nhọn.

Ta đă đến trong h́nh hài đơn giản
Hồn nát tan môi vẫn nở tiếng cười
Ta không khóc, ta không c̣n đâu khổ
Trái tim non ai lấy mất đi rồi

HAMLET, WILLIAM SHAKESPEARE, 1564-1616

Loa Kèn - Lily
Trong Trắng
     
Hoa Loa kèn - c̣n được gọi là Huệ tây, Huệ trắng, hay Bách hợp - được coi là biểu tượng của sự trong sạch và là một trong các loài hoa xưa nhất thế giới. Ngày nay ta c̣n t́m thấy những đóa Loa kèn được vẽ trên tường những ṭa lâu đài cổ Hy Lạp, nơi mà Loa Kèn là loại hoa của chính nàng Hera, vợ của thần Zeus (và cũng là nữ thần của phụ nữ và hôn nhân).

Hoa Loa kèn được dâng tặng Đức Mẹ Đồng Trinh để tỏ ḷng kính trọng đối với sự trong sạch của Người, có lẽ đó là lư do v́ sao các cô dâu thích có những cành Loa kèn trong bó hoa ngày cưới, và v́ sao hoa này có mặt trong nhiều buổi lễ hội tôn giáo. C̣n theo thuyền thuyết th́ đóa hoa Loa kèn đều tiên đă mọc lên từ những giọt nước mắt của nàng Eva khi nàng bước chân rời khỏi Vườn địa đàng.

Và trong ánh bạc sáng lung linh
Những đóa Loa kèn trang nghiêm đứng đó
Như những nữ tu trinh bạch, ngọc ngà
Trong bài kinh cầu nguyện
Nhả ra nhữNg làn hơi thanh khiết
Khiến không trung trở nên thánh thiện
Và hương hoa tràn ngập màn đêm, thơm ngát.

VÔ DANH

Lưu Ly - Forget-me -not
T́nh yêu chân thành
   

Hoa Lưu ly thường được gắn với những hoài niệm yêu đương và t́nh yêu chân thành. Ngày xưa có một hiệp sĩ mặc áo giáp sánh bước cùng người yêu dọc theo một ḍng sông. Người đẹp trông thấy mấy cánh hoa đẹp mọc ở ven bờ, chỗ mí nước, và yêu cầu chàng hái dùm cho nàng. Trong lúc cố vươn tay với lấy các cánh hoa, chàng kỵ sĩ trượt ngă xuống ḍng sông đang chảy xiết. Do áo giáp nặng nề, chàng không thể bơi được và bị nước cuốn trôi đi mất. Song trước đó, chàng đă kịp ném những cành hoa cho nàng và kêu lên: Xin đừng quên tôi (forget-me-not). Người thiếu nữ chẳng bao giờ quên chàng và đă đăt tên cho loài hoa nọ là Forget-me-not để tưởng nhớ tới chàng. Người Pháp lại gọi loài hoa này là Myosotis như biểu tượng của nỗi cô đơn.

Hoa Lưu ly có tên khoa học là Myosotis Scorpioides từ ư tưởng cho rằng những chiếc lá của loài hoa này trông tương tự như những cái tai nhỏ nhắn của loài chuột; và toàn bộ cây thuộc họ này được gọi chung là Scorpion Grass (cỏ ḅ cạp) bởi v́ các cụm hoa đều uốn cong lên giống như đuôi con ḅ cạp.

Gương nga xơa lộng yêu kiều
Em tôi dăi lụa trên ṿng khung thêu
Tên em một đóa rêu hồng
Lưu ly thảo mọc trên ḍng cuồng lưu
Tên em một chốn lưu đày

THE KEEP SAKE, SAMUEL TAYLOR COLERIDGE

Ngọc Trâm - Primrose
Thanh xuân
   
Ngọc trâm - hay c̣n gọi là Anh thảo, hoa Báo xuân - là loài hoa dại, mọc nhiều ở các vùng ôn đới, có một đài hoa h́nh ống và năm cánh hoa mùa vàng lợt

Ít có loài hoa nào được chờ đón nồng nhiệt như hoa Ngọc trâm, bởi v́ nó là một trong những dấu hiệu đầu tiên báo tin mùa Xuân đă về. Trong tiếng Anh, hoa này được gọi là Primrose nghĩa là "hoa hồng đầu tiên", mặc dù ngày nay không c̣n ai coi nó là một trong số các loại hoa Hồng. Ở một số nơi thuộc miền Tây nước Anh, loài hoa này c̣n được gọi một cách mộc mạc là Butter-rose, do hoa có màu vàng lợt rất giống với loại bơ được làm trong các trang trại ở đó.

Dưới triều đại Nữ hoàng Victoria, hoa Ngọc trâm trở thành một loại hoa thời thượng và được Thủ tướng Disreali yêu thi'ch nhất. Nữ hoàng Anh thường gửi ông những bó Ngọc trâm hái từ khu vườn Hoàng gia, và khi ông mất, Nữ hoàng đă gửi đến một ṿng hoa lớn kết bằng những đóa Ngọc trâm để bày tỏ mối thiện cảm và sự kính trọng.

Với tâm hồn thi sĩ, Shakespeare đă nh́n những đóa Ngọc trâm bằng cái nh́n ảm đạm - khi trong một bài thơ - ông so sánh loài hoa này với những nàng thiếu nữ chết ở tuổi thanh xuân khi chưa kịp kết hôn, chưa kịp nh́n thấy vầng ánh dương vào lúc rạng rỡ nhất.

Yêu em bạn ngọc bên đời
Hồng xuân xin tặng tim bồi hồi đau
Hoa trinh một nụ tươi cười
Tuổi thơ xanh ngát một đời nhớ thương

THE WINTER'S TALE, WIILLIAM SHAKESPEARE, 1564-1616

Hoa Nhài - Jasmine
 
Nhài vàng - Duyên dáng và tao nhă

yellow jasmine
Nhài trắng - Dễ thương
Nhài Tây Ban Nha - đam mê khoái cảm

Nhài là loại cây mọc thành bụi có hoa thơm màu trắng, vàng, hoặc đỏ, được dùng để chế biến nước hoa hay để ướp trà. Nó thuộc loại cây vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới.

Trong tiếng Anh, hoa Nhài được gọi là Jasmine, xuất xứ tư các chữ Ả Rập: "jas" nghĩa là tuyệt vọng và "min" là lời nói dối. Đây là loài hoa nổi tiếng nhờ hương thơm nồng nàn kỳ lạ, đặc biệt tỏa hương ngào nhạt về đêm. Người Hindu đă gán cho loài hoa này một tên gọi mỹ miều: Ánh trăng của khu rừng nhỏ

Nàng Sara u sầu của ta !
G̣ má nàng dịu dàng nghiêng xuống
vậy là nỗi ngọt ngào êm ái nhất hạ trên cánh tay ta
Ngồi bên túp lều tranh, túp lều tranh mọc đầy
Những đóa Nhài trắng và những đóa hải đào trắng bừng nở
Để cùng gặp những biểu tượng của
T́nh yêu trong trắng.

THE AEOLIAS HARP,1796, SAMUEL TAYLOR COLERIDGE, 1772-1834

Phong Lan - Orchid
Mỹ nhân
  

Cho tới nay, nhiều người trong chúng ta vẫn coi Phong Lan là những đóa hoa kỳ lạ, đến từ những vùng rừng núi xa xăm. Song thực ra Phong lan đang được trồng rất nhiều ở những nhà kính, vườn cây, hay mái hiên nhà. Có cả những cành phong lan mọc hoang trên những cánh đồng xanh hay những hàng cây trong thành phố. Tất cả mọi loài lan đều có những đốm nhiều màu sắc, và đây là nét đẹp đặc trưng rất riêng của loài hoa tuyệt đẹp này. Truyền thuyết dân gian kể rằng đă có những đóa phong lan mọc lên dưới chân Thánh Giá khi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên cây thập tự. Máu ủa Người nhỏ xuống những cánh hoa và chúng măi măi mang trên ḿnh những dấu vết từ đó. Người Pháp gọi Phong lan là biểu tượng cho những cảm xúc thầm lặng, những dấu hiệu đầu tiên về một t́nh yêu nồng cháy.

Phong lan mọc trên đất hoặc trên các cây khác, nhưng chúng không phải thuộc loại kư sinh, v́ chúng tự sản xuất thức ăn bằng sự quang hợp. Ngoài các vết đốm, phong lan c̣n được đặc tả với những cụm phấn hoa giống như sáp, những hạt nhỏ và từng cặp hoa mọc đối xứng. Mỗi đóa hoa thường có ba cánh, trong đó có một cánh h́nh lưỡi với rất nhiều dáng vẻ khác biệt. Loài hoa này luôn luôn làm người ta ngạc nhiên trước sự phong phú về các h́nh dáng khác lạ và màu sắc rực rỡ của chúng. Đây là loài hoa độc đáo, rất được ngưỡng mộ, và đôi khi có giá rất cao.

Tiên nga kiều mị tuyệt vời
Tóc em bay xơa trong chiều hoàng hôn
Nhẹ nah`ng bóng dáng thướt tha
Mắt em hoang dại một màu tịch liêu

LA BELLE DAME SANS MERCI, JOHN KEATS, 1795-1821

Phong Lữ - Geranium
Phong lữ màu sẫm - u sầu
Phong lữ lá sồi - T́nh bạn chân thành
Phong lữ đỏ hoặc hồng - Ưu ái
Phong lữ đỏ tươi - An ủi, vỗ về

   

Phong lữ - hay có người c̣n gọi là Phong lữ thảo, Thiên trúc quỳ - là loại hoa được trồng trong vườn, có những bông hoa màu sắc khác nhau và đầy lôi cuốn, có lá h́nh thùy. Trong tiếng Anh, nó được gọi dưới tên Geranium do xuất xứ từ chữ Hy Lạp "geranos" nghĩa là con sếu, v́ trái của loại cây này trông tương tự như mỏ con chim sếu, và do vậy nó c̣n có biệt danh là Cranesbill (mỏ sếu). Có truyền thuyết cho rằng sỡ dĩ Phong lữ chủ yếu có màu đỏ hoặc hồng, đó là v́ Mohanmmed (đấng tiên tri Ả rập, người sáng lập đạo Hồi) có một lần phơi áo trên một luống hoa Cẩm quỳ. Những bông hoa liền đỏ bừng lên v́ hănh diện và không bao giờ mất đi sắc đỏ đó. Ở vùng Địa Trung Hải, loài hoa này mọc trên những bức tường đá hoặc túa ra từ những chậu bằng đất nung, và màu sắc đỏ hồng của vô số các cánh hoa này dễ tạo ra trong ḷng người tâm trạng tưng bừng của những ngày lễ hội.

Em tôi kiều lệ mất rồi
Hoa phong lữ thảo anh bùi ngùi trao
Bến sông em đă xa vời
Đóa hoa hiu quạnh bên trời nhớ thương

ROBERT BOWNING, 1812-1889

Hoa Súng - Water lily
Tinh khiết
     

Trong thực vật học, hoa Súng được xếp vào bộ Nymphaeales, xuất xứ từ chữ "numpho" để chỉ những nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, đây là những nữ thần trẻ trung, xinh đẹp sống ở sông suối, ao hồ. Người đời tin rằng ở những nơi mà các nữ thần đến chơi đùa th́ đều có mọc lên những bông hoa Súng. Chính vẻ thanh tú và sắc trắng tinh khôi của loài hoa này đă đem lại ư nghĩa tượng trưng cho sụ trong sạch của tâm hồn. Ngoài ra, loài hoa này thường chỉ nở vào lúc chớm chiều ta, giống như các buổi nô đùa ngắn ngủi của các nữ thần.

Bông Súng là loài cây mọc trên nước, có hai lá mầm mọc từ phôi, phát triển thành những phiến lá rộng, phẳng, nổi trên mặt nước. Ngoài màu trắng chủ đạo, c̣n có nhiều loại hoa Súng có những màu sắc sặc sỡ khác nhau, tô điểm cho vẻ đẹp của những mặt hồ tĩnh lặng.

Như bông súng gói trọn vẻ dịu ngọt của nó.
Và e ấp nép vào ḷng hồ.
Cũng vậy , em yêu ơi, hăy nép vào ḷng anh.
Và tan biến trong anh.

Alfred, Lord Tennyson, 1809-1892

Thu Mẫu Đơn - Anemone
Bơ vơ


Có cùng họ với hoa Mao hương vàng, song trái ngược với người anh em họ vui tính của minh, Thu mẫu đơn là một c'anh hoa nhỏ bé buồn rầu. Loài hoa h́nh ngôi sao trắng, đỏ hoặc tía này con được gọi là hoa GIó, bởi v́ người Hy Lạp cổ xưa tin rằng chúng chỉ nở ra khi có gió thổi, và do vậy họ đă đặt tên loài hoa này theo tên thần gió Anemos.

Người dân thôn dă ở Anh c̣n gọi hoa này là Candlemascaps (mũ Candlemas) v́ chúng nở ra vào ngày 2 tháng Hai trong dịp lễ Candlemass vinh danh Đức Mẹ Đồng Trinh. Những tên gọi khác của Thu mẫu đơn là Drops-of-snow (giọt tuyết), Granny's Nightcap (mũ đêm của Bà), Chimney smock (áo choàng của ống khói), và nhất là White Wood Anemone (Thu mẫu đơn trắng trong rừng) v́ thường mọc trong những khoảnh rừng cô quạnh với vẽ đẹp nổi bật của sự hoang dại rất đặc trưng.

Một thần thoại khác kể rằng: Venus yêu Adonis, con trai của vua đảo Chypre. V́ chàng, Venus quên cả núi Olympe, quên cả sắc đẹp của ḿnh. Dưới trời nắng như thiêu hay trong mưa to gió lớn, nàng đều đi theo Adonis để săn hươu nai. Thần Chiến Tranh Acres, chồng nàng, biết chuyện, ghen tức, hóa thành một con lợn rừng, nhân lúc vắng mặt Venus, đă đâm bổ vào người chàng. Adonis chết. Venus đau khổ vô cùng. Nàng đến chân núi t́m xác người yêu. Và khi nữ thần của t́nh yêu và sắc đep Venus khóc thương Adonis trong rừng, những cánh hoa Thu mẫu đơn đă mọc lên ở nơi mà nước mắt của nàng nhỏ xuống trên những giọt máu của chàng.

Có lẽ đó là lư do tại sao cuối cùng, Thu mẫu đơn mang ư nghĩa của sự bơ vơ.

Ở nước ta, loài hoa này c̣n được gọi là Cỏ - chân ngỗng, hoặc Bạch -đầu - ông.

Đóa hoa phong nguyệt gọi mời
Em e ấp đó anh bồi hồi đây
Phút giây cầu mộng đêm hè
Ngh́n trùng xa cách hoa rơi bẽ bàng

On observing a blossom on the first of February 1796, Samuel Taylor Coleridge, 1772-1834.