|
chừng
như đứt hơi. Bên chiếc giường trẻ con - đồ vật mới trong căn nhà
nhỏ của Lông-gren - anh chỉ thấy bà hàng xóm với dáng vẻ đầy xúc
động.
- Đã ba tháng rồi tôi phải chăm sóc nó đấy, - bà hàng xóm nói, -
anh hãy nhìn con gái anh đi!
Lông-gren lặng người, cúi xuống đứa trẻ tám tháng đang chăm chăm
nhìn bộ râu dài của anh, rồi anh ngồi xuống, đầu cúi, tay vân vê
bộ râu. Râu anh ướt đầm vì mưa.
- Mê-ri chết bao giờ hở bác? - anh hỏi.
Người đàn bà kể lại câu chuyện buồn thảm, chốc chốc dừng lại
nựng đứa bé và quả quyết rằng Mê-ri đã được lên thiên đường. Khi
Lông-gren biết rõ câu chuyện thì thiên đường đối với anh chẳng
sáng sủa hơn nhà chứa củi là bao nhiêu, và anh nghĩ rằng nếu như
bây giờ có cả vợ anh thì ánh lửa của chiếc đèn nhỏ có thể là một
niềm vui không gì thay thế được đối với người phụ nữ đã đi vào
xứ sở huyền bí.
Chừng ba tháng trước, người mẹ trẻ gặp phải chuyện không may.
Hơn nửa số tiền Lông-gren để lại, Mê-ri đã tiêu tốn vào việc
chữa chạy sau lần đẻ khó, vào việc chăm sóc sức khoẻ cho đứa trẻ
sơ sinh. Thêm nữa, Mê-ri lại đánh mất một số tiền tuy không
nhiều nhưng rất cần cho cuộc sống của hai mẹ con. Hoàn cảnh khó
khăn đó đã buộc Mê-ri phải đến nhà Mê-néc vay tiền. Mê-néc là
chủ quán rượu, có một cửa hàng tạp hoá nhỏ. Y được coi là kẻ
giàu có.
Mê-ri đến nhà y vào lúc sáu giờ tối. Gần bảy giờ, bà hàng xóm
gặp chị trên đường đến thị trấn Li-xơ. Mê-ri vừa khóc vừa buồn
bã kể rằng chị phải đi lên phố để cầm chiếc nhẫn cưới. Chị nói
thêm rằng Mê-néc đồng ý đưa tiền cho chị, nhưng đòi chị phải yêu
hắn. Mê-ri đành về không.
- Nhà cháu không còn gì ăn, bác ạ, - chị nói với bà hàng xóm. -
Cháu phải đi lên phố cố kiếm về ít tiền, rồi hai mẹ con gắng lần
hồi cho đến khi nhà cháu về.
Tối hôm đó trời vừa rét vừa có gió thổi, bà hàng xóm đã không
ngăn được Mê-ri đi lên phố vào ban đêm. “Cháu sẽ bị ướt, Mê-ri
ạ, trời đang lất phất mưa, cứ cái điệu gió này thì trời sắp mưa
to đấy!”
Từ làng ven biển lên thị trấn Li-xơ cả đi lẫn về nhanh cũng mất
ít nhất ba giờ, nhưng Mê-ri không nghe theo lời khuyên của bà
hàng xóm. “Thôi, cháu không muốn quấy quả các bác nữa, - Mê-ri
nói, - gần như nhà nào cháu cũng từng vay bánh mì, chè hay bột.
Đem cầm chiếc nhẫn này là xong thôi bác ạ”. Mê-ri đi lên phố về,
đến hôm sau thì lên cơn sốt cao, mê sảng. Trời đêm lạnh giá đã
làm chị bị viêm phổi nặng - theo lời ông bác sĩ trên phố được bà
già tốt bụng mời về cho biết. Một tuần sau, chiếc giường đôi của
Lông-gren đã trống không, bà hàng xóm đã dọn sang nhà anh ở để
chăm sóc trẻ. Đối với một người đàn bà goá bụa cô đơn như bà thì
việc đó không khó. “Thêm nữa - bà nói tiếp, - không có đứa bé ấy
thì cũng buồn”.
Lông-gren đi lên phố, thôi việc, từ biệt bạn bè rồi trở về nhà
nuôi nấng bé A-xôn. Khi đứa bé đi chưa vững thì bà hàng xóm còn
ở lại trong nhà Lông-gren, thay thế người mẹ quá cố chăm sóc nó.
Nhưng khi A-xôn đi vững, bước qua được ngưỡng của thì Lông-gren
quyết định sẽ tự mình nuôi dạy đứa trẻ. Anh cám ơn bà hàng xóm
đã tận tình giúp đỡ anh. Rồi từ đấy, anh sống cuộc đời cô đơn
của người goá vợ, tập trung tất cả ý nghĩ, hi vọng, tình cảm và
kỷ niệm của mình vào đứa trẻ.
Mười năm sống nay đây mai đó chỉ đem lại cho anh một số tiền rất
nhỏ. Anh bắt đầu làm việc. ít lâu sau, trong những cửa hiệu trên
phố đã thấy bày bán những đồ chơi do chính tay anh khéo léo làm
ra - những chiếc thuyền nhỏ, xuồng máy, thuyền buồm một boong,
hai boong, tàu thuỷ, tàu tuần dương, tóm lại tất cả những gì anh
đã gần gũi, những gì trong khi làm việc đã phần nào thay thế cho
anh cuộc sống ồn ào ngoài cảng, thay thế được lao động đầy thơ
mộng của những chuyến đi biển. Bằng công việc đó, Lông-gren đã
kiếm tiền để hai bố con có thể sống một cách tằn tiện. Vốn là
người ít giao du, sau khi vợ mất, Lông-gren lại càng trở nên kín
đáo, ít cởi mở hơn. Vào những ngày lễ, thỉnh thoảng người ta
thấy anh trong quán rượu, nhưng anh không bao giờ ngồi mà chỉ
vội vàng uống một cốc rượu ngay tại quầy rồi ra về, đáp lại lời
thăm hỏi của mọi người một cách vắn tắt: “Xin chào”, “Tôi đi
nhé”, Vâng”, “Cũng thường thôi”. Anh không thích tiếp khách. Khi
có khách, anh khéo léo tỏ ý muốn họ về bằng những lời nói bóng
gió xa xôi hay những cớ do anh tưởng tượng ra. Những lúc ấy,
khách chỉ còn cách là nghĩ ra một lý do nào đó để cáo từ. Phần
anh cũng không thăm ai, vậy là giữa anh và dân làng có cái gì đó
lạnh lùng ngăn cách. Nếu như việc làm đồ chơi của anh phụ thuộc
nhiều vào công việc của dân làng thì quan hệ như thế có thể đem
lại cho anh nhiều khó khăn. Thức ăn dự trữ và các thứ hàng cần
thiết anh mua trên thị trấn - Mê néc không thể khoe khoang được
rằng Lông-gren đã mua hàng ở cửa hiệu của y, dù chỉ là một bao
diêm. Anh tự mình làm mọi việc trong nhà và tỏ ra rất chịu khó
nuôi dạy con gái, một việc vốn phức tạp, không phải của đàn ông.
A-xôn đã lên năm tuổi. Khi em ngồi trên đùi Lông - gren, chăm
chú mân mê chiếc cúc áo gi-lê hay ngộ nghĩnh hát những bài ca
thuỷ thủ, Lông - gren thường dịu dàng cười với con. Qua giọng
hát con trẻ, những bài hát ấy gợi nhớ đến con gấu thắt đai xanh
đang vụng về nhảy múa. Vào thời gian đó có một chuyện xảy ra bao
trùm bóng đen lên cả hai bố con.
Dạo ấy là đầu mùa xuân, thời tiết còn khắc nghiệt như mùa đông,
nhưng theo một kiểu khác. Khoảng ba tuần liền, gió bấc từ phía
biển thổi mạnh về miền đất lạnh.
Thuyền đánh cá được kéo lên bờ, xếp thành dãy dài trên bãi cát
trắng tựa như vây lưng những con cá khổng lồ. Không ai dám đi
biển lúc tiết trời như thế. Trên con đường duy nhất ở làng chẳng
mấy khi gặp người nào rời khỏi nhà. Cơn lốc lạnh lẽo từ những
ngọn đồi ven biển thổi thốc vào chân trời trống trải, biến không
trung thành một trò tra tấn khắc nghiệt. Suốt từ sáng đến tối,
khói toả trên những mái nhà dốc đứng trong làng Ca-péc-na.
Nhưng những ngày gió bấc ấy lại làm Lông-gren thích ra khỏi căn
nhà nhỏ ấm cúng hơn là vào những ngày mặt trời toả ánh vàng
xuống mặt biển và làng Ca-péc-na. Lông-gren đi đến chiếc cầu nhỏ
dựng trên những hàng cọc dài, rồi đứng ở tận cuối cầu mà ngậm
tẩu hút thuốc dưới trời gió rét. Anh nhìn những con sóng bạc đầu
nối tiếp nhau đang dữ dội tràn vào bờ tung bọt trắng xoá, những
đợt sóng chạy ầm ầm lan khắp vùng chân trời dông bão đen ngòm
hệt như một đàn quái vật hung dữ đang lồng lộn trong cơn tuyệt
vọng tìm đến một niềm an ủi xa xôi. Những tiếng ầm ào, từng loạt
cột nước dựng lên và cả những luồng gió tưởng như thấy được đang
vằm nát xung quanh từng đợt một thật đều, thật mạnh, làm dịu lại
tâm hồn đau đớn của Lông-gren, giảm đi nỗi buồn da diết, như đưa
anh vào giấc ngủ thật say.
Có lần, vào một trong những ngày ấy, đứa con trai mười hai tuổi
của Mê-néc tên là Khin trông thấy chiếc thuyền của bố buộc dưới
cầu bị sóng xô vào chân cầu chực làm vỡ mạn thuyền, bèn về nói
lại với bố. Trước lúc cơn bão kéo đến, Mê-néc quên kéo thuyền
lên bờ cát. Y lập tức chạy ra ngoài biển và nhìn thấy Lông-gren
đang đứng hút thuốc tận cuối cầu, lưng quay về phía y. Ngoài bờ
biển, ngoài họ ra, không còn ai. Mê-néc ra đến giữa cầu, bước
xuống con nước như đang sôi sục và tháo dây buộc thuyền. Y đứng
trên thuyền, tay lần những chiếc cọc đỡ cầu và đưa thuyền vào
bờ. Y không mang theo mái chèo. Bỗng y lỡ đà không kịp bíu vào
cái cọc tiếp theo. Cùng lúc đó, một cơn gió mạnh ập đến quay
ngược mũi thuyền ra phía biển. Bây giờ thì dù có vươn cả người,
y cũng không thể với tới chiếc cọc gần nhất nữa. Sóng gió chao
đảo chiếc thuyền, cuốn nó vào không gian chết chóc. Thấy thế,
Mê-néc định nhảy xuống nước để bơi vào bờ, nhưng quyết định của
y đã quá muộn, bởi vì con thuyền đã trôi ra một quãng xa ngoài
phía cuối cầu, nơi nước sâu sóng to chắc chắn sẽ dìm y chết.
Khoảng cách giữa Lông-gren và Mê-néc đang bị cuốn ra ngoài xa
lúc ấy chỉ chừng mười xa-giên. Có thể cứu được Mê-néc, bởi vì
ngay chỗ Lông-gren đứng có một cuộn dây to treo ở đấy. Người ta
để sẵn cuộn dây ở đó để phòng khi thuyền về bến gặp sóng gió khó
vào bờ thì ném nó xuống thuyền.
- Lông-gren! - Mê-néc kinh hoàng kêu lên. - Sao anh cứ đứng yên
như phỗng thế kia? Ta đang bị cuốn đi đây này! Ném dây xuống đi!
Lông-gren im lặng, thản nhiên nhìn Mê-néc đang luống cuống trong
thuyền. Chỉ có khói thuốc lá toả ra nhiều hơn trên chiếc tẩu của
anh. Anh chậm rãi bỏ chiếc tẩu, như để nhìn rõ hơn điều đang xảy
ra.
- Lông-gren! - Mê-néc kêu cứu. - Nghe thấy ta gọi chứ? Ta sắp
chết đến nơi rồi, cứu ta với!
Nhưng Lông-gren không nói với hắn một lời nào, dường như anh
không nghe thấy tiếng gào tuyệt vọng của hắn. Chừng nào chiếc
thuyền chưa bị cuốn ra xa đến mức tiếng kêu cứu của Mê-néc không
còn nghe thấy nữa, chừng ấy Lông-gren còn đứng yên không nhúc
nhích. Mê-néc khóc rống lên vì sợ, van nài Lông-gren chạy về báo
với dân chài, nhờ họ ra cứu, hứa cho tiền, rồi lại đe doạ, chửi
rủa, nhưng Lông-gren chỉ bước ra thêm mấy bước đến tận sát mép
cầu để không mất hút con thuyền đang bị sóng dồn lên dập xuống.
- Lông-gren, - anh nghe thấy tiếng gọi mơ hồ như người trong nhà
nghe người gọi từ trên mái, - cứu tôi với!
Lúc ấy, Lông-gren hít thật sâu rồi gào lên thật to cho không một
lời nào của anh bị mất hút đi trong tiếng gió:
- Vợ tao cũng đã từng kêu cứu với mày như thế! Hãy nhớ lại điều
đó đi, chừng nào mày còn sống, đừng quên, Mê-néc ạ!
Lúc đó tiếng gào im bặt, và Lông-gren trở về nhà. Khi tỉnh dậy,
A-xôn thấy bố đang ngồi bên ngọn đèn gần tắt, vẻ mặt hết sức đăm
chiêu. Nghe thấy tiếng con gái gọi, anh đến bên con, ôm chặt con
mà hôn rồi kéo chăn đắp lại cho con.
- Ngủ đi, con yêu của bố! - anh nói. - Còn lâu mới sáng, con ạ.
- Bố làm gì đấy?
- Bố vừa làm xong một đồ chơi xấu. Ngủ đi, A-xôn!
Ngày hôm sau, dân làng Ca-péc-na xôn xao bàn tán về chuyện
Mê-néc bị mất tích. Đến ngày thứ sáu thì người ta đem Mê-néc về
làng, sống dở chết dở, vẻ mặt đầy ác độc. Chuyện y kể chẳng mấy
chốc lan truyền đi khắp các làng lân cận. Mê-néc lênh đênh trên
sóng biển cho đến chiều. Y đã phải vật lộn với sóng nước lúc nào
cũng chực dìm y xuống đáy biển, cả người va đập liên tiếp vào
mạn thuyền và lòng thuyền mãi cho đến khi được chiếc tàu
Lu-crê-xi-a đi Kát-xét vớt lên. Bị cảm lạnh và phải sống qua
những giờ phút kinh hãi cực độ, y đã không sống thêm được bao
lâu. Chưa đầy hai ngày đêm sau y chết, trước khi chết y cầu mong
cho Lông-gren gặp phải mọi tai hoa. có thể có trên đời và trong
tưởng tượng. Câu chuyện về việc Lông-gren chứng kiến tai hoa.
của Mê-néc mà không cứu giúp được tô vẽ thêm bằng hơi thở nặng
nề và rền rĩ của Mê-néc đã làm dân làng Ca-péc-na kinh ngạc. Cả
làng chẳng còn mấy ai nhớ đến nỗi đau khổ nặng nề mà Lông-gren
đã phải chịu đựng, và cũng chẳng còn mấy ai hết sức đau khổ về
Mê-ri như Lông-gren đã đau khổ cho đến hết đời mình. Dân làng
cảm thấy kinh sợ, khó hiểu về thái độ im lặng của Lông-gren lúc
đó. Cho đến khi nói những lời cuối cùng cho Mê-néc Lông-gren đã
đứng lặng yên, không nhúc nhích, nghiêm nghị và trầm lặng như
một người phán xét biểu lộ sự khinh bỉ cực độ đối với Mê-néc. Sự
khinh bỉ ấy còn đáng sợ hơn cả lòng căm thù, và điều này mọi
người đều cảm thấy. Nếu anh hét lên, vung tay múa chân hoan hỉ
lộ rõ sự khoái trá khi thấy kẻ thù gặp nạn, hoặc là bằng cách
nào khác tỏ rõ sự đắc thắng của mình khi Mê-néc đang tuyệt vọng,
thì dân làng đã có thể hiểu được anh. Nhưng anh lại hành động
khác với họ, anh đã cư xử thật lạ lùng, thật đáng kinh ngạc, và
bằng cách đó anh đã đứng cao hơn những người khác. Nghĩa là anh
đã làm một điều không thể tha thứ được. Từ lúc ấy, không ai chào
anh, không ai bắt tay hay nhìn anh một cách vui vẻ hồ hởi nữa.
Anh hoàn toàn xa cách với mọi chuyện trong làng. Trẻ con trông
thấy anh chạy theo đồng thanh hô: “Lông-gren dìm chết Mê-néc!”.
Anh không thèm để ý đến những chuyện ấy. Hình như anh cũng không
nhận thấy rằng khi anh xuất hiện trong quán rượu hay ngoài bờ
biển thì dân chài ở đấy đều im bặt, tránh xa anh như tránh người
mắc bệnh dịch hạch. Chuyện xảy ra với Mê-néc đã khoét sâu thêm
sự ngăn cách gữa Lông-gren với dân làng, trước kia còn chưa sâu
sắc lắm. Bây giờ khi sự ngăn cách đó trở nên sâu sắc thì hai bên
đều thấy căm ghét nhau và điều này đã ảnh hưởng đến cả A-xôn.
Cô bé đã lớn lên mà không có bạn bè. Hai ba chục đứa trẻ cùng
lứa tuổi ở làng Ca-péc-na, khác nào chiếc bọt biển thấm nước, đã
nhiễm phải định kiến thô bạo của gia đình mà cơ sở của nó là uy
tín tuyệt đối của cha mẹ. Bọn chúng nhanh chóng tiếp nhận điều
đó, như mọi đứa trẻ trên thế giới, và tẩy chay cô bé A-xôn, loại
bỏ em ra khỏi môi trường của chúng. Điều này đã xảy ra một cách
dần dà, bằng đe nẹt, doa. dẫm của người lớn. Họ cấm đoán bọn trẻ
chơi với A-xôn, thêu dệt những chuyện méo mó để rồi cuối cùng,
với đầu óc non nớt của chúng, bọn trẻ tự nhiên thấy sợ hãi trước
gia đình người thuỷ thủ.
Thêm vào đấy, lối sống cách biệt của Lông-gren làm cho mọi người
càng dễ bề đơm đặt vu khống. Người ta nói rằng thuỷ thủ
Lông-gren đã từng giết người ở đâu đó, và vì thế không được nhận
làm trên tàu nữa, còn bản thân anh bây giờ trở nên cô độc u sầu
vì “bị lương tâm cắn rứt”. Bọn trẻ xua đuổi A-xôn. Nếu cô bé lân
la đến chơi với chúng, chúng ném đất vào em, trêu chọc em rằng
bố em đã từng ăn thịt người và bây giờ đang làm bạc gia?. Lần
nào A-xôn định đến gần bọn trẻ, em cũng bị cào cấu, đánh đập
thâm tím, em khóc lóc cay đắng và chịu đựng mọi biểu hiện khác
của dư luận xã hội, cuối cùng em cũng không còn cảm thấy bị nhục
mạ nữa. Nhưng đôi khi em vẫn hỏi bố em: “Bố ơi, sao họ không yêu
bố con mình?”- Lông-gren đáp: “Này, A-xôn, lẽ nào họ biết yêu?
Cần phải biết yêu, nhưng điều này thì họ không làm được”. - “Thế
nào là biết yêu hở bố ?” -”Là thế này, con ạ!”- Anh liền bế con
gái lên và hôn thật lâu vào đôi mắt đượm buồn của con, đôi mắt
đang lim dim lại vì được âu yếm.
Những phút chơi đùa thích thú nhất của A-xôn là vào buổi tối hay
ngày lễ, khi bố em thu dọn hộp đựng hồ dán, đồ lề, các công việc
đang dở dang sang một bên, cởi chiếc tạp dề ra, ngậm tẩu thuốc
và miệng rồi bế em ngồi lên đùi mình. Những lúc ấy, A-xôn ngồi
trong vòng tay nâng niu của bố, vừa sờ mó những thứ đồ chơi khác
nhau vừa hỏi bố về công dụng của từng thứ đồ vật ấy. Lông-gren
lại có dịp kể những chuyện thật ly kỳ về cuộc sống và con người.
Do chỗ trước đây Lông-gren đã sống một cuộc đời nay đây mai đó,
câu chuyện anh kể thường chứa đầy những sự kiện tình cờ, lạ kỳ
và đáng kinh ngạc. Lông-gren nói với con tên những loại dây dợ,
buồm, những vật dụng trên tàu, rồi dần dần say sưa chuyển từ lời
giải thích sang kể những tình huống khác nhau trong đó vai trò
chính là cái thời để thả và cất neo, bánh lái, cột buồm hay một
loại thuyền nào đấy, và từ những minh họa cụ thể đó anh chuyển
sang kể lại những cảnh đi biển đầy phóng khoáng, kết hợp chuyện
mê tín với chuyện thật, rồi chuyện thật với các hình ảnh do anh
hư cấu ra. Trong chuyện đó mới xuất hiện nào là con mèo cọp báo
hiệu đắm tàu, nào là con cá bay biết nói, nếu không nghe lệnh
của nó sẽ đi lạc đường, nào là những điềm báo, những hồn ma,
nàng tiên cá, những tên cướp biển, nói tóm lại là tất cả những
chuyện hoang đường mà các thuỷ thủ đã kể cho nhau nghe trong
quán rượu quen thuộc hay trên tàu những khi gió lặng. Lông-gren
còn kể về những lần đắm tàu, về những người lạc trên đảo lạ đã
trở thành man rợ đến nỗi quên cả tiếng nói, về những kho báu bí
mật, về những người tù khổ sai nổi loạn và nhiều chuyện khác.
A-xôn nghe bố kể có lẽ còn chăm chú hơn khi người ta nghe ông
Cô-lông kể lần đầu về chuyện tìm ra châu Mỹ. “Bố kể nữa đi”, -
bé A-xôn nói với bố khi Lông-gren ngừng kể, vẻ mặt tư lự, rồi em
thiếp đi trên ngực bố trong giấc ngủ đầy những giấc mơ kỳ lạ.
A-xôn cũng rất mừng mỗi lần người buôn đồ chơi trên thị trấn về
nhà Lông-gren mua hàng. Để lấy lòng Lông-gren và để mua được rẻ
hơn, người lái buôn thường đem quà cho A-xôn, khi thì vài quả
táo, cái bánh ngọt, khi thì nắm hạt dẻ. Thường thì Lông-gren chỉ
nói đúng giá tiền thứ đồ chơi mình làm ra vì anh không thích thú
gì chuyện cò kè mua bán. Nhưng lần nào người lái buôn cũng đòi
bớt. “ồ, sao lại thế ông, - Lông-gren nói, - tôi phải ngồi cả
tuần mới làm được chiếc thuyền buồm đấy. Chiếc thuyền này dài
năm véc- sốc. Ông cứ nhìn xem, chắc chắn lắm đấy, phần chìm lại
chất lượng tốt nữa. Có thể chở được mười lăm người trong mọi
thời tiết đấy.” Kết cục là tiếng đứa con gái đang khẽ hát ru quả
táo đã làm Lông-gren mềm lòng, anh hết muốn tranh cãi với người
lái buôn, và y cuối cùng đã mua được rẻ. Y cho những đồ chơi
chắc chắn, tuyệt đẹp ấy vào làn rồi ra về, tủm tỉm cười.
Mọi việc trong nhà, Lông-gren tự tay làm hết: bổ củi, xách nước,
đốt lò, nấu ăn, giặt giũ, là quần áo, dọn dẹp mọi thứ. Tuy vậy,
Lông-gren vẫn dành thời gian để kiếm tiền. Khi A-xôn lên tám
tuổi, anh đã dạy con đọc, viết. Thỉnh thoảng anh đưa con lên thị
trấn. Sau đó đôi lần anh còn để con đi đến đó một mình mỗi khi
cần phải vay tạm ít tiền ngoài cửa hiệu, hay đi đưa hàng. Điều
này cũng ít xảy ra dù thị trấn Li-xơ chỉ cách làng Ca-péc-na vẻn
vẹn bốn dặm. Nhưng vì đường đi phải qua một khu rừng thì thiếu
gì cái làm trẻ con sợ sệt, chưa nói đến những nguy hiểm tuy cũng
khó xảy ra vì ở gần phố xá nhưng không phải là không cần tính
đến. Cho nên chỉ vào những buổi sáng thật đẹp trời, khi hai bên
đường chan hoà ánh nắng, hoa cỏ tốt tươi, bầu trời vắng lặng,
A-xôn không còn tâm trí đâu mà tưởng tượng đến những điều đáng
sợ nữa, những lúc ấy Lông-gren mới cho con gái đi một mình lên
phố.
Có lần, trên đường đi lên phố, cô bé A-xôn ngồi lại nghỉ và lấy
miếng bánh rán để trong làn ra ăn lót dạ buổi sáng. Vừa ăn,
A-xôn vừa ngắm nghía các đồ chơi mang theo: cô bé thấy vài ba
thứ đồ chơi lạ, những thứ này cha cô đã làm về khuya. Trong số
đó có một chiếc thuyền đua nhỏ sơn màu trắng với những cánh buồm
đỏ thắm làm bằng những mảnh lụa mà Lông-gren chuyên dùng để
trang hoàng cho các căn buồng trên tàu thuỷ lớn - thứ đồ chơi
dành cho trẻ con các gia đình lắm tiền. Chắc là sau khi đẽo xong
chiếc thuyền đua màu trắng, Lông-gren không biết lấy gì để làm
buồm và đã tình cờ ghép vào đấy những mảnh lụa màu đỏ thắm.
A-xôn mừng quá. Màu lụa thắm của những cánh buồm bé xíu đỏ rực
trên tay A-xôn, dường như cô bé đang nâng niu một ngọn lửa.
Đường lên phố đi qua một chiếc cầu nhỏ ghép bằng gỗ thô, dưới
cầu là con suối len lỏi trong cánh rừng. “Mình thử thả xuống
nước cho nó bơi một chút xem sao, - A-xôn nghĩ, - nó có bị ướt
thì mình lại lau khô được ngay thôi mà”. Cô bé đi sang bên kia
cầu rồi men theo dòng suối, rẽ vào cánh rừng, khẽ khàng đặt
chiếc thuyền mà cô yêu thích xuống mặt nước sát bên bờ. Cánh
buồm in hình thắm đỏ trong làn nước trong veo, và tia sáng mặt
trời chiếu qua lần vải lụa lung linh một màu hồng trên những hòn
đá cuội trắng muốt hiện ra dưới đáy. “Ông Thuyền trưởng ơi, ông
từ đâu đến đấy?” - A-xôn khẽ hỏi một người tưởng tượng bằng
giọng nghiêm trang, rồi cô bé tự đóng luôn vai Thuyền trưởng trả
lời: “Tôi đi từ... đi từ... Trung Hoa tới”. “Thế ông chở cái gì
thế?”-”Chở cái gì tôi chả nói đâu”. “Chà, ông bướng thật, ông
Thuyền trưởng ạ! Thế thì tôi lại bỏ ông vào làn vậy”. Ngay khi
anh chàng Thuyền trưởng tưởng tượng kia vừa định ngoan ngoãn trả
lời rằng mình chỉ nói đùa thôi và anh ta sắp sửa lấy ra cho xem
một con voi thì bất ngờ dòng nước chảy ven bờ từ từ làm quay mũi
thuyền ra phía giữa dòng, và con thuyền, y như thật, lao nhanh
theo dòng suối. Cảnh tượng trước mắt cô bé đột nhiên thay đổi:
con suối đối với cô bé bỗng trở thành một dòng sông rộng, chiếc
thuyền nhỏ hiện ra như một chiếc tàu lớn đã ra khơi xa, còn cô
bé chút nữa thì ngã xuống nước giơ tay ra lấy thuyền. “Chắc là
Thuyền trưởng sợ lắm”, - cô bé thoáng nghĩ vậy và chạy theo
chiếc thuyền con đang lao đi vun vút, cô hy vọng đến một chỗ nào
đó, con truyền sẽ mắc lại bên bờ. Cô bé vừa chạy vừa xách theo
chiếc làn không nặng lắm nhưng cồng kềnh, miệng lẩm bẩm: “Trời
ơi! Sao mình lại không may thế nhỉ!... ”. Cô bé cố không rời mắt
khỏi con thuyền buồm xinh xắn đang lướt nhẹ trên dòng suối, chốc
chốc lại vấp ngã, đứng vội lên, rồi lại chạy theo.
Chưa bao giờ A-xôn vào sâu trong rừng đến thế. Cô bé bị thu hút
tất cả ý muốn nôn nóng lấy lại được chiếc thuyền, không còn nhìn
thấy gì khác nữa. Dọc bờ suối cô bé chạy là vô số những vật
chướng ngại, lẽ ra phải để ý tới. Những thân cây đổ bám đầy rêu,
những cái hố, những cây dương xỉ, cây tầm xuân, cây nhài, cây dẻ
mọc sum suê làm vướng chân A-xôn. Dần dần cô bé thấm mệt, mỗi
lúc lại phải dừng lại nhiều hơn để thở hay để gạt mạng nhện bám
lên mặt. Đến một quãng rộng, lau sậy mọc đầy hai bên bờ thì
A-xôn không còn nhìn thấy cánh buồm đỏ thắm nữa. Nhưng qua một
khúc quanh, lúc cô bé thoáng nhìn ra chung quanh và cả khu rừng
rậm rì với từng cột ánh sáng đổ dài qua tán lá xen lẫn những
khoảng tối sẫm âm u làm cô vô cùng kinh ngạc. Một chút sợ hãi
thoáng qua nhưng rồi nghĩ đến chiếc thuyền, cô bé lại nặng nề
thở, ráng hết sức chạy tiếp.
Cuộc chạy đuổi vô vọng và lo âu ấy kéo dài gần một tiếng đồng
hồ, cho đến khi cô ngạc nhiên và khoan khoái thấy phía trước mặt
cây cối giãn ra, để lộ một vùng biển màu xanh biếc cùng với
những áng mây và bờ cát vàng. Cô bé chạy đi tới đó, mệt rã rời
gần như ngã khuỵu xuống. Nơi đây là cửa dòng suối; nước toả ra
không rộng và nông, có thể nhìn thấy rõ những hòn đá màu xanh
nằm dưới đáy. Tới đây con suối mất hút trong làn sóng biển tràn
đến. Từ trên bờ cát thoai thoải nham nhở những rễ cây, A-xôn
nhìn thấy bên suối, trên một tảng đá to bằng phẳng, có một người
ngồi quay lưng lại phía cô, tay cầm chiếc thuyền nhỏ. Người đó
ngắm nghía kỹ càng chiếc thuyền với vẻ tò mò như một con voi vừa
bắt được con bướm. Cô bé hơi yên lòng một chút vì thấy chiếc
thuyền vẫn còn nguyên vẹn. Cô men theo bờ cát đi gần lại phía
người lạ mặt cặp mắt chăm chú dò xét chờ người kia ngẩng đầu
lên. Nhưng người lạ mặt say sưa ngắm vật bất ngờ gặp giữa rừng,
đến mức cô bé có thể quan sát kỹ càng người ấy suốt từ đầu đến
chân và nhận ra rằng từ bé đến giờ trong đời cô chưa từng gặp
một ai giống như vậy ca?.
Nhưng trước mắt cô bé không phải ai xa lạ, mà chính là ông già
Ê-gơn, một người đi bộ khắp đó đây để sưu tầm những bài dân ca,
những câu chuyện cổ tích, thần thoại. Những món tóc xoăn dài bạc
trắng lộ ra ngoài chiếc mũ rơm, chiếc áo sơ mi màu xám bỏ vào
trong quần màu xanh và đôi ủng cao cổ đem lại cho ông dáng dấp
một người đi săn, chiếc cổ áo màu trắng, chiếc ca- vát, cái thắt
lưng to bản có gắn miếng kim loại mạ bạc, chiếc gậy chống và cái
xắc có khoá mạ kền tất cả những thứ ấy cho thấy rõ ông già vốn
là người thành thị. Vẻ mặt của ông nếu có thể dùng từ “mặt” để
chỉ cái mũi, đôi môi, cặp mắt lộ ra sau lớp râu sum suê và sau
bộ ria rậm mọc vểnh lên nom thật chất phác, nếu như không chú ý
đến cặp mắt xam xám màu cát, ánh lên như thép thuần chất với cái
nhìn khoẻ khoắn, táo bạo.
Bây giờ thì ông cho cháu xin lại nhé, cô bé rụt rè cất tiếng
nói. Ông chơi một lúc lâu rồi đấy. Làm thế nào mà ông vớt được
nó lên?
Ông già Ê-gơn ngẩng đầu, đánh rơi chiếc thuyền xuống đất. Giọng
nói nhỏ nhẻ đầy xúc động của A-xôn vang đến tai ông quá bất ngờ.
Ông già mỉm cười ngắm nhìn cô bé một lúc, từ từ khẽ tựa chiếc
cằm đầy râu vào lòng bàn tay xương xương gân guốc của mình.
Chiếc váy hoa bạc màu dài chưa quá đầu gối, để lộ đôi chân nhỏ
gầy sạm nắng. Mái tóc đen dày ẩn dưới chiếc khăn ren loà xoà
trên vai.Nét mặt cô bé trông thật thanh thoát và trong trắng như
đường bay của chim én mùa xuân. Đôi mắt màu đen thoáng đượm một
câu hỏi buồn buồn trông già dặn hơn khuôn mặt cô bé; gương mặt
trái xoan mềm mại, hơi rám nắng, trông thật khoẻ khoắn, đáng
yêu. Cái miệng nho nhỏ xinh xinh hé nở một nụ cười duyên dáng.
- Các ông Grim, Êđốp, An- đéc-xen cũng phải thấy đây là một
chuyện gì rất đặc biệt!- Ông già nói, lúc thì nhìn cô bé, lúc
thì nhìn chiếc thuyền nhỏ. - Này cô bé đáng yêu, hãy nghe ta nói
nhé! Chiếc thuyền con này là của cháu ư ?
- Thưa ông vâng ạ. Cháu chạy đuổi theo nó suốt dọc bờ suối mệt
muốn chết ông ạ. Thế nó mắc lại ở đây hở ông ?
- Ở ngay bên chân ta đây. Đó là do đắm tàu, mà ta thì như là tên
cướp trên bờ, ta có thể trao cho cháu phần thưởng này. Sau khi
các thuỷ thủ đã rời khỏi thuyền thì một con sóng cao chừng ba
véc- sốc đã hất nó lên bờ cát, khoảng giữa gót chân trái ta và
chiếc gậy này. - Ông già cầm chiếc gậy đập đập xuống đất. - Thế
cháu tên là gì, cô bé dễ thương?
- Cháu tên là A-xôn, - cô bé trả lời, tay cầm chiếc thuyền nhỏ
mà ông già vừa đưa trả, bỏ vào làn.
- Được rồi, - Ông già tiếp tục nói bằng một giọng khó hiểu. Mắt
vẫn chăm chăm nhìn cô bé, cái nhìn ẩn một nụ cười trìu mến. - Kể
ra thì ta cũng chẳng cần hỏi tên cháu làm gì. Hay lắm, tên cháu
nghe là lạ, ngắn ngủi và có nhạc điệu như tiếng mũi tên vút đi
hay tiếng ngân vang của chiếc vỏ ốc biển. Ta sẽ biết làm gì, nếu
như cháu có một cái tên nghe thì êm tai, nhưng lại quá nhàm và
rất xa lạ đối với điều Bí ẩn Đẹp đẽ? Hơn mữa ta cũng không muốn
biết cháu là ai, bố mẹ cháu làm gì, cháu sống thế nào. Biết đâu
cái ấn tượng tuyệt vời ban đầu này lại chẳng bớt trọn vẹn nếu ta
hỏi thêm những điều ấy? Ta ngồi trên tảng đá này và đang so sánh
các cốt truyện cổ tích Nhật Bản và Phần Lan... thì bất ngờ dòng
suối đem tới đây con thuyền này và rồi cháu xuất hiện... như thế
này đây. Cô bé đáng yêu ạ, ta là một nhà thơ từ trong tâm hồn,
mặc dù ta chưa bao giờ làm thơ ca?. Làn của cháu đựng những gì
vậy?
- Trong làn cháu để mấy chiếc thuyền, - A-xôn trả lời, tay lúc
lắc chiếc làn, - với một chiếc tàu thuỷ và mấy cái nhà nhỏ có
cắm cờ. Đấy là nhà ở của quân lính đấy.
- Được lắm. Thế ra cháu được sai đem những thứ này đi bán. Dọc
đường cháu lại ham chơi. Cháu thả chiếc thuyền này xuống nước
cho nó bơi, thế rồi nó trôi đi mất. Phải thế không?
- Ông trông thấy cháu làm thế à? - A-xôn ngập ngừng hỏi, giọng
nghi ngờ, cô bé cố nhớ lại xem mình đã kể chuyện này chưa. - Ai
kể lại với ông hay là ông tự đoán ra?
- Ta biết chuyện đó.
- Sao ông biết?
- Vì ta là một ông tiên.
A-xôn cảm thấy lúng túng. Cô bé cố hiểu những lời ông già nói,
nhưng chỉ càng thấy sợ sệt hơn. Bãi biển hoang vắng, khoảng
không lặng ngắt, câu chuyện kỳ lạ, vất vả vừa xảy ra với chiếc
thuyền nhỏ, lời nói khó hiểu của ông già có đôi mắt sáng, bộ râu
và mái tóc đầy vẻ trang nghiêm - tất cả càng đem lại cho A-xôn
cái cảm giác hư hư thực thực. Bây giờ chỉ cần ông già nhăn mặt
hay thét lên một tiếng là cô bé sẽ khóc oà, bỏ chạy rồi ngã
khuỵu xuống vì sợ hãi. Nhưng ông già Ê-gơn nhận thấy đôi mắt cô
bé mở to đầy vẻ hoảng hốt, đã vội vàng đổi giọng.
- Cháu không việc vì phải sợ ta cả, - Ông già khoan thai nói. -
Ta còn muốn nói chuyện tâm tình với cháu nữa đấy.
Đến lúc đó ông mới nhận ra cái gì trên gương mặt cô bé đã gây
cho ông ấn tượng sâu sắc như vậy. “Chính là vẻ đợi chờ rất tự
nhiên một cái gì đẹp đẽ tốt lành, một số phận may mắn, - Ông già
nghĩ vậy. - Chà, tiếc quá, sao mình không phải là nhà văn? Đây
thật là một đề tài tuyệt diệu!”.
- Này cô bé, - Ông già vừa nghĩ tiếp cho câu chuyện thêm hoàn
chỉnh (cái thiên hướng dựng những chuyện hoang đường - hậu quả
của công việc hằng ngày - lúc này đã lấn át mối lo ngại gieo
những hạt giống của một niềm mơ ước lớn trên một mảnh đất còn
hoang sơ), - cháu hãy lắng nghe ta nói nhé. Ta đã đến làng mà
cháu vừa đi ra, tức là làng Ca-péc-na. Ta rất thích các chuyện
cổ tích, các bài dân ca. Ta đã ngồi ở làng Ca-péc-na suốt một
ngày để cố nghe được những cái chưa ai nghe thấy. Nhưng dân làng
cháu không kể chuyện cổ tích, cũng không hát dân ca. Và nếu có
kể chuyện và hát, thì cháu biết không, toàn về những anh chàng
nông dân và những chú lính láu cá, ranh vặt, luôn huênh hoang về
những trò bịp bợm, toàn là những bài vè bốn câu ngắn ngủn với
nhạc điệu rất xấu, nghe bẩn thỉu như bàn chân chưa rửa, thô
thiển như tiếng ọc ạch sôi bụng... Ồ ta nói hơi lạc đề rồi. Ta
kể lại từ đầu.
Nghĩ ngợi một lát, ông già nói tiếp:
- Ta không biết còn bao nhiêu năm nữa, chỉ biết rằng ở làng
Ca-péc-na thế nào cũng có một câu chuyện thần thoại mà người mai
sau sẽ còn nhớ mãi. Cháu rồi sẽ lớn lên, A-xôn ạ. Có lần vào
buổi sớm mai, từ phía biển khơi xa tít tắp sẽ hiện ra rực rỡ
dưới ánh mặt trời một cánh buồm đỏ thắm. Con tàu màu trắng với
những cánh buồm thắm đỏ ấy sẽ rẽ sóng lướt đi thẳng tới chỗ
cháu. Con tàu kỳ diệu ấy sẽ nhẹ nhàng trôi tới, không có tiếng
súng nổ, không có tiếng hò la, trên bờ mọi người tụ tập đông đúc
trầm trồ kinh ngạc, và cháu cũng sẽ đứng ở đấy. Con tàu uy
nghiêm tiến gần lại bờ trong tiếng nhạc du dương, đằm thắm, rồi
từ con tàu đó, một chiếc thuyền nhỏ tách ra bơi nhanh vào bờ,
trên thuyền trải thảm, rực rỡ ánh vàng và màu hoa. “Các ông tới
đây làm gì? Các ông tìm ai vậy?”- mọi người trên bờ cất tiếng
hỏi. Đến lúc đó cháu sẽ nhìn thấy một vị hoàng tử tuấn tú, khoẻ
mạnh, khôi ngô đứng trên thuyền, hai tay đưa ra phía cháu. “Chào
em. A-xôn! - chàng trai tuấn tú cất tiếng nói. - Từ một nơi rất
xa, rất xa, anh nhìn thấy em trong mơ và anh đã đến đây để đem
em đi mãi mãi về xứ sở của anh. Em sẽ sống với anh nơi ấy, trong
một thung lũng đầy hoa hồng. Em sẽ có tất cả những gì em mơ ước:
chúng ta sẽ sống thuận hoà, vui vẻ với nhau và tâm hồn em sẽ
không bao giờ biết đến nỗi buồn và nước mắt”. Chàng trai ấy sẽ
đặt cháu lên thuyền, đưa cháu lên tàu và sẽ mãi mãi đi về xứa sở
nơi mặt trời thức dậy và những vì sao trên trời sa xuống để chào
mừng cháu đến.
- Tất cả chuyện ông kể là về cháu đấy ư? - cô bé khẽ khàng hỏi.
Cặp mắt đầu vẻ nghiêm trang của cô bé bỗng ánh lên một niềm vui
tin cậy: nếu ông ấy là một người có phép lạ độc ác thì chắc là
ông đã không kể như vậy. Cô bé bước lại gần hơn:
- Có lẽ chiếc tàu ấy đã... đến rồi hả ông?
- Không nhanh thế đâu, - Ông già Ê-gơn trả lời, - trước tiên là
cháu phải lớn lên đã chứ, rồi sau đó mới... biết nói thế nào
nhỉ? Con tàu ấy thế nào cũng đến, cháu ạ, nhất định như thế. Đến
lúc ấy thì cháu sẽ làm gì nhỉ?
- Cháu ấy à? - cô bé nhìn vào trong chiếc làn, nhưng có lẽ cô bé
đã không thấy một vật gì có thể làm vật đền bù xứng đáng. - Cháu
sẽ yêu hoàng tử, - cô bé trả lời vội vàng và ngập ngừng nói
tiếp, - nếu hoàng tử không đánh nhau.
- Không, chàng không hay đánh nhau đâu, - Ông già có phép lạ
nói, mắt nhấp nháy đầy bí ẩn. - Chàng không thế đâu, ta có thể
bảo đảm với cháu điều này. Thôi, cháu đi đi nhé, và đừng quên
những lời ta đã kể cho cháu nghe giữa hai ngụm rượu thơm và
những phút suy tưởng về bài ca của những người tù khổ sai. Cháu
đi đi nhé. Ta cầu mong cho mái tóc mây của cháu được yên vui,
thanh bình!
Lông-gren đang xới đất quanh cây khoai tây trong khu vườn nhỏ
của mình. Ngẩng đầu lên, anh thấy A-xôn đang chạy như bay về
phía anh, gương mặt rạng rỡ niềm vui, xao xuyến.
- Này, bố ạ... - cô bé nói, hơi thở còn dồn dập, hai tay níu lấy
chiếc tạp dề của Lông-gren. - Bố này, bố nghe con kể nhé... Ở
ngoài bờ biển ấy cách xa đây lắm, có một ông tiên đang ngồi đấy
bố ạ...
Cô bé kể lại bắt đầu từ đoạn gặp ông già kỳ lạ và lời tiên đoán
của ông. Qúa xúc động với chuyện vừa gặp, A-xôn không thể kể lại
một cách rành rẽ, đâu ra đấy. Tiếp đó, cô tả lại dáng vẻ bề
ngoài của ông già rồi cuối cùng mới kể tới đoạn cô chạy theo
chiếc thuyền nhỏ trên dòng suối như thế nào.
Lông-gren chăm chú nghe con kể, không ngắt lời con, không mỉm
cười và khi cô ngừng kể, anh tưởng tượng ra một ông già xa lạ
một tay cầm chai rượu thơm, một tay cầm chiếc thuyền nhỏ. Anh đã
định quay đi, nhưng chợt nhớ rằng trong những giây phút lớn lao
của cuộc đời con trẻ, đôi khi con người cần phải tỏ ra nghiêm
trang và ngạc nhiên, anh bèn gật gù nói với vẻ trang trọng:
“Đúng rồi, đúng rồi, theo con kể thì đấy đúng là một ông tiên.
Bố muốn được gặp ông ấy lắm... Này, nhưng mà khi có việc phải đi
lên phố, con chớ rẽ ngang nữa nhé, trong rừng dễ lạc lắm con ạ”.
Bỏ cuốc ra, Lông-gren ngồi xuống bên bờ rào làm bằng cành khô,
bế con gái lên đùi. Dù đã rất mệt, cô bé vẫn cố kể thêm vài chi
tiết nữa, nhưng chỉ một lát sau cô đã cảm thấy buồn ngủ, phần vì
nóng bức, vì xúc động, phần vì mệt. Mắt cô díu lại, đầu ngả vào
bờ vai chắc nịch của bố. Cô đã thả hồn vào cõi mộng ảo thì bỗng
bị một nỗi hoài nghi làm tỉnh giấc, cô liền ngồi thẳng dậy, mắt
vẫn nhắm, nắm tay tựa vào áo gi-lê của bố rồi cao giọng hỏi:
- Bố ơi, thế có thật là chiếc tàu kỳ lạ sẽ đến đón con không?
- Sẽ đến con ạ, - người thuỷ thủ bình thản trả lời. - Nếu ông
già ấy đã nói với con như vậy, có nghĩa là mọi điều sẽ diễn ra
đúng như thế.
“Khi nào lớn, con bé sẽ quên thôi, - Lông-gren thầm nghĩ, - còn
bây giờ... bây giờ thì không nên tước bỏ của con một thứ đồ chơi
đẹp đẽ như vậy. Sau này con sẽ phải nhìn thấy không phải là cánh
buồm đỏ thắm mà là những cánh buồm bẩn thỉu, độc địa, trông từ
xa thì có vẻ đẹp đẽ, trắng trẻo, đến gần thì rách nát, xấu xa.
Một người qua đường nào đó đã đùa với con tôi. Có sao đâu! Cũng
là một chuyện đùa vui thôi! Không sao cả! Nửa ngày trời vất vả
trong rừng rồi con ạ. Còn về chuyện cánh buồm đỏ thắm thì con
hãy cứ nghĩ như bố: rồi con sẽ có những cánh buồm đỏ thắm”.
A-xôn đã ngủ. Lông-gren lấy tẩu thuốc ra hút. Gió đưa khói thuốc
bay qua bờ giậu về phía bụi cây mọc bên ngoài vườn. Cạnh bụi
cây, ngồi quay lưng lại phía bờ rào là một người ăn mày trẻ
tuổi. Câu chuyện giữa hai bố con đã làm anh ta thấy thú vị. Mùi
thuốc lá thơm làm anh ta khấp khởi mừng thầm.
- Ông chủ ơi, cho kẻ nghèo hèn này hút với, - anh ta nói với qua
mấy cành lá. - Thuốc lá của tôi mà so với thuốc của ông thì chỉ
là cỏ thôi.
- Tôi sẵn sàng cho anh, Lông-gren nói nhỏ, - nhưng thuốc của tôi
lại để ở túi bên kia. Mà tôi thì, anh thấy đấy, lại không muốn
làm mất giấc ngủ của con bé.
- Ồ, có gì là khó khăn đâu! Nó tỉnh dậy rồi nó lại ngủ, còn
người qua đường này thì được thuốc hút.
- Không được đâu, - Lông-gren nói, - dù sao anh cũng đã có thuốc
hút, còn đứa nhỏ thì rất mệt. Nếu anh muốn, chốc nữa quay lại.
Người ăn mày khinh bẻ nhổ toẹt một bãi nước bọt, ngoắc chiếc bị
lên gậy rồi châm chọc nói:
- à ra đó là công chúa kia đấy. Ông đã nhồi vào đầu nó đủ thứ
tàu lạ! Thật là ngớ ngẩn, dở hơi, thế mà cũng gọi là ông chủ!
- Này, nghe đây, - Lông-gren nói nhỏ, - tao có thể đánh thức nó
dậy đấy, nhưng chỉ cốt để sửa cho mày một trận thôi. Xéo ngay!
Nửa giờ sau, người ăn mày đã ngồi trong quán rượu bên cạnh
khoảng chục người đánh cá. Đằng sau họ là mấy người đàn bà cao
lớn, lông mày rậm, tay to và thô. Mấy người này khi thì kéo tay
áo chồng, khi thì với tay qua vai họ để lấy rượu uống. Người ăn
mày bựa mình kể lại:
- Hắn không cho tôi thuốc lá. Hắn nói với con gái: “Khi con đến
tuổi trưởng thành, lúc đó sẽ có một con tàu đặc biệt, buồm đỏ...
đến đón con. Vì số phận của con là sẽ được lấy hoàng tử. Con hãy
tin lời ông già ấy”. Còn tôi thì nói với hắn: thức nó dậy đi,
thức dậy đi mà lấy cho tôi xin ít thuốc. Thế mà hắn lại đuổi
đánh tôi.
Ai? Sao cơ? Chuyện gì vậy? - mấy người đàn bà tò mò nhao lên.
Đám đàn ông hơi ngoái đầu lại, nhếch mép cười khẩy giải thích:
- Hai bố con Lông-gren có lẽ điên dại rồi, anh này kể rằng có
phù thuỷ đến gặp họ, hiểu chưa? Hai bố con họ đang chờ một chàng
hoàng tử phương xa đến đây - các bà chớ bỏ lỡ cơ hội tốt! Chàng
hoàng tử lại còn đến trên chiếc tàu buồm đỏ thắm nữa chứ!
Ba ngày sau, lúc từ trên phố trở về, A-xôn lần đầu tiên nghe
thấy:
- Ê, con ôn kia, A-xôn! Nhìn đây! Tàu buồm đỏ thắm đang đến kìa!
Cô bé giật mình quay lại, bất giác đưa tay che trán nhìn ra
biển. Sau đó em ngoái nhìn về phía người gọi: cách em chừng hai
chục bước là một đám trẻ đang nhăn mặt, thè lưỡi ra giễu em.
A-xôn thở dài rồi bỏ chạy về nhà.
Chương 2
Gray
Nếu Xêđa cho rằng thà đứng
đầu ở nhà quê còn hơn đứng thứ hai ở thành La Mã thì ác-tua Gray
có thể không ganh tị gì với mong muốn thông thái ấy của Xêđa.
Dường như Gray đã sinh ra là một thuyền trưởng, cậu muốn trở
thành thuyền trưởng và đã trở thành thuyền trưởng.
Ngôi nhà đồ sộ, nơi Gray sinh ra, bên ngoài trông rất uy nghiêm,
nhưng bên trong thì hơi ảm đạm. Phía trước ngôi nhà là vườn hoa
và một phần khu vườn. Những loài tuy-líp đẹp nhất màu phơn phớt
xanh, tím, hồng xen những đốm đen, đã được trồng thành từng hàng
trên thảm cỏ, trông xa như những chuỗi hạt cườm rơi trên mặt
đất. Những cây cổ thụ trong vườn như đang mơ màng ngủ dưới ánh
sáng lờ mờ bên dòng suối quanh co mọc đầy cỏ lác. hàng rào bao
quanh lâu đài này - đó quả thật là một lâu đài - được làm bằng
những cột gang xoắn ốc nối với nhau bằng những tấm lưới sắt hình
hoa văn. Đỉnh mỗi cột đều xoè ra như hình một bông huệ lớn. Vào
dịp lễ, người ta đổ mỡ vào đấy và đốt lên, những ngọn lửa nhỏ ấy
dăng thành hàng, cháy sáng trong đêm tối.
Cha mẹ Gray là những kẻ kênh kiệu, bị cầm tù bởi địa vị giàu
sang và những luật lệ của cái xã hội đã sinh ra chính họ. Một
phần hồn của họ được dành cho những bức chân dung tổ tiên- những
người thật ra cũng chẳng đáng vẽ lại làm gì. Phần hồn còn lại
được dành cho việc xây đắp kế hoạch sao cho cậu bé Gray lớn lên
sẽ nối gót được cha ông, kéo dài thêm số chân dung dòng họ theo
trên tường, sao cho chân dung của cậu cũng có thể được treo lên
đấy mà không làm suy giảm thanh danh của gia đình. Khi đặt kế
hoạch ấy, cha mẹ Gray đã mắc một sơ xuất nhỏ: ác-tua Gray sinh
ra là một đứa trẻ có tâm hồn nồng nhiệt, hoàn toàn không thích
thú gì với cái gọi là làm vẻ vang dòng dõi.
Tính nồng nhiệt, tính độc đáo khác người của đứa trẻ đã bộc lộ
từ khi cậu ta lên tám tuổi. Trong tính cách của cậu bé Gray dạo
ấy đã lộ rõ dáng dấp của kiểu người sáng tạo diệu kỳ dám nhận
lấy vai trò nguy hiểm nhất mà cũng gây xúc động nhất trong cuộc
sống- vai trò người thấy trước tương lai. Có lần cậu bé Gray đặt
sát ghế vào tường rồi trèo lên để có thể với tay tới bức tranh
vẽ cảnh Chúa Ky-tô bị hành hình. Gray đã “nhổ”những cái đinh ra
khỏi cánh tay đầy máu của Chúa, tức là lấy màu xanh bôi lên chỗ
mấy cái đinh (màu xanh ấy cậu đã lấy được ở chỗ người thợ sơn).
Sau khi chữa lại như vậy, Gray thấy bức tranh dễ nhìn hơn. Say
sưa với việc làm độc đáo ấy, Gray bắt đầu chuyển sang tô màu lên
cả chân của Chúa, thì vừa vặn bị bố trông thấy. Ông bố kéo tai,
nhấc cậu bé từ trên ghế xuống và hỏi:
- Sao con lại làm hỏng bức tranh thế?
- Con không làm hỏng.
- Đây là tác phẩm của một hoa. sĩ nổi tiếng.
- Cái đó con không quan tâm bố ạ, Gray trả lời. Con không thể để
yên khi trông thấy cánh tay người bị đóng đinh và máu chảy. Con
không thích thế.
Ông Li-ô-nen Gray cố giấu nụ cười dưới bộ ria mép và không trừng
phạt con trai vì nhận ra tính cách của mình trước đây qua câu
trả lời của con.
Gray miệt mài tìm hiểu mọi ngóc ngách trong lâu đài, phát hiện
ra những điều thật đáng kinh ngạc. Chẳng hạn trên gác thượng,
cậu tìm thấy những bộ áo giáp sắt đã gỉ, những cuốn sách bìa
bằng sắt, bằng da, quần áo bị mủn và cả một đàn bồ câu. Dưới căn
nhà hầm, nơi chứa rượu, cậu đã biết được nhiều điều thú vị về
các loại rượu nho như la-phít ma- đe -ra, khê- rét. Ở đây, trong
ánh sáng nhờ nhờ toả ra từ những khung cửa sổ, chất đầy những
thùng to thùng nhỏ đựng rượu. Chiếc thùng lớn nhất, to bè bè
chiếm cả chiều dài bức tường phía trước của căn nhà hầm, mặt gỗ
sồi trăm tuổi được dùng làm thùng cứ nhẵn thín như là được đánh
bóng. Bên cạnh thùng đựng rượu là những chiếc sọt để đầy những
chai thuỷ tinh thấp màu xanh thẫm và xanh lá cây. Trên nền nhà
và trên gờ đá có những cây nấm màu xám, thân gầy guộc khẳng
khiu; chỗ nào cũng ẩm ướt, mốc meo, rêu bám và một thứ mùi chua
chua đến ngạt thở. Ở phía cuối căn hầm có một mạng nhện lớn cứ
chiều chiều lại vàng óng lên vì những tia sáng mặt trời chênh
chếch chiếu vào. Trong một góc căn nhà hầm có chôn hai thùng
rượu a-li-can-te thượng hảo hạng, làm từ thời Crôm- Oen. Và
người trông coi kho rượu mỗi lần chỉ cho Gray xem góc nhà trống
trải ấy đều không quên kể lại cho cậu bé nghe câu chuyện về một
ngôi mộ nổi tiếng, chôn một người tuy đã chết mà còn tinh nhanh
hơn cả đàn chó săn. Khi bắt đầu kể, người trông coi kho không
quên thử xem vòi rượu ở thùng lớn nhất có còn tốt không. Sau đó
ông ta rời khỏi chỗ để chiếc thùng ấy chắc là với một tâm trạng
thật nhẹ nhõm khoan khoái, vì những giọt nước mắt sung sướng bất
giác hiện ra trong khoé mắt vui vẻ của ông ta.
- Chuyện là thế này, cậu Gray ạ, - Ông Pôn- đi-sốc ngồi xuống
chiếc thùng rỗng, hít thuốc lá và bắt đầu câu chuyện, - cậu có
trông thấy chỗ kia không? Dưới chỗ ấy có chôn một thứ rượu mà có
lẽ không kẻ nghiện rượu trên đời này sẵn sàng chịu để cắt lưỡi
nếu được uống một chén nhỏ thứ rượu đó. Mỗi thùng chứa một trăm
lít thứ rượu làm linh hồn ngây ngất, làm cơ thể chết lặng. Rượu
đó màu sẫm hơn màu anh đào, dốc ngược chai cũng không chảy ra,
nó dẻo quánh lại như thứ kem sữa tốt nhất. Rượu này được đựng
trong thùng đóng bằng thứ gỗ mun cứng như sắt. Đai thùng làm
bằng đồng đỏ. Trên đai còn khắc dòng chữ bằng tiếng la-tinh:
“Ông Gray sẽ uống tôi khi ông ở Thiên đường”. Người ta tán rộng
nội dung dòng chữ đó đến nỗi ông cố của cậu, nhà quý tộc Xi-mê-
Ôn Gray, đã xây một ngôi nhà nghỉ đặt tên là “Thiên đường”. Ông
già nghĩ rằng với cách đặt tên không khéo như vậy cho ngôi nhà,
ông có thể kết hợp được câu nói bí ẩn kia với thực tế. Nhưng cậu
có biết không? Ông già đã bị chết ngay khi đang phá đai thùng
rượu vì bị vỡ tim - Ông đã quá xúc động. Từ độ ấy, không ai dám
động đến thùng rượu đó nữa. Mọi người đều tin rằng thứ rượu quý
đó đem lại điều bất hạnh. Thực ra thì đến con sư tử đầu người ở
Ai Cập ngày xưa cũng không đặt ra những câu thách đố khó xử đến
như vậy. ừ mà có lần, con sư tử ấy đã hỏi một nhà thông thái:
“Liệu ta có ăn thịt mày như đã ăn thịt mọi kẻ khác không? Mày
trả lời đúng thì sẽ được sống”, nhưng điều này, nếu suy nghĩ kỹ
càng thì...
- à mà hình như có tiếng rượu ở vòi rỏ xuống, - Pôn- đi-sốc tự
ngắt lời mình, bước nhanh về phía góc hầm, vặn chặt vòi, rồi
quay lại với vẻ mặt hớn hở. - Đúng, nếu suy xét kỹ và không vội
vàng thì nhà thông thái có thể nói với con quái vật mình sư tử
đầu người rằng: “Thôi ta đi uống rượu, ông bạn ạ, rồi ông sẽ
quên đi những điều ngu xuẩn ấy”. “Ông Gray sẽ uống tôi khi ông ở
Thiên đường!”Thế là thế nào? Sẽ uống sau khi chết à? Thật là lạ
lùng. Vậy thì ông ấy là thánh, ông ấy không uống rượu vang, cũng
không uống vốt-ca thường. Cứ cho “Thiên đường”có nghĩa là hạnh
phúc đi. Nhưng nếu vấn đề đặt ra như vậy thì hạnh phúc rơi mất
nửa giá trị khi người được hưởng hạnh phúc lại còn phải tự hỏi
mình: đấy có phải là Thiên đường không? Đấy, vấn đề là ở chỗ đó.
Để có thể lấy rượu từ cái thùng ấy mà uống và cười một cách
thoải mái, thì cậu bé ạ, cần phải một chân đứng trên mặt đất,
một chân đứng lên trời. Còn có giả thuyết thứ ba nữa là: đến một
lúc nào đó, ông Gray uống rượu say bí tỉ và dốc cạn hết cả
thùng. Nhưng mà thôi, cậu bé ạ, đó không phải là sự thực hiện
lời tiên tri mà là một cảnh bê bối ở quán rượu.
Xem lại lần nữa chiếc vòi rượu ở thùng lớn có thật hết chảy chưa
Pôn- đi-sốc kết thúc câu chuyện của mình bằng giọng rầu rĩ, đầy
vẻ quan trọng:
- Những thùng rượu này ông tổ của cậu là Giôn Gray mang từ
Li-xbon về, trên con tàu “Bi-gơn”, vào năm 1793. Tiền mua rượu
là hai ngàn pi-át vàng. Dòng chữ trên đai thùng là do bác thợ
Vê-nhi-a-min Ê-li-an ở Pôn- đi-sê-ri khắc. Mấy thùng rượu này
được chôn sâu dưới đất khoảng sáu fut rồi phủ đầy tro cây nho.
Nhưng thứ rượu này chưa ai được uống, chưa ai nếm thử và sẽ
chẳng ai được uống nữa.
- Cháu sẽ uống, bác ạ, - cậu bé Gray vừa nói quả quyết vừa đập
mạnh chân xuống đất.
- Ồ, cháu thật là một cậu bé dũng cảm! - Ông già Pôn- đi-sốc
khen ngợi. - Cháu sẽ uống thứ rượu đó trên Thiên đường chứ?
- Đúng thế bác ạ. Thiên đường đây này!... Nó đang trên tay cháu
đây này, bác thấy không? - Gray khẽ cất tiếng cười, xoè lòng bàn
tay nhỏ của mình ra. Bàn tay mềm mại hứng lấy ánh mặt trời và
ngay lúc ấy cậu nắm tay lại. - Đấy, Thiên đường ở đây bác
này!... Lúc thì trông thấy, lúc lại không...
Vừa nói thế, cậu bé vừa xoè tay rồi lại nắm tay lại. Thú vị với
trò đùa, cuối cùng cậu bé đã bỏ chạy ra khỏi căn hầm, vượt lên
trước ông già Pôn- đi-sốc trên những bậc thang tối dẫn lên hành
lang tầng một. Gia đình cấm ngặt Gray xuống nhà bếp. Nhưng sau
khi phát hiện ra nơi đây hấp dẫn với những ánh lửa lò, hơi nước,
bồ hóng, tiếng xào nấu, tiếng dao thớt và những mùi thơm nức thì
cậu bé rất hay lần xuống chỗ ấy. Những người đầu bếp lặng lẽ,
nghiêm nghị đi lại trông như những tư tế, những chiếc mũ tròn
cao màu trắng nổi lên trên nên tường màu đen đem lại cho công
việc của họ một vẻ trang nghiêm. Cũng ở đây, cậu bé Gray trông
thấy những chị rửa bát béo núc ních, vui tính đang rửa bát đĩa
bên những chậu nước đầy, tiếng đồ sứ, đồ bạc chạm vào nhau lanh
canh. Những chú bé còng lưng vác những giỏ lớn đựng đầy tôm, cá,
hoa qua?. Trên một chiếc bàn bài xếp đầy gà, vịt, chim rừng;
cũng ở đấy còn thấy nguyên cả con lợn đã cạo lông, đuôi ngắn
ngủn, mắt đã nhắm lại, còn thấy cả những cây cải bắp, đậu, nho
khô, đào.
ở nhà bếp, Gray có phần e dè: cậu cảm thấy một sức mạnh khó hiểu
nào đó đang điều khiển cuộc sống trong lâu đài. Những tiếng gọi
nghe như những mệnh lệnh, những câu phù chú; mọi động tác của
những người làm bếp đều nhanh nhẹn, dứt khoát, chính xác, tựa
như một niềm phấn hứng. Gray còn thấp, chưa nhìn vào được chiếc
nồi lớn nhất đang sôi sùng sục, nhưng cậu bé cảm thấy nó đặc
biệt đáng trọng vọng. Cậu chăm chú nhìn hai người hầu gái đang
vần chiếc nồi ấy, bọt trào ra trên bếp, hơi bốc lên toả kín cả
căn bếp. Có lần nước sôi trào ra ngoài làm bỏng tay một cô. Da
tay lập tức tấy đỏ, móng tay cũng tấy đỏ vì ứ máu, còn Bét-xi
(tên cô gái ấy) thì vừa khóc vừa lấy mỡ bôi lên chỗ đau. Nước
mắt trào ra trên gương mặt tròn tròn đầy vẻ sợ hãi của cô.
Gray đứng lặng. Khi mấy phụ nữ khác đang luống cuống bên cạnh
Bét-xi thì cậu bé rất xúc động trước nỗi đau đớn kia, như là
chính của mình, mặc dầu cậu không thể cảm thấy cụ thể được nó.
- Chị đau lắm phải không? - Gray hỏi.
- Cậu cứ thử thì cậu khắc biết, - Bét-xi trả lời, lấy vạt tạp dề
che chỗ tay bị bỏng.
Cậu bé cau mày, trèo lên một chiếc ghế đẩu, lấy chiếc muôi dài
múc nước đang sôi (hôm đó là thứ nước xúp thịt cừu) rồi đổ lên
tay. Cảm giác quá đau đớn bất chợt làm cậu sững lại. Mặt tái
mét, Gray tiến lại gần Bét-xi, giấu bàn tay bị bỏng trong túi
quần:
- Em cảm thấy chị rất đau, chị Bét-xi ạ, - Gray nói, không nhắc
gì đến “thí nghiệm” vừa rồi của mình. - Chị đến bác sĩ với em
đi. Đến ngay thôi!
Cậu níu áo Bét-xi kéo đi, trong khi mấy người hâm mộ những kiểu
chữa bỏng theo lối gia truyền thì mách cho Bet-xi đủ thứ thuốc.
Nhưng cô gái vì quá đau đã đi theo Gray. Bác sĩ cho thuốc giảm
đau, rồi băng chỗ bỏng lại. Và chỉ sau khi Bét-xi đi rồi, cậu bé
mới để cho bác sĩ xem xét vết bỏng của mình.
Câu chuyện nhỏ ấy đã làm cậu bé Gray mười tuổi và chị Bét-xi hai
mươi tuổi trở nên thân thiết. Cô gái thường giúi đầy túi cậu bé
nào bánh, nào táo, còn cậu thì kể lại cho cô nghe những chuyện
hay đọc được trong sách của mình. Có lần Gray biết được rằng
Bét-xi không thể nhận lời lấy anh coi ngựa tên là Gim chỉ vì họ
không có tiền sắm sửa những vật dụng tối thiểu cho cuộc sống gia
đình. Và thế là Gray đã đập vỡ chiếc bình sứ đựng tiền để dành
của cậu được tất cả gần một trăm phun. Gray dậy thật sớm, chờ
khi Bét-xi đi xuống bếp, cậu đã lẻn vào buồng cô gái, nhét túi
tiền vào trong rương cô, kèm theo mảnh giấy đề dòng chữ: “Số
tiền này là của chị đấy, Bét-xi ạ. Thủ lĩnh đảng cướp Rô-bin
Hút”. Câu chuyện này khiến mọi người làm công dưới bếp xôn xao
bàn tán đến mức Gray đành phải để lộ ra rằng chính mình là người
đã bày ra trò ấy. Cậu không lấy lại số tiền và không muốn nói
thêm về chuyện đó nữa.
Mẹ Gray là người thuộc loại người được cuộc sống sắp đặt theo
những khuôn định sẵn. Bà ta sống mơ màng trong một cuộc đời quá
ư đầy đủ, mọi ý muốn của một tâm hồn bình thường đều sẵn sàng
được thoả mãn. Bởi vậy bà ta chẳng còn việc gì để làm, ngoài
việc trò chuyện với mấy người thợ may, bác sĩ, quản gia. Lòng
say mê, gắn bó gần như sùng kính đối với đứa con trai khác
thường, có thể nói đã choán hết mọi suy nghĩ của bà, một con
người đã bị hoàn cảnh và số phận làm cho chai mòn. Mọi suy nghĩ
của bà không tồn tại một cách sống động mà mơ hồ lẩn quất đâu đó
làm cho ý chí của bà trở nên uể oải, rã rời. Người đàn bà quyền
quý ấy giống như một con công mái ấp trứng thiên nga. Bà ta đau
lòng nhận thấy tính cách tốt đẹp khác thường của đứa con trai.
Một tình cảm vừa yêu thương vừa buồn bã nặng nề choán lấy lòng
bà mỗi khi bà ôm đứa con trai áp vào ngực mình, nơi trái tim
đang nói những điều khác với ngôn ngữ thường, chỉ biểu hiện
những hình thức ước lệ của các quan hệ và suy tư. Thế là tác
động của đám mây do các tia sáng mặt trời tạo nên một cách khéo
léo đã thấm và khung cảnh cân đối của toà nhà và làm mất đi cái
vẻ trang nghiêm tẻ nhạt của nó, mắt nhìn nhưng không nhận ra nơi
ở, sắc thái bí ẩn cảu ánh sáng giữa sự nghèo nàn tạo ra một sự
hài hoà sáng loá.
Người đàn bà quyền quý ấy có gương mặt và dáng người lạnh lùng
như băng giá trước cuộc sống náo nức bên ngoài, có vẻ đẹp dễ làm
người ta lánh xa hơn là thu hút - vì trong vẻ đẹp ấy dường như
không có sự hấp dẫn nữ tính mà chỉ có sự kênh kiệu của lý trí.
Bà Li-li-an Gray ấy khi còn lại một mình bên con đã hiện ra là
một người mẹ bình thường, biết nói với giọng nhỏ nhẹ đầy yêu
thương những điều vô nghĩa không thể ghi lại được - sức mạnh
những lời ấy là ở trong tình cảm, trong giọng nói chứ không phải
ở chữ nghĩa. Bà ta hoàn toàn không thể làm trái ý con một điều
gì. Bà tha thứ cho con tất cả, không trừng phạt mắng mỏ gì khi
con xuống bếp chơi, chán học, không vâng lời hay bày ra nhiều
trò quỷ quái.
Nếu cậu không muốn cắt tỉa cây cối trong vườn thì sẽ không ai
chạm đến cây cối. Nếu cậu xin ta tội hay xin ban thưởng cho ai
thì có nghĩa là sự việc sẽ xảy ra đúng như thế. Cậu ta có thể
cưỡi bất cứ con ngựa nào, dắt bất cứ con chó nào vào lâu đài, có
thể vùi đầu trong thư viện, đi chân đất và ăn bất cứ thứ gì cậu
muốn.
Bố của Gray dạo đầu cũng ngăn cản con làm như thế, nhưng rồi sau
lại thôi, không phải vì nguyên tắc mà vì để chiều theo ý vợ. Ông
ta chỉ thi hành một biện pháp là không cho con cái của những
người làm công được ở trong khu vực lâu đài vì sợ rằng gần những
đứa trẻ thuộc lớp dưới đó, tính tình khác thường của Gray sẽ trở
thành sâu sắc, khó sửa. Nói chung, ông ta hầu như dành tất cả
thì giờ để chuyên tâm vào việc phân xử các vụ tranh chấp trong
dòng họ bắt đầu từ thời có các nhà máy giấy đến khi các vị ưa
tranh giành, cãi vã nhau bị chết. Ngoài ra, công việc của quốc
gia, của các trại ấp, việc đọc cho người khác ghi chép hồi ký,
đi săn, xem báo, trao đổi thư từ đã làm ông hơi tách biệt với
gia đình. Ông ta cũng rất ít khi gặp con trai cho nên đôi khi
ông quên cả tuổi con.
Vậy là Gray đã sống trong thế giới của mình. Cậu chơi một mình -
thường là trong sân phía sau lâu đài, nơi xưa kia có một tầm
quan trọng về mặt quân sự. Đó là một khu đất rộng, còn lại vết
tích những thành hào sâu, những tảng đá phủ kín rêu xanh, đầy
những bụi cây rậm rạp và các loại hoa dại màu sắc sặc sữo. Gray
chơi ở đó hàng giờ liền, chăm chú quan sát các hang chuột,
“chiến đấu” với các bụi cây, quất những con bướm và xây những
thành luỹ bằng gạch vụn rồi lại phá huỷ bằng gậy hay bằng đá
ném.
Khi cậu mười hai tuổi, mọi ý thích của cậu, mọi nét tản mạn của
tinh thần và mọi khía cạnh của tình cảm bí ẩn đã kết lại thành
một nguyện vọng mạnh mẽ duy nhất, không thể nào ngăn lại được.
Trước đó, dường như cậu chỉ mới tìm thấy từng phần riêng biệt
của mảnh vườn của riêng mình đó là ánh sáng, bóng cây, hoa lá,
thân cây to đứng mơ màng và um tùm trong nhiều khu vườn của mình
với vẻ hài hoà tuyệt diệu.
Chuyện này đã xảy ra trong thư viện. Tấm cửa cao lắp kính mờ ở
phía trên lúc nào cũng đóng im ỉm, nhưng then cửa lại cài hờ hờ,
chỉ cần đẩy tay vào là nó kênh lên và bật ra. Khi lòng say mê
nghiên cứu của Gray đã bắt cậu lọt vào thư viện thì cậu đã bị
sửng sốt bởi một thứ ánh sáng đầy bụi mà toàn bộ sức mạnh và đặc
điểm của nó là những đường hoa văn nhiều màu sắc phía trên kính
cửa sổ. Ở đây im lặng ngột ngạt như nước ao tù. Hàng dãy tủ sách
sẫm màu kê cách lối đi, sách vứt thành đống. Kia một quyển an
bom đang mở với những trang trong bị bong ra. Kia nữa các cuốn
giấy buộc dây vàng, từng đống sách màu tối, các tập bản thảo dày
cộp, một chồng sách bản vẽ, biểu đồ, hàng loạt sách mới xuất
bản, bản đồ. Bìa thì nhiều loại khác nhau: thô kệch, mịn màng,
màu đen, xanh lam, xám, dày, mỏng, ngẵn nhụi, ram ráp. Các tủ
xếp đầy sách, trông chúng cứ như những bức tường khép kín cuộc
đời trong chiều dày của mình. Cửa kính các tủ phản chiếu các tủ
khác lấp loáng những chấm sáng nhờ nhờ.
Một quả địa cầu to lớn đóng khung trong đường xích đạo và kinh
tuyến bằng đồng giao nhau đặt trên bàn tròn.
Quay ra cửa ra vào, Gray thông thấy một bức tranh lớn ở phía
trên cửa. Nội dung bức tranh càng làm cho không khí trong thư
viện thêm tù túng ngột ngạt. Bức tranh vẽ một con tàu đang ngả
nghiêng trên đỉnh ngọn sóng. Bọt trắng tung cao bên mạn tầu. Con
tàu như đang bay lên, lao về phía người xem Mũi tàu dăng cao che
lấp cả phía dưới cột buồm. Ngọn sóng bị thân tàu xé đôi tung ra
hai bên như đôi cánh buồm căng phồng thấp thoáng hiện ra phía
sau mũi tàu như cố chứa hết sức mạnh điên cuồng của cơn dông tố
để đẩy con tàu vượt qua con sóng lớn đi nhanh về phía xa. Những
đám mây bị xé nhỏ sà xuống mặt biển. ánh sáng mờ mờ đang đấu
tranh một cách tuyệt vọng với bóng đêm đang ập tới. Nhưng đáng
chú ý nhất trong bức tranh ấy là hình ảnh một người đứng ở mũi
tàu quay lưng lại người xem. Hình dáng người ấy như đã nói lên
tất cả tình trạng, thậm chí tính chất của thời điểm đó. Người đó
đứng chân giạng ra, tay vung cao. Với tư thế đó, không thể biết
anh ta đang làm gì, nhưng nó buộc chúng ta phải hình dung rằng
người ấy đang căng thẳng chú ý vào một cái gì đó ở phía trên
boong tàu, noi chúng ta không nhìn thấy rõ. Vạt áo của anh ta
bay trước gió, chiếc kiếm đeo bên sườn hất lên cao: trông cách
ăn mặc cũng có thể đoán anh ta là thuyền trưởng. Thân hình anh
ta nhún nhảy theo sóng ; đầu không mũ, anh ta được thể hiện vào
đúng cái giờ phút hiểm nghèo. Anh ta hét lên nhưng để làm gì?
Liệu anh ta có trông thấy ai đang ngã không? Liẹu anh ta có ra
lệnh quay sang hướng khác, hay tiếng anh ta gọi thuỷ thủ trưởng
bị tiếng gió át đi? Nhiều ý nghĩ khác nhau cứ lởn vởn ám ảnh tâm
trí Gray khi cậu ngắm bức tranh này. Chợt cậu cảm thấy bên trái
cậu có người nào lạ mặt tàng hình vừa bước tới đứng ngay cạnh.
Chỉ cần quay đầu lại là cảm giác kỳ lạ đó sẽ biến mất. Gray biết
rõ điều đó. Nhưng cậu không ngừng tưởng tượng mà chăm chú lắng
nghe. Một giọng nói không thành tiếng thốt lên vài câu rời rạc
khó hiểu như tiếng Ma-lai-xi-a. Có tiếng ầm ầm tựa như cái gì đó
sụt lở kéo dài. Tiếng vọng và tiếng gió âm u lan khắp thư viện.
Tất cả những âm thanh ấy, Gray đã nghe từ trong người mình, Cậu
chợt nhìn quanh; cảnh im ắng trong căn phòng xua tan ngay những
tiếng động trong tưởng tượng vừa rồi, cậu không còn can dự vào
cơn dông tố trên biển nữa.
Gray nhiều lần đến thư viện ngắm bức tranh đó. Bức tranh ấy đối
với cậu đã trở thành lời nói cần thiết trong cuộc đối thoại giữa
tâm hồn và cuộc sống, thiếu lời nói đó thì cậu không thể nào tự
hiểu được mình nữa. Trong tâm trí cậu bé, biển bao la dần dần
được hình thành. Cậu luôn luôn tưởng tượng ra nó, lục lọi trong
thư viện để tìm đọc ngấu nghiến những cuốn sách mà sau cánh cửa
vàng của chúng mở ra vầng hào quang xanh sẫm của đại dương. Ở đó
có những con tàu đang chuyển động, tung bọt sau bánh lái. Có
những con tàu bị mất buồm và cột buồm, bị sóng nuốt chửng và dìm
xuống đáy sâu; ở đó thấp thoáng những đàn cá mắt lấp lánh như
lân tinh. Có những con tàu bị sóng đánh vào đá ngầm, lắc lư trên
sóng đã dịu đi. Một con tàu không người, bị đứt dây chão đang
kéo dài cảnh hấp hối cho đến lúc một cơn bão khác phá nó ra
thành từng mảnh. Loại tàu thứ ba lấy hàng an toàn ở một bến cảng
rồi bốc dỡ ở một cảng khác; đám thuỷ thủ ngồi bên bàn rượu vui
vẻ ca ngợi chuyến đi biển và say sưa uống rượu. Lại còn có những
con tàu cướp biển, treo cờ đen với súng ống và âm nhạc. Có tàu
nghiên cứu khoa học, quan sát các núi lửa, nghiên cứu động vật
và cỏ cây. Có những con tàu với ý đồ đen tối và những cuộc nổi
loạn; có con tàu phát kiến và phiêu lưu.
Trong thế giới ấy, vai trò người thuyền trưởng, lẽ tự nhiên, nổi
bật lên. Thuyền trưởng là linh hồn, là lý trí, là số phận của cả
con tàu. Tính cách của người này ảnh hưởng đến công việc và sự
nghỉ ngơi của thuỷ thủ. Đích thân thuyền trưởng chọn thuỷ thủ
cho con tàu của mình, và đội ngũ ấy nói chung phải đáp ứng được
những ý thích của riêng anh ta. Anh ta biết rõ thói quen và hoàn
cảnh gia đình của từng người. Trước con mắt mọi người dưới
quyền, anh ta có vốn kiến thức sâu rộng, nhờ đó mà có thể điều
khiển con tàu, chẳng hạn đi thẳng từ Li-xbon đến Thượng hải trên
mặt biển mênh mông. Anh ta chống lại bão táp bằng hàng loạt cố
gắng phức tạp, xua tan nỗi sợ hãi bằng cách phát ra những mệnh
lệnh ngắn gọn. Tàu dừng lại hay tiếp tục cuộc hành trình là tùy
thuộc vào ý muốn của anh ta, anh ta điều khiển việc ra khơi và
chất hàng, tu sửa và nghỉ ngơi, thật khó mà hình dung được hết
quyền lực to lớn và sáng suốt của anh ta trong công việc hoạt
động không ngừng. Quyền lực ấy hạn chế hay đầy đủ đều tương
đương với quyền lực của oóc-phê.
Trí tưởng tượng sán lạn của Gray đã hình dung như vậy về vị trí
và hoạt động thật sự của người thuyền trưởng. Không một nghề
nghiệp nào trên đời này lại có thể hoà hợp tất cả những gì hấp
dẫn nhất trong cuộc sống vào một thể thống nhất như nghề làm
thuyền trưởng, mà vẫn không loại bỏ những gì riêng tư trong hạnh
phúc của từng người. Sự nguy hiểm, táo bạo, quyền lực của thiên
nhiên, ánh sáng của miền đất nước xa xôi, sự bí ẩn đầy kỳ diệu,
mối tình thoảng qua, gặp gỡ và chia ly, sự nồng nàn hấp dẫn của
các cuộc gặp gỡ, các nhân vật, các sự kiện, sự phong phú vô hạn
của cuộc sống khi mà cao tít trên bầu trời là chòm sao Thập tự
nam, chòm sao Gấu, và tất cả các lục địa đều nằm trong tầm mắt
tinh tường mặc dù buồng tàu của anh đầy những thứ cuả Tổ quốc
vẫn chưa xa rời anh như sách vở, tranh ảnh, thư từ và những đoá
hoa khô quấn trong mớ tóc xoăn mềm mại để trong chiếc bùa bằng
da mịn đeo trên bộ ngực rắn chắc.
Mùa thu, khi ác-tua Gray vừa mười lăm tuổi, cậu đã bro trốn khỏi
nhà để bước qua cánh cửa vàng của biển. ít lâu sau, từ bến cảng
Đu-ben, con tàu A-xem đã nhổ neo đi Mac-xây, chở theo một cậu
thiếu niên có đôi bàn tay nhỏ bé trắng trẻo, có dáng vẻ bề ngoài
của một thiếu nữ giả trai. Cậu thiếu niên đó là Gray. Cậu có
chiếc túi du lịch rất đẹp, đôi ủng da bóng láng mỏng như da găng
tay, quần áo may bằng thứ vải sang trọng, đắt tiền.
Trong khoảng một năm, khi tàu A-xem đi Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha thì
Gray đã tiêu một phần tiền của mình cho quá khứ là đánh chén,
phần còn lại cho hiện tại và tương lai - là thua bạc. Anh muốn
trở thành một thuỷ thủ “lão luyện”. Anh uống rượu hừng hực, tắm
thì đứng từ trên cao khoảng hai xa-giên thản nhiên nhảy cắm đầu
xuống nước. Dần dần anh mất hết, trừ cái chính là tâm hồn thích
bay bổng lạ kỳ, anh không còn yếu ớt mà trở nên cứng cáp, bắp
thịt rắn chắc, nước da mai mái đã sạm nắng, cử chỉ mềm mại được
thay bằng động tác chính xác của đôi tay lao động. Còn đôi mắt
suy tư của anh ánh lên như đang nhìn vào lửa. Cả cách nói của
anh từ chỗ nhỏ nhẹ, nhút nhát đã biến thành rắn rỏi, dứt khoát
như chim hải âu lao xuống làn nước bắt chú cá đang nghiêng mình
lấp lánh.
Thuyền trưởng con tàu A-xem là một người tốt bụng, nhưng lại là
một thuỷ thủ khe khắt. Ông đã nhận chú bé Gray lên con tàu của
mình với một thâm ý nào đó. Ông coi nguyện vọng thiết tha làm
thuỷ thủ của Gray chỉ là một ý thích ngông cuồng trong chốc lát,
và nghĩ rằng chỉ một hai tháng sau là Gray sẽ phải cúi mặt xuống
mà nói với ông; “Thưa thuyền trưởng Gốp, cháu đã bị xây xát hết
cả khuỷu tay khi leo dây thuyền, cháu bị đau hết cả mạng sườn và
lưng, ngón tay không duỗi được nữa, đầu nhức, chân run lẩy bẩy.
Những dây chão ướt nặng hàng hai pút này làm trĩu cả tay, những
mớ dây rợ, đoạn nối cột buồm... đã hành hạ cơ thể mềm mại của
cháu. Cho cháu về với mẹ cháu”. Nghe lời cầu xin tưởng tượng ấy,
thuyền trưởng Gốp tưởng tượng luôn câu trả lời: “Thôi, cậu muốn
đi đâu thì đi, con chim nhỏ của tôi ạ. Nếu đôi cánh của cậu bị
dính nhựa thì về nhà cậu có thể lấy nước hoa Rôđa Mi-môđa mà rửa
sạch được đấy”. Cái thứ nước hoa tưởng tượng ấy làm thuyền
trưởng thấy đắc ý hơn cả, ông buột miệng nói thành lời: “Phải
rồi, cậu hãy về nhà mà kiếm nước hoa Rôđa Mi-môđa!”.
Nhưng rồi đoạn đối thoại tưởng tượng kia ngày càng ít có dịp lắp
lại trong tâm trí thuyền trưởng, bởi vì Gray đã đi tới đích mình
mong muốn với bộ mặt tái nhợt, đôi môi mím chắt. Anh đã làm mọi
công việc nặng nhọc với sự cố gắng lớn lao. Anh cảm thấy ngày
càng dễ chịu hơn, khi con tàu khắc nghiệt ấy gần gũi hơn với
anh, khi mọi việc lạ trở thành quen thuộc. Có khi dây xích mỏ
neo làm anh ngã xuống sàn tàu, dây chão mà anh không kéo nổi làm
tuột da tay, cánh buồm ẩm ướt có đính vòng sắt bị gió táp vào
mặt anh. Tóm lại toàn bộ công việc thật sự là một thử thách, đòi
hỏi phải hết sức chú ý. Nhưng càng thở nặng nhọc, càng mỏi cứng
lưng, anh càng luôn luôn giữ được nụ cười coi khinh mọi gian
khó. Anh âm thầm chịu đựng những lời giễu cợt, chê bai của các
thuỷ thủ dạn dày để rồi cuối cùng, họ phải thừa nhận anh là
người của họ, làm được như họ. Và cũng từ đó anh nhất thiết dùng
nắm đấm để đáp lại mọi xúc phạm.
Có lần thuyền trưởng Gốp trông thấy anh cuốn buồm thành thạo, đã
tự nhủ thầm: “Thế là mày đã thắng cuộc đấy, Gray ạ”. Khi Gray
tụt từ trên cột buồm cao xuống, thuyền trưởng gọi anh vào buồng,
mở rộng trước mặt anh một cuốn sách đã nhàu nát rồi nói;
- Cháu nghe đây! Bỏ hút thuốc đi! Đã đến lúc cho cháu làm thuyền
trưởng được rồi!
Và anh bắt đầu đọc, đúng hơn là nói và gào to những từ cổ xưa về
biển trong cuốn sách. Đó là bài học đầu tiên của Gray. Trong
vòng một năm, anh đã làm quen với nghề hàng hải, với thực hành,
với cấu trúc tàu, luật đi biển, bản đồ hoa tiêu và cách tính
toán. Thuyền trưởng Gốp đã bắt tay và xưng “chúng ta”với anh.
ở Van-cu-ve, Gray nhận được thư mẹ, một bức thư đầy nước mắt và
sợ hãi. Anh viết thư trả lời: “Con biết mẹ lo cho con. Nhưng nếu
mẹ tận mắt nhìn thấy được như con nhìn, mẹ hãy nhìn bằng đôi mắt
của con. Nếu mẹ nghe được như con nghe, mẹ hãy áp tai vào con ốc
biển, mẹ sẽ nghe thấy âm thanh muôn đời của sóng. Nếu như mẹ yêu
thương tất cả những gì con đã yêu, thì trong thư của mẹ, ngoài
tình thương và con người, con có thể thấy cả nụ cười”. Và Gray
vẫn tiếp tục cuộc hành trình trên biển cho đến khi con tàu A-xem
chở hàng về bến Đu-ben. Tranh thủ lúc tàu dỡ hàng, chàng thanh
niên Gray, lúc này đã hai mươi tuổi, quyết định trở về thăm lâu
đài.
Toàn cảnh lâu đài vẫn như xưa, từng chi tiết nhỏ cũng như cả ấn
tượng chung đều vẫn thể, không khác gì năm năm trước đây, chỉ có
những hàng cây du còn non trồng phía trước lâu đài là cao lớn
hơn, tán lá sum suê hơn.
Những người làm công trong nhà chạy ra đón anh mừng rỡ, cuống
quít rồi lặng đi một cách kính cẩn như mới hôm qua gặp gỡ cậu
Gray này. Họ chỉ cho anh mẹ anh hiện đang ở đâu. Anh bước lên
căn phòng xây cao, nhẹ nhà mở cửa, lặng yên đứng nhìn người phụ
nữ tóc bạc vận đồ đen. Bà đang đứng trước tấm ảnh Chúa lầm rầm
cầu nguyện. Giọng nói nhỏ nhẹ của bà nghe vang xa như tiếng đập
của trái tim. “Cầu Chúa ban phước lành cho những người đi biển,
những người lênh đênh ngoài khơi, những người bị Ốm yếu, đau
khổ, tù đày”. Gray lắng nghe, sau đó anh thấy mẹ nói tiếp: “Cầu
cho đứa con trai tôi... ” Đến lúc ấy anh mới nói: “Con đây... ”
Nhưng rồi anh không thể nói thêm gì nữa. Người mẹ quay lại.
Trông bà gầy đi nhiều, gương mặt nghiêm trang của bà bỗng rạng
rỡ lên như tuổi trẻ bất chợt trở lại với bà. Bà bước nhanh về
phía con trai, bà cười lên thành tiếng, khẽ gọi con, nước mắt
trào ra - tất cả chỉ có thế. Nhưng trong giây phút ấy, có lẽ bà
đã sống mạnh mẽ hơn, sung sướng hơn so với cả cuộc đời bà trước
đây. “Mẹ nhận ra con ngay, con trai yêu quý, bé bỏng của mẹ!”.
Và quả thực là Gray lúc này không còn là chàng thanh niên cao
lớn nữa. Anh nghe mẹ kể lại cái chết của người cha, rồi sau đó
anh tự kể về mình. Bà nghe con kể mà không phản đối, trách móc
một điều gì. Nhưng bà thầm nghĩ rằng cái điều mà Gray cho là cốt
lõi của cuộc đời mình thì bà chỉ coi là những thứ đồ chơi mà cậu
con trai bà thích chơi mà thôi. Những thứ “đồ chơi” đó là con
tàu, biển khơi và các lục địa.
Gray ở lại lâu đài bảy ngày. Đến ngày thứ tám, sau khi mang theo
một số tiền lớn, anh trở về Đu-ben và nói với thuyền trưởng Gốp:
“Cám ơn bác. Bác là người bạn rất tốt của cháu. Nhưng bây giờ
thì phải chia tay thôi bác ạ, - đến đây anh nắm chặt tay thuyền
trưởng như để nhấn mạnh ý nghĩa của lời mình nói. - Bây giờ cháu
sẽ đi biển trên một chiếc tàu riêng của cháu, bác ạ”. Thuyền
trưởng nổi giận, ông nhổ nước bọt, giật tay ra rồi bỏ đi. Nhưng
Gray đã chạy theo, ôm lấy ông. Thế rồi họ đã cùng với toàn đội
thuỷ thủ gồm hai mươi bốn người ngồi bên nhau trong khách sạn ăn
uống đủ mọi thứ có trong quầy hàng và trong nhà bếp, hò hét, hát
hỏng.
ít lâu sau, trên bến cảng Đu-ben, những vì sao đêm đã lấp lánh
trên bóng đen của một con tàu mới. Đó là con tàu Gray mới mua.
Con tàu có tên là Bí mật, có ba cột buồm và chở được hai trăm
sáu mươi tấn. Trước khi số phận đưa đẩy anh đến thị trấn Li-xơ,
Gray đã vừa là chủ vừa là thuyền trưởng của con tàu ấy được bốn
năm. Nhưng anh mãi mãi ghi nhớ tiếng cười yêu thương của mẹ khi
gặp anh và năm nào anh cũng về thăm nhà đôi ba lần, đem lại cho
người mẹ già tóc bạc niềm tin mơ hồ rằng cậu con trai to lớn kia
chắc là đã điều khiển được những thứ “đồ chơi” của mình.
Chương 3
Rạng đông
Con tàu Bí mật của Gray rẽ
sóng, bọt tung lên vạch trên đại dương một vệt trắng và tắt dần
trong ánh lửa |