Công Nương Và Hoa Cẩm Chướng Pages  1  2  3  Next   
Chương 1

Buổi trưa ẩm ướt tháng Mười Một đó là ngày bức hoạ của Holbein thu hút giới mộ điệu tới Vernon, nơi có một cuộc đấu giá không tiền khoáng hậu về giá trị cũng như về mức độ quan trọng của nó. Bức họa được gửi đến không hẹn trước từ Tu Viện Wroxon bởi gia đ́nh Kneller, là bức hoạ nổi danh mang tên Quư Cô với hoa cẩm chướng, một tuyệt tác với sự pha trộn giữa nét thanh tú và phi thường trong cách thể hiện, bức họa là một chân dung nhỏ của Cô de Quercy, con gái của ngài đại sứ trong

Archibald Joseph Cronin
triều vua Henry Thứ Tám - được ra mắt năm 1532, không bao lâu sau sự tái xuất hiện của Holbein ở London từ Basel – phong cách độc đáo nhất và thời gian huy hoàng nhất của vị bậc thầy này.
Pḥng hành lang đấu giá dài bị chật cứng người đúng bốn giờ rưỡi khi bức họa được kêu giá. Cuộc đấu giá bắt đầu với giá khiêm nhượng là hai ngàn guineas (guinea = đồng vàng Anh = 21 shillings, 1 shilling [hào] = 12 pence [xu]), tăng nhanh thành năm ngàn, ngưng một hồi lại tăng lên bảy ngàn, rồi ngưng và tăng với nhịp điệu thay đổi để loại trừ các kẻ cạnh tranh, rốt cuộc chỉ c̣n hai vị sừng sỏ, và giá cuối cùng lên tới chín ngàn bốn trăm guineas. Giá này đến đây ngừng lại.
“Chín ngàn bốn trăm guineas.”
Người điều khiển đấu giá, ẩn trong lốt y phục diều hâu đỏ may cắt khéo léo, tóc được chải ngôi cẩn thận, chiếc kim đính hạt trai viền nổi bật trên nền cà vạt đen, làm tôn thêm dáng vẻ của ông trong lúc mắt không rời khuôn mặt điềm tĩnh ngoảnh đi ngoảnh lại của Bernard Rubin. Rubin dường như ghét trả cao hơn mặc dù cuộc đấu giá đang gây bất lợi cho ông. Cuối cùng, ánh mắt sùm sụp khó nhận thấy dưới cái nón rộng vành chợt sáng lên với một nét ngoan cố, và ngay tức khắc giọng người điều khiển vang lên:
“Chín ngàn năm trăm guineas.”
Ngay lập tức, một cử chỉ ra dấu gần như không thể cảm nhận phát ra từ phía đối diện của căn pḥng.
“Chín ngàn sáu trăm,” giọng người điều khiển lễ phép vang lên.
“Chín ngàn bảy trăm,” Rubin tăng giá một cách giận dữ nhưng lần nữa lại có kẻ đấu giá khác ra hiệu, có vẻ thách thức với ông.
“Chín ngàn tám trăm,” người điều khiển tuyên bố và dướn người về phía Rubin.
Nhưng lần này Rubin chịu thua, giới hạn của ông chỉ có nhiêu đó, vẻ kiên cường không c̣n nữa từ lúc tiến hành đấu giá. Nếu có một thứ khiến già Bernard Rubin đứng đầu trong kỹ nghệ đồ cổ, đó chính là tài dừng lại đúng lúc.
“Chín ngàn tám trăm guineas,” người điều khiển lặp lại, đảo mắt khắp căn pḥng chật cứng. Một sự im lặng.
“Lần chót, chín ngàn tám trăm guineas.” Một tràng im lặng nữa, kỳ lạ, và cuối cùng được chấm dứt bằng một tiếng búa gơ mạnh.” Bán với giá chín ngàn tám trăm guineas... cho Cô Lorimer.”
Katharine Lorimer đứng dậy nhẹ nhàng từ chiếc bàn dài nơi nàng ngồi, tiến tới cánh cửa đôi phía cuối căn pḥng rộng lớn. Nhiều vị đấu thầu lịch sự lùi lại khi nàng bước ngang, th́ thầm lời chúc tụng, ngoài một nụ cười nhẹ nàng dường như không chú ư tới họ lắm. Có lẽ nàng nhận thấy khó trả lời lúc đó v́ sự kiện táo bạo mới xảy ra, nàng cảm thấy nhịp đập rộn lên v́ sự căng thẳng vô tận của vài giây cuối. Nàng đă đặt trọn trái tim vào bức hoạ, và một sự đặt giá nữa từ Rubin có lẽ sẽ đánh bại nàng.
Từ bậc thang đi xuống, già Bernard hội nhập với nàng, bước đi lộp cộp nặng nề bên cạnh nàng trong sự im lặng khó hiểu. Chiếc xe hơi của ông ta, màu đen và bạc kiểu Continental, thiệt là bự và đắt tiền mà ông ta không bỏ lỡ cơ hội nào khoe với mọi người giá mua nó, đang đậu cạnh lề đường bên ngoài. Tới ngưỡng cửa, Katharine và Rubin ngừng lại, ngạc nhiên v́ tiếng động và mật độ giao thông, v́ sự chói ḷa và sự càu nhàu chói tai của London, làm cho pḥng đấu giá dường như xa vời và có vẻ không thực.
“Cô đi cùng đường với tôi?” Rubin hỏi, một cử chỉ như muốn đưa nàng về.
Gần năm giờ rồi và Katharine bất chợt quyết định không trở lại làm việc tiếp mà về nhà. Nàng gật đầu, một làn gió thoảng vương nước mưa và sương mù làm nàng run lên nhè nhẹ và bước vội vào xe.
Đường King đă tệ, nhưng Piccadilly lại nằm ở vị trí tệ hơn, ngập ngụa bế tắc với xe buưt hai tầng và tắc xi. Chiếc xe chạy rồi ngừng rồi chạy nữa về hướng đường Curzon, Rubin với đôi mắt sùm sụp dưới hàng lông mày ḍng Semite (người gốc Ả Rập hay Do Thái) nh́n chằm chặp vào Katharine với vẻ sắc sảo có tính châm biếm kỳ quặc.
“Cô trả quá nhiều, Cô Lorimer,” cuối cùng ông lên tiếng.
“Ư ông là quá nhiều cho ông, ông Rubin?”
Rubin cười nhẹ, “Có thể, có thể!” Ông ta đồng ư với sự phong phú dễ dăi, ngừng một chút để ngưỡng mộ chiếc nhẫn một hột đá quư hoàn mỹ trên ngón út tay trái. “Mọi việc phải tiến triển tốt đẹp lắm nên cô mới cho giá khá cao. Phải không, cô Lorimer?”
“Ồ, không đến nỗi tệ.” Giọng Katharine hoàn toàn tự nhiên.
“À, tốt! Thật là tuyệt! Thật là đặc biệt khi mọi người c̣n lại trong ngành buôn không được như ư lắm. Không làm ra tiền, không có thân chủ, không có việc ǵ để làm. Nhưng cô – cô lại có thể trả một lúc mười ngàn cho một bức hoạ nho nhỏ của Holbein. Cứ cho là vậy đi! Tại sao nhỉ, khó có thể tin được.”
Môi Katharine mấp máy định đáp, nhưng vội ngưng lại. Thay vào đó, nàng cười nhẹ với nụ cười cố hữu, gần như là gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tính khí trầm lặng của nàng, và nàng ngồi dựa lại phía sau trong góc ghế xe, nh́n thẳng về phía trước mặt. Sự dứt khoát và điềm tĩnh lúc nào cũng làm nàng căng thẳng, nhưng lạ lùng thay, ẩn dưới sự yên tĩnh là một sự bốc đồng không tưởng nổi, và trong ánh mắt sâu thẳm của nàng có nhiều tia sáng ngấm ngầm và run rẩy bên bờ lề cuộc sống muôn màu muôn sắc. Nhưng nh́n chung nàng vẫn buồn, vầng trán rộng có ngấn như thể trong quá khứ nàng đă có nhiều giây phút khó khăn và lúng túng. Vẻ mặt của nàng cùng màu sắc hài hoà tuyệt đẹp, làn tóc nâu với đôi mắt nâu nồng ấm trên một khuôn mặt trái xoan hơi tái. Răng nàng trắng ngần đến nỗi một nụ cười mỉm chi cũng toả ra sức sống. Nàng không quá ba mươi lăm. Nhưng ở đó ghi nhận một vẻ trang nghiêm, sự cảm nhận có tính tự chủ, thái độ trầm tư đến vật xa vời và trừu tượng nào đó làm nàng cách biệt hẳn và đôi khi có vẻ ghê gớm.
Áo váy của nàng, bằng len trơn thẫm màu, được chọn lựa cẩu thả trong lúc vội vă và chiếc mũ được đội hơi lệch về phía sau th́ rẻ tiền và không hợp thời trang. Rơ ràng là nàng không có khiếu thẩm mỹ về y phục. Nhưng đôi giày của nàng được làm bằng tay từ loại da quư, làm nổi bật nét tự phụ duy nhất là đôi bàn chân thon xinh đẹp.
“Dĩ nhiên,”Rubin nói một cách tinh quái,”nếu cô quan tâm tới lợi nhuận, khoảng mười phần trăm, và một khoản tiền mặt mau lẹ...”
Katharine lắc đầu một cách cộc cằn. “Cám ơn, ông Rubin. Nhưng khi tôi bán bức Holbein, đó mới là tiền thật sự.”
“Tiền thật. Nó không c̣n tồn tại nữa. Ít nhất là không có ở đây. Không, không!” Rubin cười nhếch mép, nhại lại một bài hát thịnh hành. “Cô không kiếm được nó ở đó đây.”
“Có lẽ không,” Katharine đối mặt với ông. “Lắng nghe đây, ông Rubin, và ngưng làm tṛ. Tôi sẽ đem bức hoạ tới New York tháng tới. Khi tôi tới đó, tôi sẽ bán lại cho Brandt. Ông ta bây giờ đang ở Argentine, nhưng ông ta sẽ trở về vào ngày 12 tháng Chạp. Ông ta sẽ mua bức Holbein. Ông ta sẽ mua từ tay tôi với giá là hai mươi ngàn bảng Anh (pound).”
“À, Brandt - một canh bạc,” Rubin phản bác lại với một sự kính trọng bất th́nh ĺnh. “Tốt, cô là một người khéo léo, cô thân mến, nhưng, nhớ lời tôi, nếu là tôi, tôi sẽ không liều đâu!”
“Tôi có thể chấp nhận làm liều,” Katharine trả lời vui vẻ.
“Cứ như vậy.” Rubin gật đầu như một vị quan. “Cứ như vậy, cô thân mến, cô biết ḿnh rơ hơn là tôi.”
Ông ném một tia nh́n khác vào nàng, bắn ra với câu hỏi và một ḷng mến mộ chắc chắn không có thiện ư, nhưng tính nghiêm nghị đến trống rỗng mà nét mặt nàng lại rơi vào trạng thái đó gần như làm tan biến cuộc tṛ chuyện. Im lặng rơi vào trong xe và tiếp tục như thế cho đến khi Rubin, như thể v́ áy náy đă xoá đi một ấn tượng khó xử, vội đổi đề tài.
“Cô cháu diễn viên nhí của cô, Nancy Sherwood, cô ấy ra sao rồi?”
Katharine tức th́ ngoảnh lại, khuôn mặt thay đổi, có vẻ quan tâm sâu sắc. “Hạng nhất, ông Rubin. Cô ấy mới đính hôn.”
“Tốt, tốt. Anh chàng may mắn đó là ai?”
Môi Katharine co lại. “Tối nay tôi mới biết. Tôi được mời đi dự tiệc - để gặp cậu ta. Mọi việc bây giờ xảy ra thật lạ thường. Có vẻ khác hẳn thời trẻ của tôi.”
“Nhưng cô c̣n trẻ, cô thân mến,”Rubin xen ngang một cách khéo léo.
“Ồ, bậy nào. Ông hiểu ư tôi nói. Nancy tới Nice để nghỉ hai tuần trước khi bắt đầu buổi diễn và khi về lại kéo theo anh chồng tương lai như thể anh ta là cái túi xách mới.”
“Tốt, tốt, mọi việc xảy ra nhanh thật,” Rubin cười khoái trá. “Những ư nghĩ thiển cận bị đẩy lùi ra sau hết.”
Chiếc xẹ quẹo ngoặt sang đường Curzon và dừng lại đối diện căn hộ của Katharine, Rubin tinh quái công kích nàng lần cuối.
“Không chừng bức Holbein đến vào lúc cần thiết cũng nên!”
Ông ta vỗ nhẹ vào tay nàng khi nàng sắp rời xe.
“Nếu cô không bán nó, có thể làm quà cưới được đó?”
Với lời chế nhạo mỉa mai vo ve bên tai, Katharine quay người về phía căn hộ, nằm trong khu căn hộ siêu cấp mới dựng lên gần đây. Căn hộ xa hoa với máy điều hoà nhiệt độ và gần như theo xu hướng nghệ thuật Baroque nguy nga tráng lệ của toà nhà không hợp thị hiếu của nàng, nhưng nàng t́m được chỗ này thuận tiện cho công việc làm ăn, nó tạo cho nàng, hơn thế nữa, điều cần thiết cho cái nghề không dễ làm xiêu ḷng của nàng là một địa chỉ tốt. Người gác cửa mở lối cho nàng và đưa nàng tới thang máy, trong khi một người kia, tóc bện thẳng hàng, đưa nàng tới tầng sáu và khúm núm nghiêng ḿnh tiễn nàng ra khỏi thang máy.
Mặc dù nhớ đến những căn nguyên và có thói quen đơn giản, Katharine không bao giờ ngưng tự hỏi ḿnh trong hoàn cảnh nào hay thường xuyên t́m ra một bí mật, sự vui sướng thời ấu thơ từ cách lặng ngắm những vật linh tinh như cầu trượt lấy thư tự động hay những anh chàng xu nịnh khờ khạo, tối nay sự chú ư của nàng đă bị thứ khác choán hết. Nàng hồi tưởng lại những lời lẽ nặng nề khắc nghiệt của Rubin hồi chiều, tự hỏi ḿnh rằng lăo cáo già biết được bao nhiêu về khó khăn tài chính của nàng và nàng công nhận bằng cái thở dài vô ư thức rằng lăo ta không biết ǵ hết, lăo ta chắc chắn dựa đoán điều tệ hại nhất nào đó.
Lúc nàng vào nhà, vẻ mặt nàng thư giăn hơn, trở nên mệt mỏi hơn và hơi bị quấy nhiễu. Nàng cho phép ḿnh nghĩ rằng đă trải qua một ngày nhọc mệt với nhiều lo lắng và có khách không sang ngay đầu ngày, không có tí ǵ bỏ bụng lúc trưa và cuộc du ngoạn điên rồ với bức tiểu họa vào cuối ngày. Đầu nàng nhức nhối kinh khiếp, và thể xác làm việc quá sức của nàng chợt nhẹ tâng rồi lảo đảo. Trong bộ dạng lúng túng, nàng giật phăng chiếc mũ và liệng nó cùng với găng tay và túi xách lên chiếc trường kỷ. Rồi nàng đi vào căn bếp nhỏ để pha trà và quyết định luộc một quả trứng.
Mười lăm phút sau, nàng ngồi trên chiếc ghế băng bằng kẽm lạnh trong pḥng ăn, đối diện là chiếc tách đă vơi cùng với vỏ trứng, một sự vô lư tột bực của sự việc ập tới. Nàng trả tiền thuê bốn trăm bảng Anh một năm cho căn hộ này và sáu trăm nữa cho cơ sở thương mại. Nàng mới chi mười ngàn cho một bức tiểu họa. Và bữa ăn tối tốn khoảng bốn xu. Nàng cười cho đến lúc nước mắt trào ra, những giọt lệ cay đắng, và nàng để mặc chúng chảy dài, nàng vật vă khóc.
Trở lại pḥng khách - một căn buồng yên tĩnh, trống trải nhưng trang bị thuận tiện với một vài đồ đạc hợp thời - Katharine tuột giầy, ngồi cuộn tṛn trên ghế, châm một điếu thuốc. Nàng hút không thường xuyên, chỉ khi nàng rất vui hay rất buồn, và tối nay nỗi buồn phiền của nàng không có giới hạn. Việc kinh doanh gần đây xấu tệ. Ngành mua bán đồ cổ là như vậy, đến rồi đi như sóng biển. Nàng đă từng phất lên nhanh như bao người khác, và bây giờ nàng lại đắm ḿnh gần như vô vọng trong t́nh trạng khủng hoảng kinh tế này. Nàng cố chống chịu, và dĩ nhiên sẽ có cơ hội phục hồi. Mọi sự tiết kiệm có thể đă được thử nghiệm. Mặc dù nàng không thể thoát khỏi hợp đồng thuê nhà trên đường Curzon và đường King, nàng không lái xe nữa và giảm chi tiêu tới mức tối thiểu. Thời thế thật khó khăn.
Nàng cương quyết không xem xét lại những vấn đề rắc rối trong t́nh h́nh tài chính của ḿnh. Nàng có đủ thời giờ làm việc đó vào thứ Hai sau khi tới gặp ông Farrar ở nhà băng.
Ngoài ra, nỗi sầu muộn tối nay của nàng nhiều và riêng tư hơn bao giờ. Nàng cảm thấy cô đơn ghê gớm. Trong con mắt của họ hàng và bạn bè, nàng đạt nhiều thành công. Ḍng cảm nghĩ đưa nàng trở về thời xa xưa, khi nàng chỉ mới mười sáu, bỡ ngỡ từ trường tư thục và một gia đ́nh nửa như tan vỡ ở Tulse Hill và bước vào đời, rụt rè làm chân đánh máy cho Twiss và Wardrop, Household Furnishing, Duck Court, High Holborn. Nàng được nhận vào làm ở nhà kho chứa đồ lặt vặt đó v́ cha nàng quen biết một người hùn hạp ở đó, một người không theo quốc giáo và nhiệt tâm, nhưng nàng vẫn run như cầy sấy – khi được giới thiệu – như lời ông Twiss nói, mất tinh thần trước cả cái xụ mặt của ông Wardrop.
Có nhiều thay đổi trong cuộc sống của nàng từ dạo đó. Bây giờ nàng là Antika cho King Street, St. James, và Park Avenue, New York trở nên nổi tiếng v́ khiếu thẩm mỹ và trang trí của nàng, v́ nàng là chuyên gia trong kỹ nghệ kiến thiết đô thị, sưu tập nữ trang rẻ tiền, đồ trang hoàng và mỹ thuật, có lẽ nàng là người phụ nữ môi giới nổi tiếng thế giới trong giao dịch đồ cổ. Làm sao có chuyện này nhỉ? Nàng nhớ rất rơ chuyện xảy ra v́ nàng quyết chí thực hiện nó, v́ nàng có quyết tâm không lay chuyển là lập nên sự nghiệp, hy sinh tất cả nếu bắt buộc, tôi luyện nàng trở nên chai đá cho các thử thách cam go cũng như mặt dày mày dạn trong công việc. Nàng muốn trả bằng mọi giá để thành danh. Nhưng, mọi việc bây giờ đă xong xuôi. Nàng đă thành công, và than ôi, giả dối nào hơn chuyện phù hoa ấy!
Điện thoại gần khuỷu tay nàng bỗng reng. Với vẻ uể oải v́ những rắc rối không ngừng trong đời nàng bây giờ chỉ c̣n là tiếng chuông điện thoại, nàng với lấy ống nghe.
Mẹ nàng gọi từ Wimbledon, trong một biệt thự ấm cúng nàng xây cho bà cách đây năm năm.
“Con có nhà ư, Katharine.” Chỉ qua đường dây điện thoại, giọng bà Lorimer cũng đượm vẻ pha trộn của nỗi khổ cực và sức chịu đựng bị lăng quên. “À, mẹ may mắn quá. Mẹ ít khi gặp được con mỗi khi gọi điện. Con không có lấy một giây phút chuyện tṛ với người mẹ già yếu này. Không bao giờ. Không bao giờ.”
“Con gọi cho mẹ tối quá đó thôi?” Katharine kiên nhẫn đáp lại.
“À, nếu thế th́ sao?”, bà cáu kỉnh trả lời. “A lô, a lô, con có nghe mẹ nói không?”
“Thưa mẹ, con có nghe mẹ.”
“Được, đừng có bỏ đi đó. Mẹ có nhiều điều muốn nói với con. Chờ mẹ chút. Mẹ viết cả lên tờ giấy này. Kính mẹ đâu nhỉ? Lạy chúa tôi, con đang đeo nó. Để xem, trước hết là con sẽ xuống chơi cuối tuần này, phải không, với Nancy và anh bạn mới của nó?”
“Vâng. Chúng con sẽ tới.”
“Thế th́ tốt, con yêu. Nghe đây này! Mẹ muốn con đem cho mẹ một ít đồ: len, hạnh nhân tẩm đường, bánh sô-cô-la, và một cuốn tiểu thuyết mới. Đừng quên hạnh nhân tẩm đường nhé Katharine – con biết chứ, nhăn hiệu mẹ hay mua ở Fortnum. Ồ, mẹ sực nhớ ra, con tiện mua luôn cho mẹ bột nhồi anchovy (một loại cá trống, cá cơm) chỗ đó luôn. Mẹ muốn quệt một chút xíu lên mẩu bánh ḿ nướng những chiều đông, làm cho tiệc trà trở nên ấm cúng và thoải mái cạnh ḷ sưởi. Nghe đây nè, Katharine, con có nghe mẹ nói không? Nhớ là cuộn len xám ba lớp để mẹ đan cái khăn choàng mới.”
Katharine kiên nhẫn lắng nghe, rồi mỉm cười nhẹ. “Được rồi mẹ. Con sẽ chu toàn mọi chỉ thị của mẹ.”
“Chỉ thị, thật vậy à! Giọng nói già nua vô t́nh cảm thấy bị tổn thương. “Con trách mẹ v́ một vài đ̣i hỏi cần thiết ư! Thật đấy, Katharine, sao con có thể gắt gỏng với bà mẹ già yếu này như với người dưng. Nếu cha con c̣n sống th́…”
Trước sự viện dẫn quen thuộc, Katharine đành lấy lại tự chủ. Nàng vội vă đáp, “Thôi nào, mẹ. Mẹ biết là con không có ư ǵ mà.”
Ngừng một lát.
“Con không cáu với mẹ chứ?”
“Dĩ nhiên là không có mà mẹ.”
“Tốt.” Một tiếng thở dài nhẹ nguôi ngoai vang lên trên đường dây. “Như thế là đủ. Con có nghe thấy không? A lô, a lô, cái con bé hỗn xược ở tổng đài lại làm đứt dây nữa bây giờ. Ngủ ngon nhé. Chúa phù hộ con, con yêu. Nhớ là đừng có quên hạnh nhân tẩm đường của mẹ đó.”
Katharine gác điện thoại với một cái lắc đầu. Mặc dù mẹ nàng đă dễ dăi nhiều so với trước, nhưng với thành kiến và những yêu cầu của bà, bà có những lạm dụng không ngừng. Bà thích than phiền. Bà thường xuyên làm như vậy không biết mệt mỏi.
Nhưng bây giờ, liếc nh́n đồng hồ, Katharine cương quyết vứt bỏ mọi ưu phiền. Nàng đứng dậy, đi vào buồng tắm, và vặn ṿi nước. Mặc dù nàng không muốn đi chơi tối nay, nhưng nàng không thể làm Nancy thất vọng. Nhanh chóng một cách vội vă, nàng cởi đồ ra và bước vào bồn tắm.
Khi nàng đắm ḿnh trong làn nước trong, không hương vị, hồi sức dễ chịu lại dưới ḍng nước ấm, nàng nghĩ về cô cháu gái của ḿnh, vẻ ưu tư chợt biến mất, và làn môi cong lên một nụ cười dịu hiền. Nàng hết sức chiều chuộng Nancy, con gái của người chị lớn Grace, người đă lấy Joe Sherwood ngược lại với nguyện vọng của mẹ nàng, sống hạnh phúc với anh ta được mười lăm năm, chợt định mệnh bị lăng quên đă vạch sẵn ra cái chết chung của nàng cùng với chồng trong tai nạn xe gắn máy thảm khốc trên đường Great West. Kể từ ngày tang tóc đó, Katharine dưỡng nuôi Nancy, đứa bé gái gầy và cao lêu nghêu mười bốn tuổi, nuông chiều nó rất mực, nuôi ăn học đầy đủ, sau đó lại cho học trường Nghệ thuật Sân Khấu, lại chiều theo ư thích của cô để lên sàn diễn cách đây mười hai tháng. Với sự tận tâm đó, Katharine lại nhạy cảm với ai bảo nàng chiều cháu quá mức - không có ǵ là quá đáng cho Nancy, một cô gái xinh nhất và yêu kiều nhất trên thế gian.
Thật là lạ nếu nghĩ rằng cô đă là người lớn, từ Riviera trở về với cái tin đính hôn nhẹ nhàng này. Một cái tin đẹp, một điều hay nhất xảy đến cho cô, ổn định cuộc sống nhanh để hưởng thụ với chồng và con. Đó là điều mong ước của Katharine cho Nancy, với một lư do lạ lùng, nàng ước mong với tất cả tấm chân t́nh.
Bật dậy, Katharine lau người nhanh với tấm khăn thô nhám làm làn da mịn trắng ửng lên. Vô tư lự nàng nghĩ về thân h́nh khoẻ mạnh của ḿnh, nếu không có nó nàng đă không chịu đựng nổi những nhọc mệt và vật lộn trong những năm gần đây.
Nàng thay đồ chậm hơn b́nh thường, lựa một chiếc váy dài nàng mua hồi nọ ở Paris. Thông thường, ăn vận y phục hiếm được coi là quan trọng với Katharine. Nàng tự nhủ thẳng với ḿnh rằng không có lư do hay thời gian nào cho sự loè loẹt và thường thẳng thắn chấp nhận sự tầm thường - một thái độ thường được thừa nhận với nụ cười mỉm cho sự ngoan cố của một phụ nữ thành công và giàu có. Nhưng tối nay, với tâm hồn hưng phấn, nàng thấy phải diện để đẹp ḷng Nancy.
Tám giờ rưỡi, ngồi trước tấm gương Vauxhall nhỏ tại bàn trang điểm, nàng sẵn sàng cho cuộc đi chơi, và quyết định như vậy khi nh́n bóng ḿnh trong gương, bỏ mặc những âu lo phiền muộn trong ngày. Một vài nếp nhăn dưới mắt, nhưng nước da đẹp tự nhiên không trang điểm của nàng đầy tươi mát và cân đối. Với làn môi tươi tắn phản chiếu nét răng trắng ngọc, chứng tỏ một khí lực trong sáng và mănh liệt.
Ngoài sân, mưa đă tạnh, và bờ lề được làn gió rét buốt chùi sạch khô, mời mọc một cuộc dạo mát gồng ḿnh. Vào những đêm như vậy, Katharine thích bước trên đường phố im vắng, thể xác và tâm hồn thả theo gió, đôi má ngứa ran từ đoạn đường lồng lộng. Chỉ lần này thôi, nàng không muốn đôi giày dạ hội và lễ nghi chỉnh tề bị lấm lem mà cố gh́m nén sự cám dỗ. Nàng đón tắc xi tới Adelphi, chỗ cao chót vót trong ngôi nhà Adam cổ góc đường John, là chỗ ở của Nancy.
Toà nhà không có thang máy, những tầng dưới dành cho văn pḥng tư vấn pháp luật, và Katharine leo lên những bậc thang ṃn cuộn ṿng bờ tường tráng vữa stucco (xi-măng), lời hứa tổ chức một dạ tiệc không thể lầm lẫn được bỗng hướng vọng về phía nàng. Thật ra, khi nàng tới nơi, ngang qua ṿng tay tiếp đón của cô hầu gái nhanh nhảu của Nancy cùng tên đầy tớ trai vận lễ phục trong những dịp lễ lộc, kia là căn pḥng đôi rộng lớn đầy người lẫn khói thuốc và tiếng huyên náo.
Lúc Katharine bước vào, Nancy tiến lại gần, dang tay ra đón chào nàng rồi hôn lên má nàng.
“Ồ, d́ Katharine,” nàng nói. “Thật là tuyệt khi gặp lại d́. Mấy ngày nay, con muốn gặp d́ gần chết luôn.”
Katharine mỉm cười. “Thế sao con không chịu tới thăm d́? Con về đây hôm thứ Tư mà.”
“Con biết mà, d́ yêu. Con muốn lắm chứ, nhưng trời ạ, d́ không biết là con bị dồn dập đến cỡ nào với cuộc diễn tập cho vở kịch mới này, rồi quần áo nè, rồi Chris và đủ mọi thứ luôn.”
“D́ hiểu mà.”
Katharine chằm chằm nh́n Nancy một cách tŕu mến, thầm nghĩ nàng thật là quyến rũ tối nay. Mặc dù nàng chỉ mới hai mươi bốn tuổi, nàng đă ra nẩy nở hoàn toàn, h́nh dáng thanh tú yêu kiều. Khuôn mặt đáng yêu, có hơi căng thẳng với g̣ má cao, cặp mắt xanh biếc hơi xéo với đôi lông mày kẻ ch́ mỏng. Tóc nàng cũng mượt mà, nhuộm màu vàng hợp thời, óng lên những lọn vàng. Miệng của nàng mỏng và đỏ thắm mặc dù Nancy không thoa son. Dáng người thanh mảnh của nàng, lấy cớ là biếng nhác lại chứa đựng một sự xúc cảm mănh liệt lạ lùng đến sôi nổi.
“À,” Katharine đáp với vẻ nghiêm nghị, “d́ tưởng là con gắn bó lắm với nghệ thuật.”
Nancy cười to. “Con vẫn c̣n mà d́. Nhưng nó không ngăn cản con lấy Chris đâu.”
“D́ biết,” Katharine mỉm cười, rồi liếc quanh. “Chris đâu rồi?”
“Con muốn d́ đi t́m chàng, d́ yêu!”
“Cái ǵ!”
“Sẽ vui lắm mà. D́ lúc nào cũng lạc lơng trong đám bạn của con, d́ yêu. Con cá với d́ là d́ chẳng t́m thấy chàng đâu hết.”
“Nếu cậu ta là một người lịch thiệp” - môi Katharine cong lên thích thú – “d́ nghĩ là cậu ta phải đi t́m d́!”
Tới giờ, lần lượt khách khứa lục tục tới, và Nancy, làm điệu bộ nhăn nhó với Katharine rồi hoà ḿnh vào đám khách. Katharine bước tới dăy bàn đầy thức ăn, lấy lại phong độ bằng cách chọn cho nàng một đĩa bánh ḿ nướng có quệt bột trứng cá muối (món ăn khai vị, có khi quệt với phó mát). Nàng không dễ bị lôi cuốn vào trung tâm của buổi tiệc, hoàn toàn dễ chịu khi đứng một ḿnh chỉ với ổ bánh ḿ cặp. Cử chỉ của Katharine có một mối tự tin đáng chú ư được gọt giũa hoàn hảo và tự nhiên hết sức sau những lần giao dịch xă giao – mà chỗ này cũng thế. Ngoài ra, tiệc tùng cũng giải trí nàng, nhận xét của Nancy chính xác: nàng ít quen biết bạn của cháu nàng. Một hay hai người nàng nhận ra: David Almoner, diễn viên trẻ tuổi kịch Shakespear và vợ là Nina George, tay chơi dương cầm; Arnold Rigby, nhiếp ảnh gia thời thượng; John Herries, đạo diễn kịch nói ở B.B.C.; và Tony Ulrich, tác giả cuốn tranh thơ tự hoạ Libido Limericks, mà Katharine thấy thô tục và hết thời, nhưng lại trên đà nổi tiếng. Nhưng phần đông những gương mặt đều xa lạ với nàng. Nàng uống một ly sâm-banh và ăn thêm vài viên trứng cá muối. Thức ăn tự phục vụ ngon tuyệt. Nàng chấp nhận một cách vô ư thức sự thật này đúng cái lúc nàng có thể phải bỏ tiền mua.
Buổi tiệc trở nên nhộn nhịp hơn. David Chesham tới, là tác giả của Moonlight in Arcady, vở kịch Nancy sẽ tŕnh diễn, và vài phút sau Sam Bertram – gọi thân mật là Bertie, nhà sản xuất nổi tiếng bấy giờ. Cả hai được Nancy đón tiếp với sự sung sướng vô ngần. Bertram vẫy tay với Katharine, một cử chỉ thân mật lịch sự ra dấu ông sẽ gặp nàng sau. Nàng tỏ ư nhận biết bằng nụ cười. Nàng quen biết Bertie vài năm nay, hay giúp đỡ ông với phần trang trí sân khấu cho các vở kịch, mến ông rất nhiều với nét xông xáo thân mật của người vùng phía Bắc.
Tiếng huyên náo nhiều hơn. Phía trên kia Ulrich đang đọc một bài thơ của ḿnh, trong khi Nina George hoà nhịp đệm lố bịch với tiếng dương cầm. Katharine bắt đầu cảm thấy mệt bỗng th́nh ĺnh nàng nghe một âm thanh vang lên bên cạnh, dễ nhận ra v́ sự im ắng bị phá tan bởi một giọng nói kiểu Mỹ.
“Dường như chỉ có tiểu thư và tôi là hai người duy nhất tỉnh táo ở đây.”
Nàng xoay người, ngạc nhiên. Một chàng trai cao ráo, vẻ hơi tái đứng vô tư với bàn tay đút túi quần, đáp vẻ thắc mắc của nàng với một cái liếc ngang lém lỉnh. Anh chàng khoảng ba mươi lăm, nàng đoán, bí hiểm, có nét mặt thanh tao, đôi chút hấp lực; vành môi trên dài hơi kỳ kỳ điểm một vết sẹo trắng có vẻ ban cho anh chàng một phong cách cố chấp và trầm tĩnh. Thật ra, mối liên hệ sở hữu ngầm nhường lối cho câu nhận xét đầu tiên gây một cảm giác bực bội cho Katharine.
“Tại sao lại gộp cả tôi?” nàng gằn giọng, đôi lông mày nhướng lên nhè nhẹ.
“À,” chàng kéo dài giọng, “Chắc không được, tôi nghĩ là tiểu thư không muốn vậy.”
“Như vậy chỉ c̣n lại ông thôi, như là một kẻ đại diện cho toàn thể nhân loại có trí thông minh và sức chịu đựng dẻo dai.”
Chàng cười thầm, nụ cười đùa cợt có tính kín đáo và không quấy rầy chỉ thấy được qua vài nếp nhăn nơi khoé mắt. “Tiểu thư nói trúng thật, Cô Lorimer. Tôi đoán tiểu thư có nhiều sáng suốt hơn những ǵ Nancy nói, mà nàng nói tiểu thư đă có nhiều rồi.”
Katharine thật sự ngạc nhiên, miệng nàng há ra. “Ư ông là...”
“Chắc chắn rồi!” Chàng gật đầu và mỉm cười, nụ cười tỉnh khô. “Tôi là Chris Madden. Xin đừng quá thất vọng. Tôi biết tôi không xứng với Nancy, nhưng tin tôi đi, Cô Lorimer, tôi sẽ không phụ ḷng nàng.”
Katharine chấp nhận cái bắt tay chắc nịch một cách máy móc, trong khi nàng cố lấy lại sự b́nh tĩnh.
“Thật là vô lư khi tôi biết rất ít,” nàng đáp. “Nhưng tôi có ngờ đâu rằng - rằng Nancy sẽ lấy một người Mỹ.”
“Tại sao không,” chàng đồng ư với giọng cân xứng hơi tranh luận. “Về phần tôi, tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ lấy một cô gái Anh.”
Sự công kích càng đi sâu thêm bởi v́ nàng thấy như có công, Katharine biến sắc, mặt ửng hồng một cách lạ lùng vội liếc nhanh tới chàng. Nhưng chàng cứ tiếp tục, như thể vô t́nh trước cảnh lúng túng của nàng.
“Cô biết không, chuyện như thế không bao giờ xảy ra như chúng ta mong muốn. Khi Nancy và tôi gặp gỡ ở Nice - Trời, tôi không thể quên phút giây đó - dưới ánh nắng chói chang – khác với sương mù ở đây, Cô Lorimer - nàng như hớp hồn tôi rồi.” Chàng vội ngắn gọn, ôn lại kư ức, rồi thêm: “Dù thế nào đi nữa, tôi nghĩ cái ǵ tới đă tới, như mọi người hay nói từ khi giai thoại Adam và Eve xảy ra.”
“Nghe cứ như thơ ấy.”
Sự giải thích của chàng, thật ra chỉ có thế, kết thúc lửng lơ làm cho câu trả lời của Katharine không hợp cảnh và có hơi đối nghịch. Có lẽ nàng có chút ghen tỵ với Madden. Nàng chụm môi thật chặt, đảo nh́n khắp người chàng lần nữa, lần thăm ḍ thứ hai và có phần kỹ lưỡng hơn, chú tâm tới y phục chàng, nổi tiếng không kém Saville Row, và hàng vải lanh được giặt ủi thẳng thớm. Đôi mắt nàng nheo lại. Bản năng bảo vệ Nancy trỗi dậy.
“Ông làm ǵ ở Nice vậy, ông Madden?”
“À, tôi đi nghỉ hè, kỳ nghỉ đầu tiên sau một thời gian khá dài. Tôi đă ở Rome và Florence và Vienna; và rồi tự nhiên tôi có hứng muốn tới Pháp lần nữa. Tôi từng ở Pháp thời chiến tranh - chuyện cách đây mười bảy năm. Nghĩ mà lâu thế, nhưng, kỳ lạ, khi tôi tới đó, thời gian có vẻ thu ngắn lại.”
“Thật thế ư!” Katharine đáp không nhiệt t́nh lắm. “Thời gian lúc nào cũng gạt gẫm. Ông có định ở đây dài lâu không, ông Madden?”
“C̣n tuỳ vào Nancy, Cô Lorimer. Tôi muốn chúng tôi lấy nhau sớm. Nhưng nàng vẫn hơi ràng buộc với kịch nghệ. Nàng chỉ nghĩ tới vở kịch mới. Họ sẽ công diễn ở Manchester sau tuần này, và với các buổi diễn tập, nàng thật bận rộn. Tất cả rồi cũng qua, tôi nghĩ thế. Bất cứ giá nào, tôi sẽ ở quanh nàng ít lâu cho đến khi nàng xong với vở kịch rồi thuyết phục nàng trở về Mỹ với tôi.”
“Dường như có vẻ bất th́nh ĺnh, ông có nghĩ vậy không, ông Madden?” Katharine trao cho chàng nụ cười lạnh lẽo. “Chúng tôi rất yêu chuộng Nancy ở đây. Riêng tôi rất là gắn bó với nàng...”
“Ồ, tôi biết,” chàng cắt ngang. “Nancy có kể tôi nghe, Cô Lorimer. Cô rất là tuyệt diệu với nàng.”
“Tuy nhiên ông lại chọn cách khác. Hạnh phúc của Nancy là tất cả đối với tôi. Trong những t́nh huống này, tự nhiên là tôi muốn biết điều ǵ đó về người đàn ông mà cháu tôi muốn lấy.”
Khuôn mặt chàng thay đổi, không c̣n vẻ cởi mở hào hứng nữa, dường như tắt hẳn, đóng sập và thay thế bằng sự trưởng thành và nét cứng rắn lầm ĺ. Chàng đổi cách nh́n ngang tầm với nàng và trả lời:
“Tôi biết cô nói ǵ.”
Có sự ngừng lại. Nàng đảo đôi mắt, ư thức rằng nàng đă làm chàng bị tổn thương bởi sự khiếm nhă của nàng và ngược ngạo thay, vừa đủ làm chính nàng bực ḿnh trong sự kiên nhẫn của ḿnh. Chưa hết, nàng tự nhủ một cách giận dữ rằng tại sao nàng có thể như vậy được? Nàng cáu với Nancy v́ đă không cho nàng biết chuyện đầy đủ. Nàng mường tượng một người khác hẳn, một người có thân thế và lai lịch rơ ràng. Người lạ mặt này, chàng người Mỹ cao lêu khêu này thơ thẩn đi vào làm quen với nàng, thức tỉnh ra, nếu không nói là có ác cảm, ít nhất là mối nghi ngờ không đẹp chỉ v́ lợi ích cho Nancy mà nàng không chấp thuận. Im lặng với những ư nghĩ xoay chuyển trong đầu, nàng vẫn đứng không vui vẻ bên cạnh chàng khi Nancy tới gần và mỉm cười rạng rỡ với cả hai.
“Con mừng là hai người nói chuyện vui vẻ. D́ thấy anh ấy thế nào hả d́ Katharine khi d́ đă thấy điều tệ hại nhất? Anh ấy dễ sợ quá phải không d́?”
Madden liếc xuống Nancy, gương mặt có sinh khí lần nữa, bất thần sống động hẳn ra.
“Anh e rằng d́ nghĩ anh khủng khiếp thật. Phiền một nỗi, Nance, anh đâu có ngờ có người lại trẻ và đẹp như Cô Lorimer đây, và d́ cũng đâu có ngờ ai lại cố chấp như anh vậy. Anh nói em nghe, bọn anh chẳng có hoà thuận chút nào.”
“D́ ấy rất kiêu căng,” Nancy đáp. “Nhưng nếu anh hiểu d́ đúng đắn, d́ lại đâu đến nỗi nào phải không.”
Katharine mỉm cười ngượng ngịu, nàng cảm thấy dây thần kinh căng ra một cách vô lư.
Nancy tiếp tục: “Nhưng, thật t́nh, d́ Katharine yêu quư, con muốn d́ t́m hiểu Chris đàng hoàng. D́ không nghĩ vậy, nhưng anh ấy rất có tiến bộ khi quen biết lâu. D́ sẽ biết nhiều nữa khi chúng ta xuống Wimbledon vào cuối tuần.”
Katharine trả lời với vẻ châm biếm khác thường lệ: “Cũng là một điều để bận tâm.”
“Ít ra là d́ đă được cảnh cáo rồi,” Nancy cười tự tin. “Giờ th́ đi với cháu, cả hai người nè, và hăy vui lên chứ.”
Nhưng Katharine, mặc dù cố gắng quên đi sự lo sợ bí mật, lại không thấy vui chút nào. Độ một giờ sau, nàng ra về, mang theo trong ḿnh một cảm giác hiếu kỳ tới một điều ǵ đó không xác thực và cảm thấy mất tinh thần.


Chương 2

Thứ Bảy đến - một ngày có gió đông lạnh lẽo thổi ào ào trên đường, hứa hẹn một sự đe doạ mănh liệt. Thời tiết này, thật ra, trong ṿng ba ngày gần đây xấu kinh khủng, khiến Nancy bị nhiễm lạnh. Nằm trên giường, nhiệt độ của nàng cao hơn b́nh thường tới hai độ nên bị cấm không được ra khỏi giường. Nhưng nàng năn nỉ Madden cứ làm theo chương tŕnh vạch sẵn, nghĩa là tới Wimbledon, ở ít nhất là một đêm. Chàng chẳng có ǵ làm ở London, và nàng không muốn chàng cứ quanh quẩn trong nhà nàng.
Katharine không vui sướng ǵ trước chuyện xảy ra, hoăn chuyến đi lại một vài tiếng. Gần bốn giờ, từ văn pḥng nàng gọi điện cho Madden và bảo chàng rằng nàng đă được rảnh. Chàng có vẻ như đang ngóng tin nàng cho nên đến đường King ngay lập tức. Chỗ này, Katharine chiếm hai tầng đầu tiên của toà nhà mặt tiền hẹp chạy sâu vào mảnh sân rải sỏi, lối ra vào là một cánh cổng ṭ ṿ bằng đá cổ dẫn đến những chỗ đậu xe ngựa cũng như cây đèn chạy bằng ga long trọng. Bầu không khí thật lư tưởng cho việc kinh doanh của nàng nhờ được điều hành đúng mực. Bên ngoài được trang trí khéo léo theo phong cách Georgia. Không có trưng bày cũng như treo biển, ngoại trừ một tấm bảng bằng đồng thau với hàng chữ “Antika Ltd.” nằm ở gờ bằng tranh trên cửa ra vào; xuyên qua cửa sổ màu trắng đục là dễ dàng phân biệt nền nội thất trang nhă của căn pḥng lợp ván panô phong phú màu nhạt dịu, từ sự lấp lánh phản chiếu nước bóng của khung h́nh Hoàng hậu Anne làm bằng gỗ cây óc chó tới vẻ đẹp lộng lẫy lu mờ của tấm gấm thêu kim tuyến thời thế kỷ thứ mười tám.
Đi lên tầng trên là một cầu thang với hàng lan can rộng được trám rănh máng hợp cùng những trụ điêu khắc thẩm mỹ chốt ở tay vịn cầu thang, Katharine có một văn pḥng tiện nghi, dài, sáng sủa với cái bàn lớn đặt giữa pḥng, ḷ sưởi lộ thiên, và một tủ két ở góc pḥng, tấm thảm Kirman tuyệt đẹp trải trên sàn, và nhiều tấm sơ đồ thiết kế trang trí và màu sắc được treo trên tường. Phần lớn việc kinh doanh của Katharine là chuẩn bị các sơ đồ này để ứng dụng vào việc phục hưng các căn nhà cổ. Nàng đă tạo cho ḿnh một uy tín độc nhất vô nhị nhờ vào những kiệt tác này, trong quá khứ, nhờ các sự uỷ thác, cả lớn lao và thu lợi, nó đă đưa nàng thâm nhập vào nhiều di tích quan trọng của Anh Quốc. Nàng không đơn thuần là “chuyên gia mua bán bất động sản” hay làm cái việc chở củi về rừng – hàng vốn của nàng được chọn lựa vừa đủ. Nàng ưa mua bán có tuyển lựa và chỉ khi nào hàng được bày ra trước mắt. Tài khéo léo này là vốn của nàng trong giao dịch. Sự tinh tế trong ḍ hỏi thân chủ đúng ư cho một vật mỹ thuật khiến nàng chụp lấy cơ hội có trong tay bức tiểu họa Holbein với ư định sang tay lại cho một nhà sưu tầm Brandt nổi tiếng ở New York.
Đồng hồ gơ bốn tiếng từ cái đồng hồ quả lắc chạm trổ sơn mài dựng trên một cái bệ khi Madden bước vào văn pḥng. Katharine bật dậy lập tức và ch́a tay ra để bắt. Trong khoảng thời gian từ bữa tiệc đêm đó tới giờ, nàng hay tự hỏi ḿnh cũng chỉ v́ muốn mọi việc được công bằng, nàng cố dằn ḷng bỏ qua những ghét bỏ dành cho Madden và quyết định cho chàng một cơ hội.
“Nancy thế nào rồi?” nàng hỏi.
“Nàng có vẻ hơi lăng xăng,” chàng trả lời. “Nàng phải nằm trên giường. Vẫn c̣n sốt. Nàng muốn tôi đi với cô.”
Katharine gật đầu. “Nàng điện cho tôi. Tôi e rằng đă làm ông chờ lâu.”
“Không có sao, Cô Lorimer.” Chàng trao nụ cười không thúc hối tới nàng. “Tôi hay thường xuyên quanh quẩn bên Nancy ở nhà hát nên cũng quen đợi rồi. Vả lại, một thay đổi cho tôi, có th́ giờ trong tay nhưng lại không bị trói buộc giây phút nào. Tôi nghĩ tôi sẽ thích nghi nhanh. Ít nhất, có lẽ thế.”
Trong khi nàng đeo găng, ánh mắt chàng thăm ḍ căn pḥng với vẻ trầm tĩnh và thưởng thức cao.
“Cô có một chỗ rất tuyệt. Nếu không phải nói quá đáng, tôi rất thích đồ vật trang trí ở đây, đặc biệt là tấm thảm trải chân đáng yêu này.”
“Vâng,” Katharine đáp, với ư nghĩ sẽ giải thích qua loa nhưng lại tiếp tục với vẻ lịch sự: “Đó là tấm thảm Ba Tư thuộc thế kỷ thứ mười tám. Người thợ phải tốn gần mười năm để dệt nên. Những màu sắc này – chúng là thuốc nhuộm từ thực vật cổ.”
“Dĩ nhiên rồi,” chàng gật đầu đơn giản. “Đích thực là Kirman-Lavehr, phải không?”
Katharine liếc nh́n chàng thật sắc, hơi sững sờ v́ khả năng suy xét của chàng. Không những chính xác trong nhận xét khi chàng suy ra tỉnh lỵ nơi tấm thảm cổ được dệt mà c̣n biết rơ xuất xứ ở đâu.
“Ông có rành về đồ cổ?” nàng hỏi, nh́n chàng chăm chăm một cách thích thú.
Chàng trả lời mạnh dạn. “Không, nói thật, tôi không để ư lắm. Ít ra tôi cũng biết được qua thị hiếu của cô. Nếu tôi thật quan tâm đến những thứ này, tôi cũng sẽ t́m hiểu nhiều hơn. Tôi đọc rất nhiều sách, gần đây ở châu Âu tôi đă tới hầu hết các pḥng triển lăm. Tôi học hỏi nhiều thứ mà nền văn minh Mỹ quốc không đề cập, như là thảm Ba Tư và đồ gỗ Ư – và, ồ, xà lách Pháp, nếu kể luôn.” Chàng mỉm cười. “Tôi là một chuyên gia thường trực kỳ cựu của xà lách Pháp.”
“Th́ ra là vậy,” Katharine đáp.
Thật ra nàng khám phá ḿnh có vẻ lúng túng hơn bao giờ hết với khía cạnh mới này mà nàng cho rằng hơi khác thường và không đồng bộ trong tính cách nàng. Đủ những ư nghĩ trái ngược xoay vần trong đầu nàng, và cảm nhận một tư bực tức trong ḿnh, nàng im lặng bước xuống thang với chàng. Ngoài đường một chiếc xe hơi nửa mui xanh đậu sẵn đợi chờ.
“Tôi hy vọng cô không phản đối,” chàng nói nhanh. “Nancy nói với tôi rằng cô không lái xe nữa nên tôi mang nó theo cùng.”
“Của ông à?”
“Tại sao không,” chàng đáp, pha vẻ ngạc nhiên. “Tôi thuê nó.”
Mặc kệ, môi Katharine chùng lại. “Trông sang trọng đấy chớ,” nàng nói khẽ một cách châm biếm.
Vừa nói xong, nàng cảm thấy hối hận v́ lỡ lời. Nhưng chàng không để tâm, như chàng chưa hề nghe thấy.
Chiếc xe chạy thật êm, và người tài xế rất rành đường. Họ chạy ngang qua công viên St. James, vượt Victoria và đi dọc theo đường đê, cảnh sương khói mặt trời lặn vẽ lên vầng sáng vàng đầy ắp cả ḍng sông. Madden rướn người về trước, đầu trần, chiếc nón mềm kẹp giữa đầu gối, thưởng thức toàn cảnh thay đổi với sự háo hức lẫn đam mê.
“Cảnh sắc này thật là có sức thu hút chết người,” cuối cùng chàng bày tỏ. “Thật là khác xa với Cleveland. Tôi thật sự cảm thấy thích thú.
“Ông dường như cảm được, như cách ông nói, nhiều thích thú từ nhiều thứ, ông Madden.”
Chàng ngừng lại trước khi trả lời. “Vâng, tôi cho rằng tôi có hơi thô thiển đối với cô, nhưng sự thật th́, trong mười lăm năm gần đây, tôi chỉ ngụp đầu trong kinh doanh nên ít có cơ hội để thở, nói chi chú ư đến xung quanh. Khi cha tôi chết sau thế chiến, tôi có hơi vất vả một khoảng thời gian. Và khi công việc xuôi chèo, tôi cứ phải lao theo nó. Cô có biết rằng sự nghiệp của người đàn ông có sức kềm chế người đó không, Cô Lorimer, và bỏ lỡ cơ hội nh́n cảnh mặt trời lặn như thế này, à, biết nói sao nhỉ, cơ hội để gặp một cô gái như Nancy.”
“Có lẽ tôi hiểu ư ông.” Một tia loé cảm thông trong trao đổi trỗi lên trong Katharine, nhưng nàng đè nén xuống bằng cách nói thêm, “Tôi hy vọng rằng ông không bị thất vọng với những cơ hội đó vào cuối tuần này.”
“Ồ, không, tôi thích gặp gỡ mọi người. Đặc biệt là họ hàng của Nancy,” chàng nói thêm một cách lễ phép, “của cô chứ!”
Katharine mỉm cười có hơi lạnh lẽo. “Đến lúc tôi thấy là phải cảnh cáo ông. Ông có thể thấy Mẹ tôi và tôi rất tẻ nhạt. Chúng tôi thuộc ḍng trung lưu, ông Madden, lại ở vùng ngoại ô. Đừng bị hiểu lầm bởi những nét hào nhoáng trong công việc của tôi. Tôi có thể gặp gỡ nhiều vị chức sắc trong việc làm ăn lúc nọ lúc kia, nhưng đừng quên là tôi bắt đầu từ chân đánh máy vỏn vẹn với mười lăm hào một tuần. Và tôi mang theo bữa trưa đựng trong túi giấy. Tin tôi đi, tôi chẳng khác xưa tí nào.”
“Không khác?” Quay người, chàng muốn biết nàng nói thật rồi gật đầu vẻ nghiêm trọng. “À, đây là lần đầu tiên cô có vẻ cởi mở chút đỉnh.”
Nàng không thể dằn được; nàng bật cười, chỉ v́ câu trả lời của chàng động chạm đến phẩm cách của nàng. “Ít ra,” nàng nghĩ, “hắn ta có khiếu khôi hài.” Chưa hết, trong trí nàng vẫn c̣n hoài nghi. Chàng nhận ra được, với một nhận thức khác thường đập vào chàng, sau đó ít lâu, chàng lặng lẽ nói:
“Cô không biết nhiều về tôi phải không Cô Lorimer? Tôi nghĩ nó làm cô lo lắng.”
Không hiểu v́ lư do ǵ mà nàng đỏ mặt. Nàng thành thật nói: “Xin đừng hiểu lầm tôi. Tôi không có nghĩ ǵ quá đáng. Chỉ v́ người đàn ông, người đàn ông sắp cưới Nancy làm tôi lo nghĩ.”
Một sự im ắng. Bị tổn thương bởi lời lẽ khác thường đầy hàm ư của nàng, chàng xém nữa bị cám dỗ nhưng cố đè nén, chỉ để giải thích một lần cho xong vị trí của chàng ở đây, ít ra là làm sáng tỏ những hiển nhiên mà nàng đề cập. Chàng nhận ra ngay từ đầu nàng đă hiểu lầm chàng, là một sai lầm tích lũy từ những thói quen dễ dăi, tính khiêm tốn, ăn vận cẩu thả, mà chàng thường để xảy ra, giờ đây làm cho chàng khó xử hơn là thú tiêu khiển. Chàng không thích, và luôn luôn ghét sự phô trương. Quần áo hợp thời trang, quán ăn sang trọng, khách sạn xa xỉ, một bộ xậu ràng buộc trong thói xa hoa thời thượng, chỉ làm cho chàng chán ngán. Chàng đă có lần đi xuyên Âu Châu trên tàu chở hàng bằng hơi nước và lang thang khắp lục địa với ư muốn là một du khách tầm thường, chịu nghỉ ở những nhà trọ không tiện nghi, du hành vé hạng ba để hoà đồng với mọi người, chủ tâm ăn uống chỉ với lát bánh ḿ kẹp và một ly rượu.
Có lẽ chủ nghĩa khổ hạnh này phát nguồn từ tổ tiên chàng, đặc biệt là mẹ chàng, Susan Emmet, một phụ nữ thuộc tiểu bang Vermont được ban cho một tấm ḷng vị tha như người Xpác-tơ (dân Spartan rất can đảm, anh dũng, bền bỉ, khắc khổ, có ư thức kỷ luật cao, chiến đấu giỏi) và ư thức trách nhiệm. Cha chàng là người tiểu bang Virginia, ngay thẳng bộc trực và không có thói biếng nhác của người dân miền Nam nước Mỹ. Là một người đàn ông thanh đạm, cao khều với bộ râu xồm xoàm cùng với óc khôi hài khô khan và cặp mắt trũng sâu, Seth Madden vẫn là người buôn bán nhỏ khôn ngoan, lập ra Cleveland là nơi sản xuất và bán lẻ những mặt hàng keo dán đặc biệt nhăn hiệu Fixfast. Những thịnh vượng của nhà máy Fixfast nhỏ nhoi, mặc dù ổn định, nhưng chưa bao giờ phất cao, với cái chết của Seth vào năm 1917, khi Chris c̣n bị kẹt trong thế chiến, người thân chàng rơi vào t́nh trạng nghèo túng trầm trọng. Việc kinh doanh vẫn bấp bênh khi chàng Madden trẻ tuổi nắm quyền hành trở lại ở Cleveland sau khi giải ngũ. Chưa hết, có xu hướng đổi mới và bành trướng thêm, chàng phải tự ḿnh lăn vào làm việc.
Đó là chuyện của mười lăm năm trước. Nhiều thay đổi lớn lao đă trải qua, điều kỳ diệu tương phản giữa xưa và nay phải được nh́n thấy mới tin tưởng nổi. Madden chưa bao giờ quan trọng hoá hay khoe khoang, nhưng cử chỉ trầm lặng của chàng lại che dấu một sức chịu đựng cứng rắn. Chàng đem vào thị trường loại keo dán cao su mới có hương anh đào và khô nhanh. Thành công đến không ngờ. Việc kinh doanh phát triển nhảy vọt. Chàng bắt đầu cẩn thận mua lại những công ty nhỏ trong kỹ nghệ keo dán cùng với bằng đặc quyền chế tạo, thải hồi những cơ xưởng đă lỗi thời, vụn vặt và tập trung hết ở Cleveland. Tư bản của công ty mẹ tăng gấp đôi, gấp ba, rồi lên hàng triệu. Madden trở nên giàu có vượt quá tầm tưởng tượng của chàng. Tiền bạc không có ư nghĩa với chàng lắm nhưng chàng lại lăng phí quá nhiều cho mẹ chàng, người mà chàng rất gần. Chàng mua cho bà, vào năm 1929, một căn nhà nhỏ trong khu kiều dân nhưng đẹp đẽ ở Graysville, ngôi làng quê hương của bà ở Vermont.
Madden, tổng giám đốc của Liên đoàn Keo dán nhanh Quốc tế, là một trong những người đàn ông thành công ở Cleveland. Bản tính mộc mạc của chàng vẫn được duy tŕ cùng với tính trầm lặng và không thừa nhận sự ngắn ngủi của cuộc sống. Chàng đă ba mươi lăm và làm việc quần quật như nô lệ gần mười lăm năm. Giờ chàng ở trên đỉnh cao danh vọng, chàng cảm thấy đă tới lúc dừng lại. Mùa xuân năm trước chàng quyết định rời văn pḥng và chạy trốn sang châu Âu để nghỉ ngơi.
Điều ǵ đó loé lên trong óc chàng khi hồi tưởng lại dĩ văng lúc chàng ngồi bên cạnh Katharine, và lần nữa chàng cứ muốn thố lộ cho nàng nghe. Nhưng chàng không làm. Trước lúc chàng có thể đổi ư, họ đă tới Beechwood, một cái tên mộc mạc được bà Lorimer đặt cho ngôi nhà của ḿnh. Mặc dù đă gần năm giờ, những cành cây viền xung quanh ngôi biệt thự nhỏ như biến mất trong bóng tà. Madden cho xe ra về và khiêng hành lư của ḿnh cùng các gói hộp của Katharine, theo chân nàng trên lối ṃn giữa những bụi cây thuỷ lạp thấp rồi đi vào nhà. Họ vào tới pḥng khách, bà Lorimer ngồi lắc lư thiếu kiên nhẫn trong chiếc ghê cạnh ḷ sưởi.
“Sao mà lâu vậy!” bà nói ngay với vẻ khó chịu mạnh và không có vẻ ǵ là chào đón khách cả. “Một phút nữa, bữa trà sẽ bị lỡ cỡ!”
Bà thấp người, dáng dấp đầy đặn cho một người đàn bà bảy mươi nhỏ bé với đôi mắt cú vọ không mệt mỏi cùng óc khiêu khích. Bà mặc chiếc áo dài bằng siu đen, như thể c̣n để tang cho người chồng quá cố chín năm trước. Với mái tóc c̣n đen, bà đội một chiếc mũ sợi móc trắng, cộng với số tuổi, cách cư xử và vẻ bề ngoài nói chung – nh́n riêng, má của bà xệ v́ những túi da li ti – khiến bà phảng phất giống như vị Hoàng hậu Victoria, một khám phá mà bà lấy làm hănh diện.
Hiện tại, bà không những tự măn mà c̣n rất nghiêm khắc. Tỏ ư thấy Madden bằng một cái gật đầu miễn cưỡng, ngay tức khắc bà công kích con gái với một tràng câu hỏi liên quan đến những ǵ bà đă uỷ thác và đến sự se ḿnh của Nancy. Chỉ khi Katharine thoả măn mọi yêu sách của bà, bà liền đứng dậy và bất ngờ dẫn lối mọi người vào pḥng ăn.
Nơi có chiếc bàn ăn vuông màu gỗ dái ngựa (mahogany), một bữa ăn dư dả và đặc biệt được sắp đặt. Không phải là tiệc trà, ăn trưa, hay ăn tối mà là sự kết hợp độc đáo của ba bữa. Có bánh ḿ, cả nâu và trắng, cắt đều đặn và quệt bơ sẵn, bánh ngọt có hai loại, một cục phó mát đính cần tây, và một cái thùng bằng bạc nhỏ đựng đầy bánh quy. Chính giữa bàn, dưới chùm đèn treo, bánh pudding sữa hương hạnh nhân được bọc giấy hồng bên cạnh một đĩa pha-lê đựng món thịt hầm với mận chín. Cuối cùng là một đĩa bánh cá nướng (fish pie) nghi ngút khói đặt ngay đầu bàn cạnh Peggy, người hầu gái nhỏ xíu, và đằng sau nó là một bộ trà vương giả trong một cái khay lớn. Ngồi vào chỗ của ḿnh, bà Lorimer rót trà và cắt bánh pie. Bà lấy phần nhiều cho ḿnh, khéo léo che đậy trông như một phần nhỏ, nếm một nĩa đầy rồi lắc đầu về một bên để xem xét phê b́nh cho đến khi khuôn mặt dăn ra nhẹ nhàng chứng tỏ bà chấp thuận. Chỉ đến khi đó bà mới để ư đến Madden. Có vẻ muộn màng, nhưng sự xem xét kỹ lưỡng của bà rất sắc sảo. Và lời nhận xét của bà càng sâu sắc hơn.
“À, anh sẽ lấy cháu Nancy. Này, anh bạn trẻ, tôi báo trước cho anh là anh sẽ chật vật lắm đấy.”
Chàng điềm đạm trả lời: “Nancy và cháu sẽ ăn ư với nhau dễ dàng, thưa bà Lorimer.”
“Có thể,” bà cụ nghiêm khắc tuyên bố. “Nhưng sẽ là một cái ăn ư dài và cũng là cái ăn ư mạnh. Ơn trên giúp anh, anh bạn trẻ, nếu anh có bị trượt tay.”
Đây chỉ là phần mở đầu của một chuỗi nhận xét, tục ngữ, sách vở, và cách ngôn đều hướng thẳng về phía Madden. Bà cụ, cứng ngắc, theo chủ nghĩa đạo đức, và một người ích kỷ đến tận xương tủy, luôn cảm thấy bị đe doạ, nhưng bây giờ được hậu thuẫn bởi tách trà và phần giảng dạy cho anh trai trẻ, bà đang trong t́nh trạng quá khích và công kích không ngừng.
Katharine biết rơ mẹ ḿnh và đă quen chịu đựng những tính khí như thế này. Nàng làm ra vẻ nếm phần bánh cá nướng nặng mùi, mà ngày c̣n bé nàng lúc nào cũng ghét cay ghét đắng, nàng chăm chú quan sát Madden trong khi chàng hứng chịu trận hỏa công của mẹ nàng. Thật ra, chàng có tính trầm tĩnh cao, hay là hơi hơi - nàng nhanh chóng sửa sai – có khiếu thừa nhận hoàn mỹ của sự việc, làm nàng sửng sốt. Đành rằng đó chỉ là bộ dạng đóng kịch, chàng có thể bị thất vọng trước những luồng đa dạng và huyền bí trong cuộc tṛ chuyện cũng như phong tục với mẹ nàng . Thế nhưng diễn tiến lại xảy ra rất hào hứng. Chàng lắng nghe với dáng điệu mải mê, ăn với dáng điệu thích thú.
Khi những quả mận được tiêu thụ hết, Katharine nhận thấy Madden, cho dù chàng có mong ước hay không, đang tỏ ra chinh phục mẹ nàng. Khi họ trở lại pḥng khách, ngọn lửa đă được khơi lại và toả bóng lung linh mời mọc trên tấm thảm bằng da gấu, trên bàn ghế thời Victoria, và trên những chén dĩa sứ và đồ trang trí lặt vặt trên chiếc tủ nhiều ngăn, bà Lorimer thở dài một cách sôi nổi.
“Ngồi xuống cái ghế đó, cậu Madden,” bà chỉ. “Cậu sẽ thấy nó thoải mái. Nó thuộc về ông chồng yêu quư của tôi, và trừ cậu ra, già này không cho ai ngồi hết. Cậu có thể quan sát trong khi Katharine và già này chơi bài patience (lối đánh bài một người).”
Sự kiên nhẫn hai nghĩa này mà bà đề cập đến - một là sự nhượng bộ không mong đợi từ nguyên tắc của những không theo lề lối – và một là chiếc máy thu thanh mà bà sùng bái, nỗi đam mê lớn của bà cụ này. Bà vặn nó một cách liên hồi, không ǵ lay chuyển bà làm chuyện khác vào những khi Katharine đến thăm vào dịp cuối tuần. Madden liếc nh́n vẻ nghi vấn tới Katharine, và có lẽ chàng đọc được nét mặt nàng nên chàng thuyết phục bà:
“Con gái của bà trông có vẻ mệt mỏi, bà Lorimer. Bà có thể chơi bài với cháu chăng?”
“Hừ! Katharine lúc nào cũng mệt mỏi mỗi khi làm điều ǵ đó cho bà mẹ già yếu này!”
“Không phải, nhưng cháu cũng thích chơi bài này mà,” Madden đáp. “Để cháu cho bà biết cháu chơi rất giỏi.”
“Ồ, thật à?” bà Lorimer nói, đánh hơi có cuộc ăn thua đâu đây. “Thông minh thật! Ta thích đó! Thôi, đi ra khỏi đây đi, và ta sẽ cho anh biết thế nào là lợi hại.” Bà liếc nh́n đồng hồ. “Chúng có độ nửa giờ. Có một vở tuồng hay trên đài lúc tám giờ - Viên Ngọc Trai Đen. Chúng ta phải nghe mới được!”
Họ ngồi xuống chơi bài tại chiếc bàn bọc vải len tuyết dài trước ḷ sưởi trong khi Katharine, mừng v́ được nghỉ ngơi, thả người xuống chiếc ghế sofa và quan sát với vẻ hưng phấn. Kinh nghiệm cho nàng biết sẽ có phiền toái thật sự xảy ra trừ khi con người Madden mang nặng tính tiêu cực.
Bà Lorimer bắt đầu chơi bài êm đẹp. Bà được phần kinh bài và được chia những lá bài ngon, bà đeo kính vào và gói hạnh nhân tẩm đường được đặt bên cạnh. Bà đi một nước bài hay rồi ngồi chờ thoả măn trong khi Madden chỉ bỏ xuống một vài lá bài, rồi thua. Bà Lorimer tập hợp được nhiều lá bài tốt và đi một nước bài dài nữa, và may mắn đến với bà hoài. Sau đó, không thể ngờ được, vận may đổi chủ, và Madden, chơi một cách tự tin, bắt đầu một chuỗi nước bài tốt đặt chàng vào thế dẫn đầu.
Tại thời điểm này, Katharine như đoán trước được mẹ nàng sẽ ăn gian. Bà cụ có một nhược điểm vô cùng tệ. Bà không bao giờ chịu thua. Không bao giờ, không bao giờ. Bằng mọi giá và mọi thủ đoạn, bà phải thắng. Lương tâm của bà không là ǵ hết, sự thật phũ phàng là bà phải ăn gian một cách trắng trợn và không khoan dung c̣n hơn là chịu đựng nỗi nhục bị đánh bại.
Madden, dĩ nhiên là nh́n thấy bà ăn gian ngay lập tức, và Katharine với cặp mắt đen chiếu vào các tay chơi, chờ đợi phút giây kết cục. Nếu chàng phản đối, sẽ có một tấn tuồng xảy ra; nếu chàng không nói ǵ, chàng sẽ là kẻ bịp bợm. Nhưng Madden, dường như lèo lái theo một hướng khác. Với một vẻ mặt trang nghiêm, chàng bắt đầu giúp bà cụ ăn gian, đầu tiên rất tế nhị, rồi sau đó tăng dần có chủ ư, đưa cho bà những lá bài tốt thay v́ xấu, giả vờ thua khi tới lượt của ḿnh, và khuyến khích bà chơi tiếp tiếp cho đến khi bà là tay cự phách, tay cự phách gian lận. Thoạt đầu, cụ bà Lorimer cười khúc khích và nhận quà cúng biếu mà thần phật ban cho, nhưng dần dần nét mặt bà thay đổi. Bà ném một hay hai cái nh́n ngờ vực vào chàng, rồi bất th́nh ĺnh chỉ cần con Ách để thắng, bà do dự, dao động và đỏ mặt v́ thẹn.
“Tại sao cậu lại nh́n tôi như vậy?” Bà nóng nảy càu nhàu.
“Trời, bà Lorimer,” chàng trả lời từ tốn. “Cháu chỉ ngưỡng mộ cách chơi bài của bà. Cháu đă từng đi nhiều nơi trong đất Mỹ và cả châu Âu và các nước c̣n lại, cháu chưa bao giờ thấy ai chơi bài như bà hết.”
“Nói cái ǵ!” bà thốt lời bực bội.
“Không có ǵ, thưa bà.” Giọng chàng chuyển sang lối nói lè nhè của người miền Nam nước Mỹ. “Thật là một tay chơi bài không thể thất bại được mà cháu chưa hề thấy từ khi cháu sinh ra.”
Đôi mắt sáng của bà cụ dường như muốn nổ tung khỏi đầu. Bà hít một hơi dài có tính cách gây gổ và đứng thẳng dậy, sẵn sàng để tiêu huỷ chàng. Và rồi, ngay liền đó, bà bắt đầu cười to. Bà cười thật to một cách thoải mái, làm tung toé những lá bài, tán loạn những hạt hạnh nhân; Katharine chưa bao giờ thấy mẹ ḿnh cười như thế.
“Ôi trời, ôi trời,” cuối cùng th́ bà cũng thở hổn hển được. “Buồn cười quá đi thôi. Tay chơi bài xuất sắc nhất – con có nghe cậu ta nói không, Katharine? - kể từ khi cậu ấy sinh ra.”
“Th́ đúng rồi, thưa bà,” chàng tiếp tục. “Cháu chắc là...”
Người nghiêng ngả v́ cười nhưng không cưỡng được, nước mắt hớn hở lăn dài xuống má, bà ngăn chàng lại bằng một cái vẫy tay nhẹ. “Đừng,” bà thở kḥ khè, “cậu làm tôi chết mất. Cậu trai trẻ thân mến ơi, thật là buồn cười. Tay chơi bài xuất sắc nhất, và ta đă chơi ăn gian cậu năy giờ.”
Quả thật đó là một chuyện đùa hay, có lẽ là hay nhất được nghe trong căn pḥng nhỏ bé ngột ngạt này. Khi mọi việc đă ngừng, bà cụ lấy lại phong độ như cũ.
“Lạy chúa tôi!” bà la lên, chùi mắt và bất thần nh́n ngang qua phía đồng hồ. “Chúng ta không thể lỡ buổi nghe kịch được!” Với vẻ nhanh nhẹn không ai tưởng nổi, bà đi tới chỗ chiếc máy thu thanh và bật đài lên.
Một vài giây do dự rồi cái dụng cụ có sức sống thâm nhập. Đúng lúc, vở kịch đă bắt đầu. Một cô gái đang nói chuyện.
Madden nh́n qua Katharine bất th́nh ĺnh chỉ để thấy Katharine đang nh́n chàng chằm chằm. Trong một khắc, đôi mắt bà Lorimer mở lớn, ném vào người này rồi day qua người kia. Cô gái vẫn tiếp tục nói chuyện.
“Không thể nào!” Madden chợt nói.
Không! Chắc chắn là không thể nào. Nancy đang nằm trên giường với cơn sốt. Nancy chẳng nói một lời nào về việc này cả. Nancy đang bị bịnh, không thể nào ngồi dậy được.
“À, ta nói chắc chắn mà.” bà cụ kêu lên với sự kinh ngạc tột độ.
“Nhất định là có sự lầm lẫn ở đây,” Katharine nói với giọng hoang mang ngơ ngác.
Không có sự lầm lần nào hết. Giọng nói rơ ràng trong máy là giọng của Nancy.

Chương 3

Cả ngày hôm đó, Nancy nằm hoài trên giường, đầu nàng nhức như búa bổ, tay chân uể oải bởi cơn cảm cúm. Nàng ghét phải bị bỏ xó và càng làm nàng thêm bồn chồn. Mặc dù nàng không quan tâm lắm đến vở Moonshine in Arcady v́ vở kịch vẫn c̣n xa ngày tŕnh diễn và không có buổi diễn tập nào vào cuối tuần, tự nhiên nàng thấy bực tức khi bị t́nh huống này xen vào cuộc sống nhỏ bé đă định sẵn của nàng. Thật ra Nancy có một lớp vỏ ngụy trang cho tính ích kỷ hơi phiền toái của nàng mà thỉnh thoảng đưa đến sự hờn dỗi khi nàng không được như ư muốn. Mặc kệ những lời phân trần của Katharine với mọi người, sự chiều chuộng cô cháu quá mức của nàng làm Nancy hư hỏng phần nào. Nàng hay cho nhiều chuyện xảy ra là lẽ đương nhiên. Một người nào đó, dựa vào đặc tính này của Nancy, bảo nàng cần phải trưởng thành hơn.
Tuy nhiên, hôm nay, nàng có thể phản kháng là thái độ của nàng không có ǵ để chỉ trích hết. Nàng uống thuốc đều đặn cứ cách bốn tiếng một và tuân thủ kiêng cữ, chỉ húp nước cháo nóng mà bà Baxter hầu pḥng chuẩn bị sẵn. Khoảng trưa trưa, độn những cái gối đầu cao lên, nàng tranh thủ viết vài lá thư đă bị lăng quên. Xong việc này, nàng thả hồn nghĩ đến Madden cho đến lúc ngủ thiếp đi khoảng một tiếng. Sau đó, nàng với lấy một quyển sách ở đầu giường để giải khuây.
Quyển sách Nancy t́nh cờ có trong tay, cho bất kỳ kẻ bệnh hoạn chán chường nào muốn giải khuây, ít nhất cũng phải là cuốn truyện trinh thám sôi động hay tiểu thuyết t́nh cảm nhẹ nhàng. Hoá ra lại là tuyển ca kịch của Shakespear. Tủ sách kế cận lại càng rạch ṛi. Đầy những tác phẩm ca kịch, ít nhất là những vở được xem là cổ điển như: Marlowe, Congreve, Ibsen, Molière, Sheridan, Shaw – có đủ cả. Để thêm phần phong phú, nhiều quyển là tiểu sử của các nhân vật trong giới kịch nghệ. Đúng là một thư viện trứ danh cho một cô diễn viên trẻ tuổi nhẹ dạ của nền kịch trường hiện đại.
Một ṿng đảo quanh pḥng ngủ của Nancy có lẽ sẽ tạo nên một trạng huống khó xử hơn. Hoàn toàn không có một thứ vật dụng cần thiết nào. Không có điện thoại ḷe lẹt hay những con búp bê xí xọn. Căn pḥng hoàn toàn giống như chổ ở của một nhà tu khổ hạnh với chế độ khắc khổ. Chỉ có hai bức ảnh dựng trên tủ đựng quần áo - một của Madden và một của Katharine - trong khi trên tường, được sơn màu trắng đơn giản, chỉ treo duy nhất một tấm tranh lớn và tuyệt đẹp của Eleonora Duse nổi tiếng. Tấm chân dung này là của một trong những diễn viên xuất sắc thế giới, không nghi ngờ là một mấu khúc để giải đáp câu đố rắc rối về căn pḥng của Nancy và cả điều bí ẩn trong con người nàng.
Tận đáy ḷng, Nancy mê kịch nghệ ghê gớm. Không chỉ là nỗi đam mê sân khấu thông thường, mà là một nỗi cuồng nhiệt đắm say hầu diễn tả cái muôn màu muôn vẻ sống động của nghệ thuật kịch câm. Tự thuở nào nàng có cái đam mê ấy, nàng không rơ, có thể từ vị tiền bối nào đó phía người cha-sống-vui-vẻ-theo-ư-muốn của nàng đă di truyền lại cái tính thiết tha trong ḍng máu nàng. Bằng chứng rơ ràng là thời thơ ấu của nàng.
Không may cho Nancy và cả tính nhiệt t́nh của ḿnh, nàng không thể làm được việc ǵ đáng ghi nhớ nếu thiếu cái nghi thức trang trọng. Một vài người bạn thân của nàng nhận ra tham vọng của nàng và sự hăng say tột độ nàng vận dụng trong quá tŕnh học tập kịch nghệ, cho dù họ tin rằng nàng sẽ thành công hay không lại là một vấn đề khác. Nhưng người quan trọng nhất, ví như Katharine, và bây giờ là Madden, chỉ c̣n biết mỉm cười trước sự say mê không cưỡng được của Nancy. Họ không thể nào hoặc sẽ không tin nàng hoàn toàn được.
Về chuyện này, coi như Nancy tự đổ lỗi cho ḿnh. Nàng c̣n quá trẻ cùng với những sự không chín chắn cũng như tính háo thắng của lứa tuổi mới lớn. Tính khí của nàng, những lúc nàng biểu lộ thói hờn dỗi và tính đồng bóng thất thường, chúng không khiến nàng thiên về những lư tưởng của ḿnh. Nàng cũng có thói quen nói năng khiếm nhă và trong những cuộc đàm thoại nàng thường dùng những từ ngữ lóng, có vẻ tầm thường, để tượng trưng cho một xu hướng hiện thời. Nàng, nói một cách đơn giản, là con người phức tạp nhỏ nhắn, như một cái xích đu, lúc cao lúc thấp, và thật khó mà biết được nàng sẽ thật sự dừng lại ở vị trí nào.
Chỉ qua một vài nhận xét trong tính cách Nancy, nếu chúng được trưng bày ra cho nàng, có lẽ sẽ làm nàng lúng túng hết, chỉ v́ nàng rất nhạy cảm và ngay thật. Tuy nhiên, chưa một ai dám nói cho nàng biết những điều đó. V́ nàng sẽ không đích thân theo đuổi cuộc kiểm chứng để hoàn thiện ḿnh hơn. Nàng quá bận rộn với nhạc kịch Shakespear của ḿnh, đắm ch́m vào, với tất cả sự hăng say vốn có, học hỏi kịch phẩm King Lear. Nàng tưởng tượng ra ḿnh trước hết là Goneril, rồi sau đó là Regan và cuối cùng là một Cordelia thanh mảnh.
Cuối cùng nàng đọc xong, Nancy đặt cuốn sách xuống. Nàng cảm thấy mệt. Thời gian trôi qua. Buổi trưa đă thành buổi chiều tối. Người dọn dẹp hằng ngày cho nàng cũng đă đi về, hứa là sẽ trở lại vào lúc tối để xem nàng có cần ǵ thêm chăng. Nancy thiếp đi một chút, nàng lại mơ màng thấy Madden, nhấc nàng ra khỏi trạng thái phiền muộn này bằng một tương lai sáng lạng. Rồi cuối cùng, cắt ngang ḍng tư tưởng lơ đăng của nàng, tiếng chuông điện thoại reo lên.
Nancy nhấc lấy ống nghe, và nhận ra giọng của John Herries trước khi anh ta tự giới thiệu ḿnh. Nàng có một khả năng nhận giọng rất hay. Và Herries, từ giọng của ḿnh, lộ vẻ nhẹ nhơm khi gặp được nàng.
“Nancy nè,” anh ta nói có vẻ hấp tấp, “Tôi mừng hết biết khi gọi được cho cô. Vâng, tôi đang ở đài B.B.C. Tôi đang ở trong trường hợp thiệt là rắc rối. Cô biết không, chúng tôi phải phát thanh vở Viên Ngọc Trai Đen tối nay. Đây là một vở rất quan trọng, vào lúc tám giờ, thời điểm cao và tất cả. À, nghe nè Nancy. Sylvia Burke làm hại tôi rồi. Cô ấy bị bịnh. Nghĩ mà tức. Tôi chỉ được biết trước có bốn tiếng thôi. Đó lại tại sao tôi muốn gặp cô đó, Nancy. Tôi muốn cô nhận lấy phần này. Nhanh nhanh tới đây nhé, cô bé ngoan. Chúng ta sẽ ôn sơ lược kịch bản với nhau.”
“Nhưng, John,” Nancy phản đối, “Tôi - tôi không biết là tôi có thể tới được!”
“Chuyện ǵ thế! Cô có c̣n minh mẫn không! Cô không biết rằng đây là cơ hội tốt sao? Thay thế và đại diện cho Sylvia Burke. Có đến khoảng triệu thính giả lắng nghe đó.”
Nancy vội lấy tay run run sờ lên trán nóng hổi của ḿnh. Những ǵ Herries nói là đúng. Sylvia Burke có lẽ là nữ diễn viên hài đắt giá nhất lúc này. Thật là một cơ hội hiếm có cho nàng để gây dựng tiếng tăm cho ḿnh, để tŕnh làng tên tuổi nàng trước một số lượng thính giả có thể sẽ làm nàng trở thành ngôi sao đắt giá.
“Có chuyện ǵ không ổn với Sylvia vậy?” nàng thừa cơ hội hỏi một cách yếu ớt.
“Bị cảm lạnh,” Herries nói giật giọng. “Nhiệt độ lên khoảng một trăm độ. Họ nhất định không để cô ấy đi đâu hết.”
Vào thời điểm nào khác, có lẽ Nancy sẽ cười ngất.
“Cô không lo ngại ǵ về kịch bản chứ Nancy?” Herries dai dẳng nói. “Chỉ có việc là đọc nó thông suốt thôi.”
“Không, không, tôi không có lo lắng ǵ về kịch bản hết,” Nancy trả lời, với lấy cây đo nhiệt kế ở cạnh giường. “Xin chờ cho một chút ạ.”
Nàng bỏ nhanh cây nhiệt kế vào dưới lưỡi và đợi chờ trong sáu mươi giây đau khổ. Rồi nàng ngó nhanh. Chỉ số cho nàng thấy là một trăm lẻ một độ. Tim nàng đập đều đều chán chường. Nàng không thể đi đâu được. Không thể nào có chuyện đó xảy ra. Nàng không thể làm liều được. Điều đó thật là điên rồ.
“Sao hả,” Herries cắt ngang như thể cáu tiết lắm. “Tôi phải chờ đây cả đêm sao Nancy? Có chuyện ǵ xảy ra với cô hả Nancy? Tôi tưởng là cô có cái đầu rất nhạy bén mà? Cô có đến hay là không th́ bảo?”
Môi Nancy mở lớn như muốn nói: “Không”, nhưng rồi nàng liếc nh́n tới tấm tranh chân dung của Duse treo trên tường, như một nguồn cảm hứng, ngay trước mặt của nàng. Duse, thần tượng của nàng, Duse vĩ đại, người có lần đă thà chịu mang tiếng điên rồ thật thương cảm c̣n hơn là làm cho công chúng thất vọng. Có cái ǵ đó nhảy chặn trong cổ họng Nancy, một sự khích lệ, một làn sóng can đảm dấy lên.
“Dĩ nhiên là tôi sẽ đến, John,” nàng bất chợt nghe ḿnh nói thế. “Tôi không được khoẻ lắm như tôi nghĩ. Nhưng tôi sẽ lại ngay trong ṿng nửa tiếng.”
Nàng đặt ống nghe xuống trước sự cảm ơn vô vàn của anh ta. Nàng thật sự hơi cuồng trí. Nàng có thể sẽ cảm nặng hơn, mắc thêm nhiều triệu chứng có trời biết nếu nàng đi ra khỏi nhà tối hôm nay. Katharine sẽ rất là bực ḿnh với nàng, và cả Chris nữa, chẳng là nàng đă nói với chàng là nàng quá mệt nên không thể đi Wimbledon với chàng đó thay? Một cú đánh như thức tỉnh nàng, nhưng tắt đi nhanh chóng. Chris yêu nàng. Chàng sẽ không giận nàng. Chàng rồi sẽ hiểu nàng.
Tập trung tất cả những yếu tố lợi hại, Nancy bật dậy. Nàng cảm thấy bủn rủn, nhưng nàng cố hết sức để thay quần áo. Nàng mặc những đồ dày nhất, luôn cả áo khoác lông, sau vài giây suy nghĩ, nàng quấn thêm khăn phu-la dày quanh cổ. Nàng uống một liều thuốc mạnh và gọi điện kêu tắc–xi. Đứng lặng nh́n ly nước, nàng lắc đầu nhè nhẹ, làm một cử chỉ hơi cường điệu rồi thuận tay tắt đèn đi ra.

Chương 4

Tám năm trước, anh gặp Katharine Lorimer tại một Dạ hội từ thiện, và với câu sáo ngữ quen thuộc, anh đă thật sự điếng người sửng sốt. Anh cầu hôn nàng ngay tuần sau, kể từ đó anh tiếp tục những khoảnh khắc ép buộc Katharine để cầu hôn và anh lại đau khổ khi bị từ chối. Giữa những giai đoạn đó, dĩ nhiên, Charley t́m lăng quên trong êm ái với những cô gái khác, nhưng cũng có lúc có những đoạn đời trống rỗng mà Charley không hề dấu giếm. Trong những cuộc t́nh đó, sự tận tâm của anh với Katharine nở rộ như một bông hoa tươi thắm trong một vườn hoa tiêu điều. T́nh cảm của Charley có một tính chuyên nhất và anh vẫn có một hy vọng háo hức rằng ngày nào đó sẽ thành công, và điều không thể nào không hận nàng làm cho anh đau khổ.
Dạo sau này, thật ra Katharine có một cảm giác sợ hăi chính ḿnh. Nàng không yêu Charley, và nàng chắc chắn bác bỏ cái ư nghĩ lập gia đ́nh khi bắt đầu sự nghiệp. Tận trong trí óc của ḿnh, nàng ghi nhận sự chiều chuộng của anh đối với nàng, hợp cùng với sự kiên tŕ theo đuổi nàng rất mực, mong rằng ngày nào đó nàng biểu lộ sự mềm ḷng - một lời kêu gọi giúp đỡ, có thể, đánh đ̣n tâm lư một cách tinh tế hơn để dễ xảy ra, rằng nàng sẽ đoái hoài đến anh, dù chỉ trong tiềm thức, như là một lá chắn cho những nhu cầu gây ưu phiền trong đời nàng. Rằng nàng, Katharine Lorimer, người đă nghiêm túc đúc nặn sự nghiệp cho ḿnh, phải nhận ra sự cần thiết ấu trĩ và vô lư rằng địa vị thống trị của người đàn ông ngay trong cả tâm tư của người cấp dưới nàng, và có thể, không hơn ǵ là một cơn ác mộng bực ḿnh. Nhưng nàng cũng có những phút giây bối rối, nhất là những lúc Charley ngồi cạnh nàng, hay cầm lấy tay nàng. Chúng thường khiến nàng cau đôi lông mày xuống khi nàng nh́n anh, có vẻ hơi cấm đoán anh. Và cũng với t́nh huống tương tự, như nàng quan sát anh bây giờ.
“Anh chưa hề giải thích,” nàng tuyên bố, “là nghĩa lư ǵ, đến quấy rầy tôi vào giấc này.”
“Đây là thời điểm tốt trong ngày. Tôi đến để đưa em đi ăn trưa.”
Nàng tỏ cử chỉ không thích với cái lắc đầu. “Tôi rất bận.”
“Em lúc nàng cũng bận rộn, Katharine. Nhưng em sẽ đi.”
“Không, tôi không đi đâu hết.”
“Ồ, đúng thế, em sẽ đi. Tôi đă đặt chỗ trước ở nhà hàng Embassy.”
“Này, nghe đây, Charley,” nàng nghiêm nghị phản đối. “Tôi đă nói với anh rồi là tôi có việc phải làm. Làm sao anh có thể cho rằng tôi kiếm sống lương thiện cách nào nếu anh cứ đến quấy rầy tôi như thế này?”
Anh cười to dễ dăi. “Em không cần phải kiếm sống lương thiện. Em là người phụ nữ thành công nhất trong cả khu vực phía Tây của London này. Em có trên tất cả các báo với cái tượng Holbein.”
“Có đúng là tôi được đăng trên tờ Sunday Searchlight!”
“Chưa có, nhưng rồi sẽ có. Trở lại vấn đề này, tôi đă đặt bữa trưa rồi.”
“Anh đă đặt những món ǵ?”
“Đến phút này th́ tôi nhất định phải biết em thích ăn ǵ vào bữa trưa. Thật đúng là một phụ nữ đúng nghĩa, xà lách kiểu Florida, báng phồng nhân phó mát.
Nàng không thể chịu đựng được nữa. Mặc dù môi nàng sắp cong lên nhưng vẻ mặt cau có dịu đi. Nàng nhảy dựng lên một cách thân thiện. “Tôi sẽ đi,” nàng tuyên bố, “nhưng tôi phải trở lại làm việc tại cái bàn này trong ṿng một tiếng. Hiểu ư tôi chứ. Đúng hai giờ trưa! Tôi chỉ đi ăn trưa v́ cái bánh phồng, không phải v́ anh đâu nhé!”
Charley lần nữa lại cười lớn, ngắm nàng đội mũ vào và khoác cái áo choàng ngắn bằng lông thú lên vai.
“Thế nào em cũng đi mà!” Anh nối gót theo nàng xuống lầu rồi nói thêm: “Tiện thể, sau mục bánh phồng nhân phó mát, Katharine, tôi có điều muốn hỏi em. Em biết không, lại tới lúc tôi ngỏ lời cầu hôn em lần nữa rồi.”


Chương 5

Vào thứ Bảy, ngày cuối cùng của tháng Mười Một, Nancy đi Manchester với đoàn diễn viên của vở Moonlight in Arcady, và Madden tháp tùng với đoàn như đă định sẵn. Vở kịch sẽ được tŕnh diễn vào ngày thứ Hai sau đó tại Nhà Hát Hoàng Gia, và v́ bất cứ vở kịch nào của Chesham cũng lên báo trang nhất, họ có một buổi tiễn biệt long trọng tại St. Pancras. Nancy ở trong trạng thái vui vẻ nhất. Nàng có đầy lẵng tay những hoa là hoa, lại đứng ở vị trí chính giữa trong hai kiểu chụp nhóm, và một tấm khác với chính David Chesham. Katharine, lường trước được sự phô trương với công chúng của Nancy, đă dàn xếp với các đại lư về việc này.
Về phần Madden, nàng phải công nhận rằng, chàng rất chững chạc, giữ khoảng cách vừa phải, và chú trọng tới Nancy với phong cách kín đáo thực thụ chỉ có ở chàng. Katharine chỉ có th́ giờ nói vài lời với chàng trước khi đoàn tàu chuyển bánh, chỉ là lời nhắc nhở tượng trưng là chàng chăm sóc Nancy chu đáo, rồi nàng trở về nhà với cảm giác mến chàng hơn bao giờ.
Sáng thứ Ba, nàng lật báo một cách háo hức. Như đă dự đoán, không có tin tức ǵ nhiều ở các báo London, mặc dù nhiều đoạn có nhắc đến vở kịch mới. Chỉ có tờ nhật báo Manchester có một cột dài, nhưng chỉ nói chung chung với vẻ tán dương ca ngợi khách sáo. Với nhịp đập kiêu hănh Katharine lướt qua một thông cáo tán tụng tài tŕnh diễn của Nancy. Chính Katharine đă xem Nancy tŕnh diễn trong hết các vở kịch từ trước đến giờ nên không nghi ngờ ǵ về tài năng của nàng. Nàng thật sự tài hoa. Theo như sự phác hoạ của người phụ nữ trẻ hiện đại mà nàng là một, rằng nàng có thể tŕnh diễn mà không cần phải có sự tận lực sáng tạo, sự mệt nhọc và tuổi trẻ không biết mệt cho các cảnh đương thời, bao gồm luôn độ chính xác và mỉa mai để trở thành không chỉ là một chân dung tượng h́nh mà c̣n là một nét trào phúng.
Với tất cả những niềm kiêu hănh và sự thích thú đích thực cho sự tiến bộ không ngừng của Nancy trên sàn diễn, Katharine vẫn có một thái độ mang vẻ gia ân cho nàng. Nàng không thật sự xem nó quan trọng khi Nancy, với sự xúc cảm mănh liệt thật ḷng, bảo rằng nàng sẽ cống hiến sự nghiệp và cuộc đời vào kịch nghệ. Kịch nghệ, Katharine cười thầm, chỉ là một cái ǵ đó to lớn nhưng không chắc chắn, trong khi Nancy lại mỏng manh và xinh đẹp, ở vị trí sẵn sàng hiến dâng cho hạnh phúc, rằng sự tương quan giữa hai điều đó đều phi lư. Hơn nữa, điều này không ngăn cản Katharine vui với thành công hiện tại của Nancy. Nàng hy vọng vở kịch này sẽ được tŕnh chiếu dài dài cho đến khi tới khu West End này. Ít ra, nàng ngẫm nghĩ, t́nh huống Madden có lẽ sẽ có thời gian để tự giải quyết phần nào.
Trong hai ngày kế tiếp, Katharine bận rộn với sự chuẩn bị cho chuyến đi, nàng bù đầu với nhiều công việc quan trọng khác hơn là chú tâm vào vở kịch. Nhưng vào thứ Sáu, nàng chợt có một sự nhắc nhở không ngờ nổi. Khoảng trưa trưa điện thoại chợt reo vang, giọng cO