Cuốn Theo Chiều Gió   - M. Mitchell Pages  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  Next  
Chương 1

Scarlett O Hara không đẹp, nhưng nam giới ít nhận ra điều đó mỗi khi bị

cuốn hút bởi sự duyên dáng của nàng, như trường hợp hai anh em song sinh Tarleton. Khuôn mặt nàng là một sự kết hợp hài hoà giữa những đường nét kiều diễm của mẹ, người quư tộc miền duyên hải thuộc ḍng dơi Pháp, và những góc cạnh thô kệch của người cha Ái Nhĩ Lan, da dẻ hồng hào. Tuy thế, đó là khuôn mặt ưa nh́n với cằm thon, hàm nở rộng. Đôi mắt xanh biếc của nàng được viền bởi những hàng nở rộng. Đôi mắt xanh biếc của nàng được viền bởi những hàng mi dài rậm uốn cong vút. Bên trên đôi mắt đó là hai vệt mày chênh chếch vạch thành hai đường nghiêng đậm nét trên làn da trắng trong của hoa mộc lan- màu da mà phụ nữ miền Nam vô cùng quư trọng và cẩn thận giữ ǵn bằng những chiếc nón rộng vành, mạng che mặt và bao tay để chống lại ánh nắng gay gắt của xứ Georgia.
Ngồi với Stuart và Brent Tarleton dưới bóng mát của mái hiên Tara, đồn điền của cha nàng, giữa một chiều nắng tháng Tư năm 1861, Scarlett là hiện thân của h́nh ảnh yêu kiều Chiếc áo mới bằng sa- tanh có điểm hoa xoè rộng mười một thước trên những viền đai, xứng hợp hoàn toàn với đôi giày da bê thuộc màu xanh mà cha nàng vừa mua từ Atlanta Chiếc áo làm nổi bật tột cùng cái ṿng eo bốn mươi hai phân rưỡi, ṿng eo thon mảnh nhứt của địa hạt xứ Georgia, và chiếc yếm bó sát vừa vặn để lộ bộ ngực tṛn trịa của một thiếu nữ 16 tuổi ? Tuy nhiên, dẫu tà áo đă được khép kín quanh, dẫu mái tóc láng mịn đă được búi gọn đúng vẻ trang nghiêm, và dẫu hai bàn tay trắng nhỏ đă được xếp tréo trên đùi, Scarlett cũng không che giấu nổi con người thật sự của nàng trên khuôn mặt cố giữ nét đoan trang, đôi mắt màu lam vẫn không ngớt lóng lánh ánh nhiệt cuồng, bướng bỉnh và khát sống, tương phản rơ rệt với cái vẻ bề ngoài cố làm ra thuỳ mị. Phong cách của nàng là kết tinh những lời khuyên dạy của mẹ và kỷ luật nghiêm khắc của mammy, nhưng đôi mắt vẫn là mắt của riêng nàng.
Mỗi người một bên Scarlett, hai anh em sinh đôi nhàn nhă ngồi trên ghế, vừa nói cười, vừa lơ đăng nh́n ánh nắng chiếu xuyên hai ly rượu ngọt bạc hà to tướng, và hững hờ bắt tréo đôi chân dài mang giày ống cao tới gối, cuồn cuộn nhưng bắp thịt rắn chắc của người quen sống trên lưng ngựa. Cùng 19 tuổi, cùng cao 1m85, xương dài thịt chắc, hai anh em cùng giống nhau như hai bành bông vải, cũng những khuôn mặt sạm nắng, cũng tóc đỏ hoe, cũng ánh mắt tươi vui ngạo nghễ, cũng mặc một loại áo màu xanh và quần kỵ mă màu hột cải.
Bên ngoài, nắng chiều chiếu nghiêng xuống khoảnh sân, ném những tia sáng chói chang lên hàng cây dương đào với từng chùm hoa trắng trên bối cảnh xanh um. Ngựa của 2 anh em song sinh được cột ngoài mă lộ, 2 con cao lớn bộ lông hung đỏ không khác ǵ tóc chủ. Vơ vẩn quanh chân ngựa là một lũ chó mảnh khảnh, hung hăng, đang gầm gừ nhau, và bất cứ lúc nào cũng theo sát Stuart với Brent. Xa hơn 1 chút, dường như để ra điều quư phái, một con chó lông lốm đố đen nằm gác mơm lên hai chân trước, nhẫn nại đợi chủ trở về dùng bữa tối.
Giữa đàn chó, đôi ngựa và hai anh em song sinh nảy sinh 1 mối thân t́nh c̣n sâu đậm hơn cả mối t́nh của những kẻ luôn khắng khít bên nhau. Tất cả đều cuờng tráng, vô tư, lành lặn duyên dáng và dũng cảm, hai gă con trai cũng hung hăng như ngựa họ, hung hăng và nguy hiểm nhưng đồng thời cũng ngoan ngoăn với những ai khéo xử.
Mặc dầu đuợc sinh trưởng giữa cuộc sống dễ dăi ở đồn điền, được săn sóc hầu hạ từ lúc bé nhưng cả 3 khuôn mặt duới mái hiên không có ǵ uể oải hay mềm yếu. Họ vẫn có đủ nghị lực và sự mẫn tiệp của dân quê đă từng quen sống ngoài trời và không một mảy may bận trí bởi những điều nhạt nhẽo trong sách vở. Cuộc sống ở hạt Clay ton, miền Bắc Georgia hăy c̣n mới mẻ và có phần sống sượng so với tŕnh độ ở các hạt Augusta, Savannah và Charleston. Người miền Nam kỳ cựu và nghiêm trang nhất thường nh́n dân sống ở cao nguyên Georgia với con mắt khinh thường, nhưng ở đây tại miền Bắc Georgia, vấn đề thiếu sót những điểm cầu kỳ trong nền giáo dục cổ điển chẳng có ǵ đáng cho là xấu hổ, miễn là người đàn ông có đủ khả năng để thực hiện những việc thích nghi. Và trồng bông vải, cuỡi ngựa hay bắn giỏi, khiêu vũ nhẹ nhàng, biết hầu chuyện nữ giới một cách lịch thiệp và biết uống ruợu như một khách hào hoa là tất cả những ǵ đáng kể.
Về các phương diện đó, hai anh em Tarleton tỏ ra xuất sắc, lại c̣n vượt bực hơn với sự bất lực rơ ràng về chuyện không thể thâu thập nổi bất cứ những ǵ chứa đựng trong sách vở. Gia đ́nh họ quá giàu, nuôi nhiều ngựa và nhiều nô lệ hơn bất cứ ai trong toàn hạt, nhưng cả hai th́ lại ít học hơn bất cứ người Cracker (người da trắng nghèo khổ ở miền Nam Hoa Kỳ) nào chung quanh.
Đó là lư do chánh yếu đă khiến cho Stuart và Brent nhàn hạ giết th́ giờ ở cổng đồn điền Tara vào buổi chiều tháng Tư này. Họ vừa bị trục xuất ra khỏi Đại học Georgia, trường đại học thứ tư trong ṿng 2 năm đă đuổi họ ra khỏi cửa, và anh em của họ là Tom và Boyd cũng bỏ học, cùng về, bởi v́ họ không thể tiếp tục ở lại nơi đă từng thẳng tay xử tệ với hai anh em song sinh. Đối với Stuart và Brent th́ lần bị đuổi học sau cùng này chỉ là một tṛ đùa, và Scarlett, kể từ khi rời khỏi nữ học xá Phayetteville, không buồn lật qua một trang sách nào nữa cả, cũng cho đó là một điều thú vị.
Nàng nói:
− Tôi biết 2 anh bất cần chuyện đuổi học, cả anh Tom cũng vậy. Nhưng chẳng biết anh Boyd sẽ ra sao? Anh ấy hiếu học, nhưng hai anh lại làm cho anh ấy lần lượt phải bỏ học ở Virginia, Alabama, South Carolina, và bây giờ tới Georgia. Cứ cái đà này, chắc chẳng bao giờ anh ấy tốt nghiệp đuợc.
Brent hững hờ:
− Ồ, có ǵ đâu. Anh ấy có thể học luật tại văn pḥng thẩm phán Parmalee ở Phayetteville. Vả lại, chuyện cũng chẳng có ǵ quan trọng. Đằng nào th́ bọn này cũng phải trở về trước khi hết học tŕnh.
− Sao vậy ?
− Chiến tranh chớ c̣n sao nửa Cô bé khờ, chiến tranh sắp sửa bùng nổ bất cứ khi nào. Cô tưởng có đứa nào trong bọn này sẽ chịu đi học trong khi chiến tranh diễn ra, phải không?
Scarlett khó chịu:
− Các anh dư biết là không có chiến tranh mà chỉ nói cho có chuyện thôi. Nếu có th́ tại sao anh Asley Quilkes và ba anh ấy nói với ba tôi là mấy ông đặc uỷ của ḿnh tại Hoa Thịnh Đốn tuần tra đă đi tới một thoả hiệp với ông Lincoln về chánh sách Liên Bang. Vả lại, bọn Yankee quá sợ ḿnh th́ làm sao dám đánh. Nhứt định là không có chiến tranh đâu, tôi chán nghe chuyện đó lắm rồi.
Cả 2 anh em song sinh đều bất b́nh kêu lên dường như họ đă bị đánh lừa:
− Không có chiến tranh!
Và Stuart tiếp ngay:
− Có chớ, cưng ơi, nhứt định sắp có chiến tranh. Có lẽ bọn Yankee vẫn sợ ḿnh, nhưng qua cái lối Đại tướng Beauregard nă đại bác đẩy bật chúng ra khỏi căn cứ Sumter, chúng bắt buộc sẽ phải đánh trả nếu không muốn cả thế giới coi chúng là những tên khiếp nhược. Tại sao, Liên bang...
Scarlett mím môi, bực tức:
− Nếu các anh nói tới "chiến tranh" một lần nữa, tôi sẽ vào nhà và đóng cửa lại ngay. Chưa bao giờ tôi chán nản tiếng nào hơn tiếng "chiến tranh" ngoại trừ tiếng "phân ly". Hết sáng tới trưa và tối, ba không ngớt nói chuyện chiến tranh, và bao nhiêu khách tới nhà cũng bô bô nói về chuyện căn cứ Sumter, về quyền lợi của các Tiểu bang và ông Abe Lincoln đến nổi tôi chán ngấy muốn hét lên. Rồi bọn con trai cũng nói vậy và nhắc chuyện bộ đội xưa cũ của họ. Cứ vậy mà mùa xuân này chẳng có một hội hè nào cho ra đám, bởi v́ bọn con trai chẳng có ǵ để nói khác hơn. Tôi hết sức bằng ḷng Georgia đă chờ đến qua lễ Giáng Sinh mới ly khai, nếu không th́ mấy cuộc vui dịp Giáng Sinh đều hỏng cả. Nếu các anh lặp lại lần nữa tiếng "chiến tranh" là tôi vào nhà ngay.
Scarlett sẽ làm đúng như đă nói v́ rằng nàng không thể chấp nhận được bất cứ một câu chuyện nào mà trong đó nàng không phải là chủ đề. Tuy vậy, nàng vẫn mỉm cười trong khi nói, cố làm cho đồng tiền ở má lúm sâu thêm, và chớp nhanh hàng mi đen rậm như cánh bướm. Đúng như nàng mong mỏi, cả hai đều thoả thích và vội vàng xin lỗi đă làm người đẹp mất vui. Họ không hề buồn phiền chút nào về việc nàng không thích thú nghe chuyện của ḿnh. Chiến tranh là việc của đàn ông chớ không phải của nữ giới, và họ xem thái độ của nàng như một dấu hiệu hiển nhiên của nữ tính.
Sau khi đưa hai người bạn trai ra khỏi câu chuyện nhàm chán về chiến tranh, Scarlett kéo vấn đề trở lại hiện t́nh của họ.
− Hai anh bị đuổi học, bác gái có nói ǵ không?
Hai anh em sanh đôi làm ra lúng túng, nhớ lại thái độ của bà mẹ ba tháng trước khi họ bị trục xuất khỏi Đại học Virginia.
Stuart đáp:
− Ơ, bả chưa kịp nói ǵ cả. Tom và tụi này rời nhà lúc sáng sớm trước khi bả dậy, Tom th́ đi qua chơi bên gia đ́nh Phontaine c̣n tụi nầy đi thẳng lại đây.
− Đêm qua, lúc mấy anh về tới, bác cũng không nói ǵ sao?
− Đêm qua, tụi nầy gặp vận may. Ngay trước khi bọn nầy về con ngựa giống mà má đặt mua ở Kentucky tháng trước được đưa tới, và cả nhà náo động lên. Đúng là con ngựa phi thường, Scarlett. Cô phải nói với ba cô qua xem cho biết... dọc đường nó cắn thằng nài và đạp nhầu hai thằng hắc nô mà má sai ra đón ở ga xe lửa Jonesboro. Và ngay trước khi bọn nầy về tới, nó đă phá tan hoang tàu ngựa và suưt giết chết con Straquberry, con ngựa ṇi già của má. Lúc tụi nầy về tới, má đang ở ngoài tàu ngựa với cả một bịch đường để nhử nó và đă thành công không mấy khó. Mấy đứa hắc nô th́ đeo cứng trên xà tàu ngựa, mắt đứng tṛng, bọn nó sợ dữ lắm, c̣n má th́ nhỏ to bên tai con thú làm như là bạn cũ. Trong khi đó, con ngựa đứng yên ăn đường của bà già đút cho. Chưa có ai trị ngựa bằng má. Và vừa thấy mặt tụi nầy, má hét lớn : "Trời ơi! Bốn đứa mày lại về nhà làm ǵ nữa đây? Tụi bây c̣n độc hại hơn bịnh dịch ở bên Ai cập!". Vậy là con ngựa bắt đầu khịt khịt và chồm lên. Bà già lại hét: "Đi hết ngay! Bộ tụi bây không thấy con ngựa cưng của tao bực ḿnh đó sao? Sáng mai tao sẽ hỏi tội cả lũ". Không chần chờ ǵ nữa, cả bọn đi ngủ, và sáng nay, tụi nầy đi sớm trước khi bà già thức dậy, để anh Boyd ở lại xoay xở.
− Theo các anh th́ bác gái có đánh anh Boyd không?
Cũng như tất cả những người khác trong hạt, Scarlett không lạ ǵ chuyện bà Tarleton nhỏ thó thường trừng trị các con bà bằng cách dùng roi ngựa quất tưới vào lưng họ mỗi khi nhận thấy đó là điều hữu hiệu nhứt.
Beatrice Tarleton là một phụ nữ luôn luôn bận rộn nhứt, dưới tay bà chẳng những có trọn một đồn điền bông vải rộng lớn, cả trăm hắc nô và 8 đứa con, lại c̣n thêm cả một trại nuôi ngựa to nhứt xứ. Là người nóng tánh, bà rất dễ nổi cơn thịnh nộ với những chuyện xằng bậy thường xuyên của 4 cậu con trai, và cho rằng thỉnh thoảng nện cho họ một trận đ̣n cũng chẳng có ǵ tai hại, mặc dầu đối với ngựa và bọn hắc nô, bà tuyệt đối cấm bất cứ ai sử dụng roi vọt.
Stuart kiêu hănh với chiều cao hơn một thước tám của ḿnh:
− Nhứt định là bà già không đánh anh Boyd. Chưa bao giờ anh Boyd bị đ̣n nhiều cả bởi v́ anh là con trưởng mà cũng là đứa đẹt nhứt trong bọn. Bởi vậy tụi này mới để ảnh ở lại để nói rơ cho bà già hiểu. Thiên địa ơi, đáng lẽ má đừng đánh tụi nầy nữa mới phải. Hai đứa nầy đă 19 tuổi rồi và anh Tom cũng 21 tuổi, vậy mà bà làm như cả đám mới lên sáu.
− Ngày mai bác gái có cỡi con ngựa mới đi dự dă yến bên gia đ́nh Quilkes không?
− Bà già tính vậy nhưng ba nói là nguy hiểm lắm. Dầu sao th́ bọn con gái cũng phải đi dự tiệc như một mệnh phụ, phải đi bằng xe đàng hoàng.
− Mong sao ngày mai đừng mưa. Suốt cả tuần, gần như ngày nào cũng có mưa. Chẳng có ǵ chán hơn là một dạ yến lại biến thành một bữa tiệc trong nhà.
Stuart làm ra vẻ thông thạo:
− Không có mưa đâu và trời sẽ ấm như tiết tháng sáu. Nh́n mặt trời lặn kia th́ biết. Tôi chưa thấy có mặt trời nào đỏ rạng như vậy bao giờ. Muốn biết thời tiết, chỉ có việc xem mặt trời lặn ra sao.
Họ cùng nh́n ra những mẫu đất mới cày thuộc đồn điền bông vải của ông Gerald dài mút mắt tới tận chân trời đỏ thẫm. Phía sau như!ng ngọn đồi bên kia sông Phlink mặt trời đang lặn từ từ giữa một vùng sắc đỏ tía trộn lẫn vào nhau, sức nóng của một ngày tháng tư cũng trở nên mát dịu.
Tiết xuân đă đến sớm hơn thường lệ với những trận mưa rào ấm áp, với những chùm hoa hồng đào nở rộ và những cành dương đào rải trắng sao hoa trên mặt đầm, u tối ở dăy đồi xa. Mặt đất đă cày gần xong và vầng hào quang đỏ thắm của mặt trời tưới nhuộm những luống cày mới trở của miền đất đỏ xứ Georgia. Đất mới c̣n ẩm ướt phơi ḿnh như lắng đợi hột bông vải gieo vào, trổ sắc hồng trên đầu luống cát và biến thành màu châu sa, màu đỏ thắm và nâu sậm trong ḷng luống. Ngôi nhà sở bằng gạch tô vôi trắng trông như một ḥn đảo giữa một biển son đang chuyển động, một vùng biển với những đợt sóng xoáy lốc, xoay tṛn bỗng dưng như dừng sửng lại giữa lúc các đầu sóng màu hồng vừa vỗ tới bờ. Ở đây không có loại đường cày thẳng tắp như thường thấy ở những cánh đồng đất sét vàng thuộc vùng b́nh nguyên trung bộ Georgia hay ở vùng đất đen lầy phù sa miền duyên hải. Vùng đồi núi thoai thoải miền Bắc Georgia là nơi lưỡi cày vạch thành hàng triệu đường cong để giữ cho đất màu mỡ khỏi chuồi tuột xuống ḷng sông rạch.
Đó là một vùng đất đỏ hoang sơ, đỏ như màu máu, sau các cơn mưa phai như gạch nung vào mùa nắng, và đó cũng là vùng sản xuất loại bông vải tốt nhứt thế giới. Đó là một miền gồm toàn những ngôi nhà trắng xinh xinh, những cánh đồng lặng lẽ và những ḍng nước lờ đờ, nhưng đó cũng là một miền có lắm sự tương phản giữa ánh nắng chói chan và bóng mát dày đặc. Những vùng trống trải của đồn điền với hàng dặm dài bông vải ngửa mặt chào đón ánh mặt trời ấm áp, hiền hoà và sung măn. Nhưng chung quanh đồn điền là những khu rừng già, đầy bóng tối và tươi mát dù dưới sức nắng của những ngày oi ả nhứt, những khu rừng huyền bí với đôi chút âm hiểm, cùng ngàn thông xao động với tất cả nhẫn nại muôn đời dường như lúc nào cũng hắt ra những lời đe doạ theo gió thoảng: "Ta đă từng chiếm giữ các người. Hăy coi chừng! Hăy coi chừng! Ta vẫn có thể tái chiếm những ǵ đă mất".
Ngồi dưới mái hiên, cả ba người trẻ tuổi vẳng nghe tiếng chân thú nện trên mặt đất, tiếng khua leng keng của yên cương và tiếng cười the thé vô tư của đám hắc nô trên đường từ đồng áng trở về. Từ trong nhà thoảng vọng ra tiếng nói nhẹ nhàng của mẹ Scarlett, bà Ellen O Hara, gọi đứa nữ t́ da đen phụ trách việc mang giỏ đựng ch́a khóa của bà. Giọng chát chúa trẻ con đáp lại: "Thưa bà, vâng", và có tiếng bước chân đi ra cửa sau, tiến lần về pḥng xông khói nơi bà Ellen sắp sửa chia khẩu phần cho những nô lệ vừa về tới. Có tiếng khua tô dĩa và tiếng muỗng nỉa bằng bạc chạm nhau trong khi Pork, người hầu cận trung tín của Tara sắp đặt bữa ăn tối.
Nghe những tiếng động sau cùng đó, bọn Stuart biết là đă tới giờ phải về nhà. Nhưng họ lại ngán phải chạm trán với bà mẹ nên cứ dần dà măi với hy vọng sẽ được Scarlett mời dùng bữa.
Brent nói:
− Nầy, Scarlett. Tôi muốn nói chuyện ngày mai. Không phải v́ tụi nầy ở xa, chẳng hay biết ǵ về buổi dạ yến và cuộc khiêu vũ mà bọn nầy không có quyền nhảy thật nhiều đêm mai. Chắc cô chưa hứa với bọn họ, phải không?
− Chưa sao được! Làm sao tôi biết trước là tất cả các anh cùng trở về? Không lẽ tôi phải giữ vai tṛ ngồi chơi xơi nước để đợi các anh.
Cả hai cùng cười phá lên:
− Cô mà ngồi chơi xơi nước à?
− Cưng ơi, cưng phải cho tôi được cùng nhảy bản luân vũ đầu tiên và dành cho Stu bản cuối cùng, và phải ngồi ăn tối chung với tụi nầy. Bọn ḿnh sẽ ngồi ở bệ thang và bắt Mammy Jincy đoán số mạng.
− Tôi không thích những lời bói toán của Mammy Jincy đâu. Bà ấy bảo tôi sắp kết hôn với một anh chàng tóc đen huyền, râu mép cũng đen và dài sọc. Tôi không ưa mấy anh chàng tóc đen nổi.
Brent nhăn nhó:
− Như vậy là cưng ưa mấy thằng tóc đỏ, phải không? Nào, hứa với tụi nầy đi, hai bản luân vũ và bữa ăn tối.
Stuart chêm vào:
− Nếu chịu hứa, tụi nầy sẽ cho nghe một chuyện bí mật.
Scarlett kêu lên, ṭ ṃ như một đứa bé:
− Sao? Chuyện ǵ vậy?
− Có phải đó là chuyện ḿnh mới nghe ở Atlanta ngày hôm qua không, Stu? Nếu là chuyện đó, mầy nhớ là tụi ḿnh đă hứa không được nói lại.
− Ừ, cô Pitty có dặn vậy.
− Cô ǵ?
− Cô biết mà, đó là Pittypat Hamilton, cô ruột của Charles và Melanie Hamilton ở Atlanta, có họ với Ashley Quilkes.
− Biết rồi, và đó cũng là một bà gái già ngốc nghếch nhứt mà tôi chưa từng thấy trong đời.
− Ừ, hôm qua khi bọn nầy tới Atlanta đợi chuyến xe về nhà th́ xe cô ấy đi ngang qua nhà ga và dừng lại nói chuyện với bọn nầy. Cô ấy cho biết là giữa cuộc khiêu vũ đêm mai người ta sẽ loan báo một lễ đính hôn.
Scarlett thất vọng:
− Tưởng ǵ chớ chuyện đó th́ biết rồi. Chính thằng cháu đần độn của bà ta là Charlie Hamilton sẽ đính hôn với con Honey Quilkes. Mấy năm nay ai cũng biết là bọn nó rồi có ngày sẽ lấy nhau, mặc dầu Charles không mấy sốt sắng về chuyện đó.
Brent hỏi:
− Cô cho là nó đần độn hả ? Giáng sinh năm rồi, chính cô đă để cho nó đeo dính một bên.
Scarlett thờ ơ nhún vai:
− Làm sao cản được? Trông y như một đứa lại cái.
Stuart ra chiều đắc thắng:
− Nhưng có phải là lễ hỏi của hắn đâu. Đây là chuyện của Ashley Quilkes và chị của thằng Charlie tức là cô Melanie.
Mặt Scarlett không đổi sắc nhưng môi nàng trắng lợt ra - giống như kẻ vừa lănh một quả đấm bất ngờ, vừa giữa lúc kinh động vẫn chưa hiểu việc ǵ xảy ra - đó là khuôn mặt của nàng khi nh́n sững Stuart và anh chàng nầy không bao giờ bận tâm phân tách, cho rằng Scarlett chỉ quá ngạc nhiên thôi và cảm thấy vô cùng thích thú.
− Theo cô Pitty th́ người ta muốn để sang năm mới loan báo v́ Melly không được mạnh khoẻ, nhưng với tất cả những tin đồn dồn dập về chiến tranh, cả hai gia đ́nh cũng nghĩ là nên cho thành hôn càng sớm càng tốt. Do đó mà có lời loan báo đêm mai giữa buổi tiệc. Rồi đó, Scarlett, tụi nầy đă tiết lộ hết rồi, bây giờ cô phải hứa cùng ngồi ăn chung với tụi nầy đi.
Scarlett trả lời như người máy:
− Vâng, tôi hứa.
− Và tất cả những bản luân vũ?
− Tất cả.
− Điệu quá! Chắc chắn là đám con trai khác nhảy dựng lên mà tức.
Brent nói:
− Có tức cũng chẳng sao. Chỉ hai đứa ḿnh là cũng đủ đối phó rồi. Nầy, Scarlett, ngồi với tụi nầy luôn bữa dă yến sáng nữa nghe.
− Cái ǵ?
Stuart lặp lại lời đề nghị:
− Cố nhiên.
Hai anh em sanh đôi mặt sáng rỡ nh́n nhau nhưng không khỏi ngạc nhiên đôi chút. Mặc dầu vẫn tự xem ḿnh là những kẻ thích hợp nhứt với Scarlett nhưng chưa bao giờ họ được hưởng những ân huệ dễ dàng thế cả. Thông thường nàng để cho họ van lơn, nài nỉ hết lời trong khi nàng vẫn lửng lơ chẳng chịu chẳng không, cười cợt khi họ dỗi hờn và lạnh lùng khi họ phát cáu. Và bây giờ nàng đă hiển nhiên hứa dành cho họ trọn ngày mai - ngồi bên cạnh nhau trong dă yến, cùng nhảy tất cả các bản luân vũ (và họ sẽ làm mọi cách cho tất cả các bản nhạc đều toàn một điệu luân vũ) và tiếp họ giữa tiệc tối. Vậy là bị đuổi khỏi Đại học cũng chẳng có ǵ đáng tiếc.
Với sự thành công bất ngờ, cả hai phấn khởi thêm, họ tiếp tục lân la, bàn đến chuyện dă yến và buổi dạ vũ, nói về Ashley Quilkes và Melanie Hamilton, thỉnh thoảng ngắt lời nhau, bông đùa và cười cợt với nhau nhưng cũng không quên nói gần nói xa một cách lộ liễu về ước vọng được mời ở lại ăn tối. Cứ thế măi một lúc khá lâu, họ mới nhận ra là Scarlett gần như chẳng nói năng ǵ cả. Không khí đă có phần đổi khác. Hai anh em song sanh chẳng biết rơ v́ sao, nhưng biết rơ là cảm giác hăng say của họ đă tan biến cùng với buổi chiều. Scarlett dường như không chú ư mấy đến những ǵ họ nói, mặc dầu vẫn ứng đáp phải lẽ. Mơ hồ nhận thấy có một điều ǵ mà họ không thẻ hiểu ra đă làm ngăn trở và gây chán nản, cả hai cố ở nán thêm lúc nữa, rồi miễn cưỡng đứng lên nh́n đồng hồ tay.
Mặt trời đă xuống thấp trên các cánh đồng mới cày và hàng cây cao bên kia ḍng sông đă biến thành những bóng đen. Chim én liệng mau như những lằn tên ngang qua sông, từng đàn gà vịt, gà tây vênh váo và núng na núng nính từ ngoài đồng kéo trở về trong hỗn loạn.
Stuart gọi to: "Jeems!" Và chỉ trong khoảnh khắc, một gă da đen cao lớn trạc tuổi họ hộc tốc chạy ṿng ngôi nhà tiến thẳng ra nơi cột ngựa. Jeems là người hầu riêng của hai anh em, và cũng như đàn chó, gă theo sát chủ khắp nơi. Gă cũng là bạn nô đùa của họ từ thuở nhỏ, và được giao đứt cho họ khi cả hai ăn mừng sinh nhật từ năm mười tuổi.
Vừa thấy bóng anh chàng da đen, đàn chó nằm trong bụi cỏ vụt đứng lên ngóng chủ. Hai anh em Tartleton nghiêng ḿnh chào, bắt tay và cho Scarlett biết là họ sẽ sang nhà Ashley vào sáng sớm để chờ nàng. Rồi cả hai cũng phóng bước ra nơi cột ngựa, nhảy phóc lên yên, phía sau anh chàng Jeems theo bên gót. Họ cho ngựa sải mau trên con đường đổ dốc giữa hai hàng cây bách hương, vừa phất nón vừa ḥ hét vói lại Scarlett.
Sau khi cho ngựa rẽ qua một khúc quanh trên con đường đầy bụi vừa khuất khỏi Tara, Brent cho ngựa dừng trước lùm cây dương đào, Stuart cũng dừng theo, và gă da đen cho ngựa đứng lại cách mấy bước phía sau. Được nới lỏng dây cương, mấy con thú vươn cổ gặm cỏ non mùa xuân, và đàn chó lúc nào cũng kiên nhẫn, lại cùng nằm bệt xuống mặt đất đầy bụi đỏ mịn màng, ngước nh́n một cách thèm muốn những con én liệng ṿng trong buổi hoàng hôn, Khuôn mặt chất phát của Brent hiện rơ nét băn khoăn với đôi chút bất b́nh.
− Nầy, mầy có nghĩ rằng đáng lẽ con bé phải mời ḿnh ở lại ăn không?
Stuart đáp:
− Tao cũng nghĩ vậy. Tao chờ cho nó lên tiếng nhưng nó chẳng nói, mầy thấy thế nào ?
− Tao không nghĩ ǵ cả. Có điều tao thấy đúng ra là nó phải mời ḿnh. Dầu sao đây cũng là hôm đầu tiên bọn ḿnh trở về và nó đă không gặp ḿnh từ lâu rồi. Với lại bọn ḿnh c̣n có cả khối chuyện để nói với nó.
− Theo tao th́ ngay lúc ḿnh vừa tới nó mừng ra mặt.
− Tao cũng thấy vậy.
− Và rồi, khoảng nửa giờ sau, nó bỗng lặng thinh làm như bị nhức đầu.
− Tao cũng nhận thấy như vậy nhưng lúc đó th́ không để ư. Theo mầy th́ con nhỏ bị chuyện ǵ?
− Có biết ǵ đâu. Bộ mầy tưởng bọn ḿnh có nói ǵ xúc phạm đến nó hả?
Cả hai cùng suy nghĩ giây lát.
− Tao cũng không thể nghĩ ra ǵ cả. Vả lại, mỗi lần Scarlett nổi sùng là ai cũng thấy rơ ngay. Nó không thèm tự kềm chế giống như một vài đứa khác.
− Đúng, nhờ vậy mà tao thích nó. Lúc nổi giận là nó nói toạc hết ra, không làm ra vẻ lạnh nhạt hay oán hận. Chắc có lẽ ḿnh đă làm hoặc nói ǵ đó khiến nó không nói chuyện nữa và trông như bị bệnh. Tao dám chắc là con nhỏ rất hài ḷng khi thấy bọn ḿnh tới và đă có ư định mời bọn ḿnh ăn tối.
− Chẳng biết là có phải tại tụi ḿnh bị đuổi học không?
− Trời, không phải đâu. Đừng ngu quá vậy. Nó vẫn cười giỡn khi bọn ḿnh cho biết. Chẳng những thế, nó cũng bất cần chuyện học hành không khác bọn ḿnh.
Brent quay người lại, gọi:
− Jeems!
− Dạ.
− Mầy có nghe tụi tao nói chuyện với Scarlett không?
− Dạ không, thưa cậu B ent. Sao cậu cho rằng tôi dám dọ dẫm người da trắng?
− Trời ơi, dọ dẫm! Bọn da đen tụi mầy th́ có chuyện ǵ là không biết. Nầy, thằng láo, chính mắt tao thấy mầy núp gần bên thềm trong cụm lài bên cạnh bờ tường. Đâu, mầy cho biết coi bọn tao có nói ǵ làm phật ư cô Scarlett... hay làm cho cô ấy tức giận không?
Thế là gă Jeems bỏ luôn màn kịch tỏ ra không hề nghe lén. Gă nhíu đôi mày đen sậm:
− Dạ không, tôi không nghe hai cậu nói ǵ làm cho cô giận. Cô ấy hết sức bằng ḷng khi gặp lại hai cậu, cô nói huyên thuyên như con chim, nhưng tới khi hai cậu kể chuyện cậu Ashley và cô Melly Hamilton th́ cô ngồi sửng làm như con chim nhỏ nh́n thấy diều hâu bay trên trời.
Hai anh em song sinh nh́n nhau, gật đầu, nhưng chẳng hiểu ra sao cả.
Stuart lên tiếng trước:
− Thằng Jeems nói đúng. Nhưng tao cũng không hiểu tại sao. Ông ơi! Ashley có nghĩa ǵ với nó đâu, chỉ là một người bạn. Nó có mê ǵ thằng Ashley, chỉ có bọn ḿnh là nó khoái.
Brent gật đầu:
− Mầy có nghĩ là có lẽ Ashley không cho nó biết trước chuyện loan báo đêm mai nên nó nổi giận. Đă là bạn cũ th́ nó cần được biết trước khi mọi người đều hay. Con gái th́ đứa nào cũng coi việc biết trước những chuyện đó là quan trọng.
− Ừ, có thể là như vậy. Nhưng có ăn thua ǵ khi người ta không cho hay trước. Đó là chuyện cần giữ kín để tạo một sự bất ngờ vui vẻ, và người đàn ông có quyền giữ riêng chuyện cưới hỏi của họ chớ, phải không? Bọn ḿnh có lẽ cũng không biết nếu cô của Melly không nói ra. Nhưng phần Scarlett th́ phải biết chuyện đó phải xảy ra. Từ nhiều năm nay ai cũng biết, ḍng họ Quilkes và Hamilton luôn luôn gả cưới những người trong họ. Người nào cũng biết là Ashley sẽ cưới Melly một ngày nào đó, cũng như Honey Quilkes sắp kết hôn với em của Melly là thằng Charles.
− Thôi, tao chịu thua. Nhưng tao vẫn khó chịu v́ con nhỏ không mời ḿnh ở lại ăn tối. Tao thề là tao không muốn về nhà giờ này để nghe má tụng về chuyện bị đuổi học.
− Có lẽ giờ này anh Boyd đă làm dịu được bà già. Anh ấy già mồm lắm, lúc nào cũng có thể làm bà già nguôi giận.
− Đồng ư, nhưng Boyd phải mất nhiều th́ giờ. Ảnh phải nói quanh co cho tới khi má không rơ là chuyện ǵ nữa cả và bảo ảnh bớt nói lại để giữ giọng trong khi thực tập làm luật sư. Nhưng tao lo là ảnh chưa t́m ra chỗ đúng lúc. Tao cá với mầy là má vẫn c̣n xúc động nhiều về con ngựa mới về, đến nỗi không nhận ra là bọn ḿnh đă trở về. Rồi, tới tối nay khi ngồi vào bàn ăn, thấy anh Boyd... Và trước khi bữa ăn kết thúc, má vẫn hét ra lửa. Và có thể là tới 10 giờ đêm, trước khi anh Boyd nói cùng má là tụi ḿnh chẳng đứa nào c̣n mặt mũi nếu cứ ở lại trường, sau khi ông Viện trưởng mắng tao và mầy xối xả. Và cho tới nửa đêm, anh Boyd mới có thể chọc tức được má khiến má giận ông Viện trưởng, và hỏi anh Boyd sao không bắn ông ta. Không, tụi ḿnh không thể về nhà trước nửa đêm.
Hai anh em buồn bă nh́n nhau. Họ bất chấp ngựa hoang, họ dám dây huyên náo và bất b́nh cho những người láng giềng, nhưng họ lại kinh hoảng trước lời lẽ nhiếc móc của người mẹ tóc đỏ, cũng như ngọn roi ngựa mà bà không ngần ngại quất vào mông họ.
Brent đề nghị:
− Hay là ḿnh sang nhà Quilkes. Ashley và bọn con gái chắc sẵn sàng mời ăn.
Stuart vẫn băn khoăn:
− Không, đừng qua đó. Họ c̣n bận lo các món ăn trong buổi dă yến ngày mai, vả lại...
Brent nói mau:
− Ồ, tao quên mất. Thôi, không qua đó.
Họ thúc ngựa và đi bên nhau trong yên lặng một lúc lâu, một thoáng ngại ngùng hiện ra trên đôi má nâu sậm của Stuart. Hè năm rồi, Stuart vẫn theo tán tỉnh India Quilkes với sự đồng ư của gia đ́nh hai bên và của cả toàn hạt. Người trong hạt cho rằng tính t́nh trầm lặng của India có thể sẽ làm cho anh chàng bớt nóng nảy hơn. Tất cả đều mong như thế với bất cứ giá nào. Stuart có lẽ cũng thành hôn rồi nếu Brent không bất măn. Brent cũng mến India nhưng cho rằng cô ta quá tầm thường và nhạt nhẽo, và anh ta không thể yêu India được chỉ v́ c̣n muốn chơi thân với Stuart. Đó là lần đầu tiên, hai anh em bất đồng ư kiến, và Brent đă giận Stuart sao lại để mắt tới một thiếu nữ mà anh ta cho là chẳng có điểm nào đặc sắc.
Rồi, mùa hạ năm rồi, tại một cuộc hội thảo chính trị giữa khu rừng sồi ở Jonesboro, cả hai bỗng cùng để ư tới Scarlett O Hara. Họ đă biết nàng từ nhiều năm, và ngay từ lúc bé, Scarlett đă là bạn thân thiết nhứt của họ v́ nàng cũng biết cỡi ngựa và trèo cây không kém họ. Nhưng bây giờ, trước sự ngạc nhiên của họ, Scarlett đă biến thành một thiếu nữ thanh lịch đă tới tuổi trưởng thành, và là một thiếu nữ kiều diễm nhứt đời.
Lần đầu tiên họ để ư tới ánh mắt xanh biếc và linh hoạt của nàng cười, đến đôi tay và đôi chân nhỏ nhắn cùng vùng eo thon. Những nhận định của họ khiến Scarlett cười ḍn tan, và tự nghĩ rằng nàng đă coi hai anh em ḿnh như những kẻ xuất sắc, họ đâm ra tự đánh giá cao hơn.
Đó là ngày đáng ghi nhớ nhứt trong đời hai anh em song sinh. Về sau, mỗi lần nhắc lại, họ cứ măi tự hỏi tại sao không nhận ra bóng sắc của Scarlett sớm hơn. Chẳng bao giờ họ t́m ra một câu trả lời chính xác, bởi v́ câu trả lời đó, Scarlett chẳng nói ra, bởi v́ hôm đó, nàng quyết tâm làm hai anh em chú ư tới ḿnh. Nàng tự nguyện là không bao giờ chấp nhận bất cứ một người đàn ông nào yêu một phụ nữ khác hơn ḿnh, và khi thấy sự thân mật của Stuart và India tại buổi hội thảo, nàng không chịu nổi. Không riêng với Stuart, nàng c̣n quăng lưới cả Brent với tất cả quyết tâm làm cho họ mê mệt ḿnh.
Và bây giờ, cả hai đều đă yêu nàng, India và Litty Munroe ở Lovejoy, cô gái mà Brent đă từng theo ve văn, đều bị quên lăng. Rồi người thua cuộc sẽ làm ǵ, nếu Scarlett chọn một trong hai anh em, đó là điều mà họ không bao giờ nghĩ tới. Họ chỉ có việc phải qua cầu khi chiếc cầu hiện ra trước mắt. Ngay hiện thời, họ cũng hài ḷng như nhau v́ cùng chấm một cô gái, bởi v́ giữa họ không hề có vấn đề ganh tị. T́nh trạng đó khiến cho người láng giềng vô cùng thích thú, nhưng lại gây phiền muộn cho bà mẹ v́ bà không thích Scarlett.
Bà nói:
− Rồi bọn bây sẽ biết nếu con nhỏ quỉ quái đó lấy một trong hai đứa bây. Không chừng nó sẽ lấy cả hai và chừng đó, bọn bây chỉ có nước dọn qua Utah nếu bọn Mormons chịu chấp nhận - nhưng đó là điều c̣n nghi ngờ - Tất cả những cái ǵ làm cho tao buồn nhứt là có ngày tụi bây say mèm và nổi ghen với nhau v́ cái bị thịt, khuôn mặt và hai con mắt xanh lè đó, rồi bắn giết nhau. Nhưng dầu sao, đó cũng không phải là một ư nghĩ xấu.
Từ sau ngày dự cuộc hội thảo, Stuart đâm ra ngượng ngùng mỗi khi đối diện với India. T́nh trạng đó không phải do India phiền trách hay tỏ dấu bằng ánh mắt hay cử chỉ là đă biết rơ sự thay đổi đột ngột của anh ta rồi. Nàng vẫn tỏ ra quá thanh lịch. Nhưng Stuart th́ vẫn có mặc cảm phạm tội và bối rối trước mặt nàng. Anh ta biết là chính ḿnh đă làm cho India yêu ḿnh và cô nàng vẫn c̣n yêu, do đó, anh ta tự thấy là ḿnh không xứng đáng. Anh vẫn thương nàng sâu đậm và trọng nể nàng qua phong cách dịu dàng, qua tŕnh độ học vấn và tất cả những đức tính quí giá của nàng. Nhưng khốn nỗi, nàng vẫn cứ tái mét và xoàng xĩnh măi măi bên cạnh bóng sắc tươi sáng và bản chất phong phú của Scarlett. Bất cứ lúc nào người ta cũng đọc được ư nghĩ của India một cách dễ dàng, nhưng với Scarlett th́ khó mà đoán được chút ǵ. Chỉ bao nhiêu đó cũng làm cho đàn ông thú vị lắm rồi.
− Thôi, ḿnh qua Cade Calvert ăn tối đi. Scarlett cho biết là Cathleen vừa từ Charleston về. Có thể cô ta biết thêm được chút ít tin tức về căn cứ Sumter.
− Cathleen th́ chẳng biết ǵ đâu. Tao cá hai ăn là một con nhỏ cũng không biết có căn cứ nằm trong hải cảng ở đó, đừng nói là biết đến chuyện có đầy nhóc quân Yankee cho tới khi ḿnh đẩy bật chúng đi. Tất cả những ǵ mà cô ta biết là những cuộc khiêu vũ đă được tham dự, và mấy thằng nhân t́nh vớ được.
− Đúng vậy, nhưng nghe nó bí ba bí bô cũng vui tai. Ngoài ra, ḿnh c̣n có chỗ để ẩn trú chờ khi má đi ngủ.
− Được rồi. Tao thích Cathleen và muốn nghe nó nói về chuyện Caro Rhett cùng những người quen biết khác ở Charleston. Nhưng dầu có bị đày xuống địa ngục, tao cũng khó ngồi chung bàn ăn lần nữa với bà mẹ kế người Yankee của cô ta.
− Đừng nặng lời, Stuart, bà ta là người tốt.
− Tao có ác ư ǵ với bà ta đâu. Tao thương hại bà ta, nhưng tao không thích những kẻ làm cho ḿnh thương hại họ. Bà ta, lúc nào cũng rối rít, săn đón, cố làm cho khách được thoải mái, cuối cùng chỉ nói và làm toàn những chuyện không phải chỗ. Bà ta làm tao muốn đứt thần kinh luôn. Và cho rằng người miền Nam toàn là những kẻ man rợ. Có lần bà ta nói với má như vậy. Bà ta sợ người Nam lắm. Hễ lúc nào ḿnh tới là bà ta sợ điếng hồn. Trông bà ta không khác một con gà mái ốm đứng co ro trên ghế, mắt trợn trừng trắng dă, sẵn sàng kêu hoảng và đập cánh dầu chỉ với một tiếng động thật nhẹ.
− Mầy không nên trách bà ta. Chính mầy đă bắn vào chân thằng Cade.
− Hôm đó tao say quá, nếu không tao đâu có làm vậy. Mà thằng Cade có thù hận ǵ đâu. Cả Cathleen, Raiphord và ông Calvert cũng không nói ǵ. chỉ có cái bà mẹ ghẻ Yankee đó là la ầm lên, mắng tao là quân mọi rợ và cho rằng người lịch sự không thể nào sống yên được với người Nam kém văn minh.
− Hừ, mầy không thể trách bả. Bả là người Yankee, không quen với những hành vi mă thượng. Vả lại, dù sao th́ mầy cũng đă bắn thằng con ghẻ của bả.
− Mẹ kiếp, đó không phải là lư do để mắng chửi tao. Mày là con đẻ của má, nhưng má có la ầm ĩ vậy đâu khi mầy bị thằng Tony Phontaine bắn vào chân? Không, bà già chỉ cho mời lăo bác sĩ Phontaine đến băng bó và c̣n hỏi cái ǵ đă làm cho thằng Tony bắn không trúng. Má lại đoán chừng v́ rượu cho nên nó đă nhắm không trúng mục tiêu. Mầy có nhớ là thằng Tony Phontaine lúc đó giận vô kể không?
Cả hai anh em cùng cười vang dội.
Brent nói với tất cả t́nh thương mẹ:
− Má thật là cừ khôi. Ḿnh có thể luôn luôn tin tưởng ở má để làm đúng và khỏi phải lúng túng trước mặt những kẻ khác.
− Đúng, nhưng đêm nay, lúc ḿnh về, má vẫn thừa khả năng làm ḿnh bối rối trước mặt ba và đám con gái. Brent, tao đoán là tụi ḿnh hết đi Âu châu được rồi. Má nói là nếu ḿnh bị đuổi học lần nữa, th́ hết được đi du lịch.
− Hừ, ḿnh cóc cần, phải không? Có ǵ để xem ở Âu châu đâu? Tao cá là mấy người ngoại quốc đó chả có ǵ mà ngay ở Georgia nầy ḿnh không có. Tao cá là ngựa họ không nhanh bằng ngựa ḿnh, con gái không đẹp hơn, và tao dám chắc là họ không thể có được loại Whisky bằng lúa mạch nào đương nổi với rượu của ba.
− Ashley Quilkes bảo là họ có cả khối hí viện và pḥng hoà nhạc. Ashley thích Âu châu. Anh ta cứ nói tới luôn.
− Hừ... Mầy đă biết ḍng họ Quilkes ra sao rồi mà. Họ say mê âm nhạc, sách vở và sân khấu. Má cho biết đó là do nội tổ của họ gốc Virginia. Má bảo là xứ Virginia rất say mê những thứ đó.
− Mặc họ. Cứ cho ta một con ngựa giỏi để cỡi và rượu ngon để uống, gái đẹp để ve văn, một cô khác lẳng lơ để đùa giỡn là mọi người mặc t́nh ôm lấy Âu châu của họ... Không được du lịch th́ ăn nhằm ǵ. Thí dụ như lúc nầy ḿnh đang ở Âu châu và chiến tranh xảy ra th́ sao? Làm sao ḿnh về sớm kịp? Đánh giặc c̣n sướng hơn đi Âu châu nhiều.
− Tao cũng nghĩ vậy, ngày nào... Ê, Brent, tao biết chỗ ḿnh có thể tới kiếm ăn rồi. Bây giờ ḿnh băng qua đầm tới chỗ của Able Quynder, cho anh ta biết là cả bốn đứa đều về tới và sẵn sàng tập quân sự.
Brent reo mừng:
− Ư kiến hay. Bọn ḿnh c̣n biết thêm tất cả các tin tức liên quan tới Bộ đội và coi họ đă chọn màu sắc nào cho quân phục.
− Nếu quân phục giống của bọn Zouave th́ dù có bị đày xuống địa ngục, tao cũng không nhập ngũ. Mặc cái thứ quần đỏ rộng thùng th́nh đó, tao sẽ giống hệt một tên lại cái. Trông nó có vẻ như là quần lót bằng nỉ đỏ của đàn bà.
Gă hắc nô nói xen vào:
− Bộ mấy cậu tính sang nhà ông Quynde hả ? Tới đó không có ǵ ăn đâu. Thằng bết chết ồi mà ổng cũng chưa mua được đứa mới, Bây giờ là một con mẹ làm việc ngoài đồng vô nấu ăn, tụi da đen cho biết con mẹ đó nấu ăn tồi nhứt nước.
− Coi ḱa, sao không mua một đứa làm bếp khác ?
− Mấy người da t ắng nghèo cặn bă đó làm sao mua nổi người da đen? Ở nhà không khi nào có hơn được bốn đứa.
Giọng nói của Jeems biểu lộ rơ sự khinh thường. Địa vị xă hội của nó được kể như được bảo đảm v́ họ Tarleton có cả trăm nô lệ, và cũng như tất cả các hắc nô ở những đồn điền lớn, nó khinh miệt các nông gia nghèo chỉ có vài đứa tớ.
Stuart giận dữ:
− Tao đập chết mầy bây giờ. Đừng dở giọng gọi Able Quynder theo kiểu đó. Ông ta nghèo nhưng không phải là cặn bă. Và dầu có bị đày xuống địa ngục, tao cũng nhứt định không để cho một kẻ nào, dầu đen hay trắng, chạm tới ông ta. Trong khắp hạt này, chẳng có người nào hơn ông ta nổi, nếu không th́ tại sao được Bộ đội tuyển chọn làm Thiếu Uư?
Jeems vẫn không ngại nét mặt hầm hừ của chủ:
− Cái nầy th́ thiệt là không hiểu nổi, đáng lẽ phải lựa sĩ quan t ong các người giàu thay v́ lựa đám cặn bă ở đầm lầy.
− Ông ta không phải là cặn bă, mầy nghe rơ chưa? Bộ mầy muốn so sánh ông ta với tụi da trắng cặn bă như Slattery hả ? Able không giàu, vậy thôi. Ông ta là một nông gia ít đất, không phải là chủ một đồn điền lớn, nhưng đó không phải là cái cớ để bất cứ đứa da đen nào xúc phạm tới ông ta. Bộ đội, người ta biết rơ chuyện phải làm.
Đội kỵ binh đă được thành lập 3 tháng trước, ngay trong ngày xứ Georgia tách ra khỏi liên bang, và cũng kể từ đó, các tân binh được huấn luyện gấp rút cho chiến tranh. Mặc dầu không thiếu những đề nghị, đội quân vẫn chưa có danh hiệu. Mỗi người đều có một ư kiến riêng và cứ muốn cho đó là ư kiến hay, cũng như mỗi người đều có một quan điểm riêng về màu sắc và kiểu quân phục. "Đoàn mèo rừng của Clayton", "Những kẻ nuốt lửa", "Kỵ binh miền Bắc Georgia", "Đoàn quân Zouave", "Các tay súng trường nội địa" (mặc dầu Bộ đội chỉ được vơ trang súng lục và gươm dáo chớ không hề có súng dài), "Những người xám của Clayton", "Đơn vị Máu và Sấm sét", "Những kẻ gan ĺ",... ngần ấy danh hiệu đều có người khăng khăng binh vực. Trong khi chờ đợi quyết định, mọi người đều gọi tổ chức là Bộ đội, và danh hiệu đó thế rồi tồn tại luôn.
Sĩ quan được các đoàn viên đề cử lên, v́ rằng không một ai trong hạt có được chút ít kinh nghiệm về quân sự, ngoại trừ một vài cựu chiến binh đă từng dự các trận chiến Mễ Tây Cơ và Seminole, ngoài ra Bộ đội không bao giờ chấp nhận cho một cựu chiến binh cầm đầu họ, nếu người đó không được họ mến chuộng và tin cậy. Mọi người đều thích bốn gă con trai của họ Tarleton và ba anh chàng của nhà Phontaine, nhưng buộc ḷng không thể chọn v́ đám Tartleton uống rượu mau say, c̣n đám Phontaine th́ dễ nổi máu sát nhân. Ashley Quilkes được cử làm Đại uư nhờ có biệt tài kỵ mă, và tinh thần trầm tĩnh của chàng có thể nêu gương sáng trong quân ngũ để duy tŕ kỷ luật. Raiphord Calvert được đề bạt chức Trung uư, v́ được mọi người mến chuộng, phần Able Quynder, con một người làm nghề sập bẫy ở ao đầm, th́ được làm Thiếu uư.
Able là một chàng khổng lồ, dốt đặc nhưng thông sáng, tốt bụng trọng tuổi hơn các thanh niên khác, và cũng sử xự hết sức thanh lịch trước mặt nữ giới. Trong Bộ đội ít người chú ư tới địa vị xă hội. Phần lớn ông bà và cha mẹ họ đều xuất thân từ thành phần nông dân nghèo khó, rồi mới dựng được cơ nghiệp đồ sộ như ngày nay. Hơn nữa, Able là tay súng thiện xạ nhứt trong Bộ đội, có thể bắn trúng phóc con mắt của một chú sóc ở cách xa khoảng bảy mươi thước, ngoài ra y lại c̣n thấu đáo tất cả nghệ thuật sống ngoài trời như nhóm lửa dưới mưa, theo chân thú và t́m ra mạch nước. Bộ đội thán phục chân tài đó, đă thế họ lại c̣n ưa thích y nên Able được đưa lên hàng sĩ quan. Y nhận lấy vinh dự ấy một cách đứng đắn, không tự kiêu, dường như cho đó là một chuyện cố nhiên. Tuy thế, các bà chủ sở và các nô lệ đồn điền không chịu quên rằng Able là kẻ thuộc ḍng hạ lưu, mặc dù chồng con và chủ họ không lưu tâm tới điều đó.
Mới đầu, Bộ đội chỉ tuyển mộ riêng biệt con cái của các chủ sở, mỗi người tự sắm ngựa lấy, tự mua vơ khí, quân trang, quân dụng và người theo hầu. Nhưng ở hạt Clayton chưa thành h́nh được bao lâu, làm ǵ có được nhiều chủ điền giàu có, bởi thế muốn có được một đoàn quân hùng mạnh, người ta phải gọi thêm tân binh trong đám con cái nông dân nghèo, thợ săn thú ở rừng sâu, các tay bẫy sập ở ao đầm, những người Cracker, và trong một số ít trường hợp, cả những người da trắng nghèo khổ, với điều kiện nếu họ khá hơn chút ít đối với người trong giới họ.
Những binh sĩ thuộc hạng sau này cũng nao nức được đánh quân Yankee không kém ǵ những làng giềng giàu có hơn. Rồi vấn đề khó khăn về tài chánh được nêu lên, chỉ một ít nông dân nghèo là có ngựa. Công việc đồng áng toàn là nhờ cả vào loại la, ít khi có hơn được bốn con. Họ không thể hy sinh những con la đó cho quân ngũ, dầu rằng Bộ đội chịu chấp nhận, nhưng đó là chuyện hoàn toàn không ai nghĩ tới. Riêng những người da trắng nghèo khổ, có được một con la cũng đă khá lắm rồi. Phần các thợ săn trong rừng rậm, những người sống bằng bẫy sập, th́ chẳng có ngựa mà cũng chẳng có la. Họ chỉ sống toàn là nhờ vào thú săn hay bẫy được rồi mang đi bán, nên quanh năm có khi chẳng được 5 Mỹ kim tiền mặt. Việc sắm ngựa và quân phục vượt quá tầm tay họ. Nhưng họ cũng kiêu hănh ghê gớm về sự nghèo khó của ḿnh, chẳng khác ǵ những ông chủ đồn điền tự đắc về sự nghiệp lớn lao, và họ nhứt định không đón nhận bất cứ những ǵ được coi như ḷng từ thiện của những láng giềng giàu có. Do đó, để giữ được sĩ diện của mọi người, đồng thời cũng nhằm tăng cường sức mạnh cho Bộ đội, cha của Scarlett, các ông John Quilkes, Buck Munroe, Jim Tarleton, Hugh Calvert, nói chung là mỗi chủ sở to lớn trong hạt, ngoại trừ người duy nhứt là Angus Mac-in-tosh, đều đóng góp tiền bạc để lấp bằng sự khiếm khuyết của Bộ đội, cả ngựa lẫn người. Chung cuộc là mỗi chủ nhân đồn điền đồng ư xuất tiền sắm quân trang, quân dụng cho con cái của họ và một số thanh niên khác, nhưng vấn đề quan trọng là phải dàn xếp thế nào để cho những người nghèo chịu nhận lănh mà danh dự không bị tổn thương.
Mỗi tuần, Bộ đội tập hợp hai lần tại Jonesboro để thao luyện và cầu nguyện chiến tranh tới sớm. Mặc dầu chưa mua được đầy đủ ngựa, những kẻ có sẵn ngựa vẫn tới thao dượt trên cánh đồng phía sau pháp đ́nh và diễn tập điều mà họ cho là kỹ thuật chiến đấu của kỵ binh, bụi cát tung bay mù mịt giữa những tiếng reo ḥ khản cổ và những cánh tay vun vút múa các thanh kiếm từ đời chiến tranh Cách Mạng vừa được tháo gỡ ở pḥng khách xuống. Những người chưa có ngựa th́ ngồi ở lề đường, trước cửa hiệu Bullard, nh́n theo đồng đội, vừa nhai thuốc lá vừa kể chuyện phiêu lưu mạo hiểm, hoặc thi đua bắn súng. Bất cứ người đàn ông nào ở miền Nam cũng không cần phải tập bắn, v́ họ đều được sanh trưởng với khẩu súng trên tay, và các cuộc săn bắn thường xuyên đă biến họ thành những tay thiện xạ.
Từ những ngôi nhà rộng lớn của chủ đồn điền, tới các căn lều lụp xụp ở ao đầm là cả một sự khác nhau về vũ khí. Nào là những khẩu súng săn nạp đạn thượt dạo nào c̣n mới, nào những cây súng nạp đạn ở đầu nóng đă bắn hạ nhiều tên da đỏ vào thời kỳ tân khai xứ Georgia, những khẩu súng lục đă được sử dụng từ năm 1812 trong các trận chiến Seminol và Mễ tây cơ, súng cán bạc dùng để song đấu, súng bỏ túi, súng hai ṇng và một vài cây súng trường mới tinh của Anh quốc, với bá gỗ bóng láng.
Các buổi tập dượt luôn luôn được chấm dứt ở các quán rượu nơi Jonesboro và cho tới lúc chiều tối th́ nhiều vụ ấu đả xảy ra đến nổi các sĩ quan phải vất vả lắm mới tránh cho họ khỏi bị thương tích, trước khi quân Yankee có thể gây cho họ. Chính trong một của những cuộc xô xát đó mà Stuart Tarleton đă bắn Cade Calvert và Tony Phontaine bắn Brent. Hai anh em song sinh đang ở nhà, sau khi mới bị trục xuất khỏi Đại học Virginia, ngay lúc Bộ đội được thành lập và họ đă hăng hái gia nhập ngay, nhưng sau vụ bắn nhau, hai tháng trước bà mẹ lại bắt họ vào Đại học quốc gia và phải ở luôn tại đó. Họ buồn bực v́ không được dự vào những dịp náo nhiệt qua các buổi tập luyện và nhận thấy rằng chuyện học hành thật là vô bổ, chỉ mong sao được cưỡi ngựa, ḥ hét và bắn súng với các bạn.
Brent nhắc lại:
− Thôi, ḿnh băng đồng qua nhà Able đi. Ḿnh vượt qua ḷng rạch của ông O Hara và đồng cỏ của nhà Phontaine là tới nơi trong chốc lát.
Jeems vẫn cố chống:
− Qua đó họ chỉ cho ḿnh ăn toàn au cải và thịt chuột ừng thôi.
Stuart nhíu mày:
− C̣n mầy th́ chẳng được ăn cóc ǵ. Mầy phải trở về nói cho má tụi tao hay là tụi nầy không ăn tối.
Jeems kêu hoảng:
− Không, tôi không đi đâu. Không, nhứt định không. Tôi không muốn bị bà Beet iss ném a ngoài. T ước hết, bà hỏi tại sao tôi để hai cậu bị đuổi nữa. Kế nữa, bà hỏi tại sao tôi không đem hai cậu về tối nay để bà nện. Rồi bà nhảy tới chụp tôi như con vịt chụp con bọ và đổ hết lỗi cho tôi. Nếu hai cậu không dẫn tôi theo qua nhà ông Able Quynder, th́ tôi sẽ ở trong rừng suốt đêm và sẽ bị lính tuần chộp đầu. Thà bị bắt c̣n sướng hơn là bị bà Beet iss vồ khi bà nổi xung.
Hai anh em song sinh nh́n nét mặt cương quyết của gă da đen, vừa do dự vừa bực tức.
− Điên khùng như nó th́ dễ bị lính tuần bắt lắm, mà như vậy là má sẽ có chuyện để chế nhạo thêm mấy tuần. Tao quả quyết là bọn da đen c̣n rắc rối hơn ai hết. Lắm lúc tao nghĩ bọn chủ trương băi bỏ chế độ măi nô có lư.
− Để thằng Jeems gánh chịu những ǵ chính ḿnh phải chịu là không tốt. Ḿnh phải đem nó theo. Nầy thằng mọi khùng mặt dày mày dạn kia, nếu mầy lỡ lời hay làm bộ làm tịch trước đám hắc chủng của ông Quynder, và nói bóng nói gió là nhà ḿnh luôn luôn ăn gà quay và đùi heo muối trong khi họ chỉ được ăn thỏ và chuột rừng thôi, th́ tao... Tao sẽ nói cho bà biết. Và tụi tao cũng không cho mầy đi theo đánh giặc.
− Làm bộ làm tịch ǵ? Tôi mà phải cần lên mặt với lũ da đen rẻ tiền đó à? Thưa cậu, không đâu. Tôi là người đàng hoàng, lịch sự mà. Bà Beet iss dạy tôi cách xử sự cũng như đă dạy hai cậu.
Stuart chép miệng:
− Rất tiếc là bà già đă uổng công với cả ba. Thôi đi.
Anh ta thúc đinh giày vào hông ngựa khiến nó nhảy vọt qua một cách dễ dàng bức rào chắn giữa con lộ và đồn điền đất mềm của ông O Hara. Brent phóng ngựa theo và kế đó là Jeems, nhưng gă da đen phải ôm gh́ lấy bờm ngựa. Jeems không thích nhảy rào, nhưng nó buộc ḷng phải phóng qua những bức rào cao hơn để luôn luôn theo sát chủ.
Giữa lúc ba thầy tṛ băng qua những luống cày đỏ sậm đi xuống triền đồi để tới ḷng sông trong màn đêm buông xuống, Brent bỗng nói to với em:
− Ê, Stu! Mầy có thấy là đáng lư con Scarlett phải mời ḿnh ở lại không?
Stuart đáp ngay:
− Theo tao th́ phải vậy. Tại sao mầy nghĩ là...


Chương 2 

Khi hai anh em song sinh để một ḿnh Scarlett ở lại dưới ṿm cổng Tara, và khi tiếng vó ngựa ch́m khuất đằng xa, Scarlett đi trở về ghế như một kẻ thụy du. Da mặt nàng như bị căng ra v́ đau đớn, và miệng th́ đau nhức v́ cứ phải cố nhoẻn cười để cho hai anh chàng Tarleton không phát giác được sự bí ẩn của ḿnh. Nàng mệt mỏi ngồi xuống, co một chân lên lót dưới đùi, và tim nàng càng lúc càng phồng to trong nỗi thống khổ gần như sắp nổ tung. Nó cứ nhảy nhói lên từng lúc, hai bàn tay lạnh ngắt với cảm giác của một sự sụp đổ có thể xảy ra. Mặt nàng lộ rơ niềm đau xót và vẻ ngẩn ngơ, sự ngẩn ngơ của một đứa bé được nuông ch́u, lúc nào cũng được thoả măn tất cả những ǵ đ̣i hỏi để rồi bây giờ, lần đầu tiên trong đời, bị roi đời quất ngược.
Ashley sắp cưới Melanie Hamilton!
Ô, đó không thể là sự thật! Hai gă Tarleton đă lầm. Họ chỉ đùa nghịch theo bản tính của họ thôi. Ashley không thể, không có thể yêu được Melanie. Không một ai có thể yêu được cô gái loắt choắt và nhát nhúa đó. Scarlett khinh bỉ nhớ lại thân h́nh gầy xẹp như con nít đó, với cái khuôn mặt trái tim quá tầm thường không gợi lên được một chút hứng khởi nào. Và Ashley có thể không gặp cô ta từ nhiều tháng nay. Chàng đă không có mặt ở Atlanta quá hai lần kể từ khi tổ chức một cuộc hội họp vào năm ngoái ở Twelve Oaks. Không, Ashley không thể yêu được Melanie v́ chàng... - Ô, nàng không thể lầm lẫn được - Bởi v́ chàng đă yêu ḿnh! Phải, chính Scarlett là người được chàng yêu, nàng quá rơ điều đó!
Nghe tiếng bước chân nặng nề của Mammy làm rung chuyển sàn nhà trước, Scarlett vội vàng kéo chân ra và cố làm vẻ tỉnh táo. Không nên để cho Mammy nghi ngờ. Mammy tự cho là cả họ O Hara thuộc về bà, cả thể xác lẫn linh hồn, và những bí ẩn của họ cũng chính là những bí ẩn của đời bà, và chỉ cần nghi ngờ một chút thôi là cũng đủ làm cho bà cương quyết phát giác cho kỳ được với sự xông xáo của loài chó săn. Qua kinh nghiệm, Scarlett hiểu rơ là nếu sự ṭ ṃ chưa được giải toả, nhứt định là Mammy sẽ nói lại với Ellen và chừng đó, Scarlett sẽ bị bắt buộc phải cung khai tất cả với mẹ nàng, hoặc phải nghĩ ra một chuyện nói dối cho có vẻ thuận lư.
Mammy bước ra, một phụ nữ đồ sộ và lớn tuổi với đôi mắt nhỏ bé nhưng tinh quái như mắt voi. Da đen bóng, đúng giống người Phi châu, và sẵn sàng trung thành với ḍng họ O Hara tới giọt máu cuối cùng, bà là điểm tựa chánh của bà Ellen, là nỗi chán chường của ba cô con gái và là sự khủng khiếp đối với tất cả tôi tớ trong nhà. Mammy là người da đen nhưng thái độ xử sự và ư thức tự trọng của bà đôi khi c̣n cao hơn chủ. Bà được nuôi nấng từ nhỏ trong nhà bà Solange Robillard, mẹ của bà Ellen O Hara, một phụ nữ Pháp, mũi cao và nghiêm khắc, không ngần ngại trừng phạt con cái hoặc gia nhân mỗi khi có ai làm ǵ thương tổn đến gia phong. Bà là nhủ mẫu của Ellen và cùng đi với chủ từ Savannah tới cao nguyên sau ngày Ellen lấy chồng. Người nào được Mammy thương th́ người ấy luôn luôn bị la rầy. Và v́ quá yêu quí Scarlett, và đă đặt tất cả hănh diện vào, nên sự quở phạt của bà gần như liên tục.
− Mấy cậu về ồi sao? Sao không mời người ta ở lại dùng bữa ? Tôi đă bảo Po k dọn thêm hai bộ dĩa cho họ. Đó là lối xă giao nào vậy?
− Ối, tôi đă chán nghe họ nói chuyện chiến tranh đến nổi không thể nào chịu đựng thêm nữa suốt bữa ăn, nhứt là khi có ba phụ họa và không ngớt la ó về ông Lincoln.
− Cô cư xử không hơn một đứa quê mùa. Bao nhiêu công khó của tôi và bà Ellen cuối cùng chẳng ra ǵ. Và cô lại không choàng khăn nữa! Và đêm lại lạnh! Tôi đă nói bao nhiêu lần rồi là cô sẽ bị cảm sốt nếu ngồi ngoài trời đêm mà không chịu choàng khăn lên vai. Đi vào nhà đi, cô Scarlett.
Scarlett quay mặt sang phía khác với dáng điệu cố làm ra vẻ ung dung, mừng thầm là Mammy đă không phát hiện ra được ǵ bởi bận tâm về vụ khăn choàng.
− Không, tôi muốn ngồi đây để ngắm mặt trời lặn. Đẹp lắm. Mammy làm ơn vào lấy giùm khăn choàng đi, tôi sẽ ngồi đây đợi ba về.
Giọng Mammy nghi ngờ:
− Coi, sao tiếng nói của cô giống như bị cảm vậy?
Scarlett hơi lo:
− Không phải đâu. Bà vào lấy khăn dùm đi.
Mammy lệch bệch đi vào nhà và Scarlett nghe tiếng bà gọi đứa tớ gái trên lầu:
− Rosa đâu? Ném cái khăn choàng của cô Scarlett xuống đây.
Và giọng bà trở nên gắt gỏng hơn:
− Đồ mọi cái ăn hại! Lần nào gọi cũng không có. Bây giờ tao lại phải đích thân lên đó lấy.
Scarlett nghe thang lầu kêu răng rắc và nàng nhẹ nhàng đứng lên. Khi Mammy trở ra, bà ta lại nhai tới nhai lui về thái độ khiếm nhă của Scarlett đối với khách, và nàng sẽ không chịu đựng nổi những lời vô vị nhạt nhẽo đó trong khi tim nàng sắp vỡ toang ra. Giữa lúc nàng đứng đó, ngập ngừng chưa biết t́m chỗ nào ẩn lánh, để chờ cho sự đau đớn trong lồng ngực dịu bớt đi, th́ một ư nghĩ chợt loé lên, mang tới một tia hy vọng. Cha nàng đă đi qua bên Twelve Oaks, đồn điền của họ Quilkes hồi xế này để mua Dilcey, người vợ to lớn của người hầu Pork. Ở Tquelve Oaks, Dilcey vừa là trưởng toán nữ gia nhân vừa và cô đỡ, và kể từ đám cưới sáu tháng trước cho tới nay, Pork cứ theo quấy rầy chủ từ sáng tới tối về chuyện xin mua Dilcey về để cho hai vợ chồng được sống chung trong một đồn điền. Và xế nay, sau khi đă mềm ḷng, ông Gerald đă sang bên đó để thương lượng việc mua Dilcey.
Scarlett nghĩ, chắc chắn ba biết rơ chuyện đó có thật hay không. Dầu cho người chẳng nghe được rơ rệt điều ǵ, có thể người cũng nhận thấy một dấu hiệu nào đó qua sự xôn xao bên nhà họ Quilkes. Nếu ḿnh có thể gặp riêng ba trước lúc ăn tối, có thể ḿnh sẽ biết ra sự thật, đó chỉ là một trong những tṛ đùa ác hại của anh em song sinh.
Đă tới lúc Gerald sắp về, và nếu nàng có ư định gặp riêng ông th́ chẳng có cách nào khác hơn là đón ông ở ngay chỗ giáp giới của đường ṃn và quan lộ. Nàng rón rén bước xuống các bực thềm, vừa ngoái đầu nh́n lại để biết chắc là Mammy không từ trên các cửa sổ lầu nh́n theo. Không bắt gặp khuôn mặt đen to lớn nào với mái tóc trắng như tuyết núp sau màn cửa, nàng bạo dạn kéo tà áo xanh thêu hoa lên, và chạy về phía đường ṃn với tất cả sức nhanh của đôi giày nhỏ buộc dây.
Tàng cây bách hương từ hai bên con đường trải sạn giao đầu vào nhau làm thành một mái ṿm trên cao, biến con đường dài thành một đường hầm tối ám. Ngay khi vừa chạy tới phía dưới những tàng cây bách hương, nàng biết là đă thoát khỏi tầm quan sát của người nhà, nên đi chậm lại. V́ dây nịt áo đă được buộc quá chặt, Scarlett mệt thở chẳng ra hơi, nhưng vẫn cố cố gắng bước mau. Chẳng mấy lúc nàng đă ra tới đường cái, nhưng cứ tiếp tục đi cho tới một khúc quanh, nơi có một lùm cây to làm thành một bức b́nh phong giữa nàng và ngôi nhà.
Mặt đỏ ửng và thở hồng hộc, nàng ngồi lên một gốc cây bị đốn để đợi cha. Đúng ra th́ giờ nầy ông đă về nhưng nàng lại hài ḷng v́ ông đă về muộn. Khoảng thời gian chậm lại đó sẽ giúp cho nàng điều hoà hơi thở và lấy lại b́nh tĩnh trên nét mặt để cha khỏi nghi ngờ. Cứ mỗi lúc nàng tưởng như nghe thấy tiếng vó ngựa khua, và thấy cha phóng nhanh lên đồi với tốc độ nguy hiểm quen thuộc của ông. Nhưng thời gian cứ trôi qua mà Gerald vẫn chưa về tới. Nàng ngó mong xuống đường và trái tim lại bắt đầu căng phồng thêm măi.
Nàng nghĩ:
− Ô, đó không thể là sự thật! Tại sao ba chưa chịu về ?
Nàng đưa mắt dài theo con đường quanh co, đỏ như màu máu sau trận mưa buổi sáng. Nàng phác hoạ trong đầu một con đường chạy dài xuống triền núi, cho tới ḍng sông Phlint lặng lờ, băng qua những đầm lầy, rồi leo lên ngọn đồi kế đó dẫn tới vùng Twelve Oaks, nơi Ashley cư ngụ. Bây giờ con đường đó đă có ư nghĩa khác hơn, con đường đưa tới Ashley và ngôi nhà xinh xắn với hàng cột trắng toát sừng sững trên đồi như một đền Hy lạp.
− Ô, Ashley, Ashley!
Nàng nghĩ tới chàng và tim đập rộn.
Cái cảm giác lạnh buốt của nỗi ngỡ ngàng và sự sụp đổ đè nặng lên nàng do sự thóc mách của hai anh em Tarleton gây ra đă bị đẩy lui và thay vào đó là ngọn lửa nóng bỏng đă nung nấu ḷng nàng từ hai năm qua.
Kể cũng lạ là từ khi lớn lên, nàng nhận thấy ở Ashley chẳng có ǵ là hấp dẫn cả. Từ những ngày thơ ấu, nàng thấy chàng đến rồi đi và chẳng chú ư ǵ hơn. Nhưng cho tới một ngày cách đây hai năm, khi Ashley trở về sau ba năm du lịch Âu châu, đến Tara thăm viếng, nàng chợt thấy đă yêu chàng. Chỉ giản dị thế thôi.
Hôm ấy, nàng đang đứng trên thềm và Ashley cỡi ngựa đi trên con đường dài, y phục bằng nỉ mỏng toàn màu xám và chiếc cà vạt rộng khổ màu đen làm nổi bật chiếc sơ mi xếp nếp h́nh tổ ong. Cho tới bây giờ, nàng vẫn c̣n h́nh dung được từng chi tiết về y phục của chàng, đôi giày bóng sáng chói làm sao ấy và cái kẹp mang h́nh đầu nữ quái Medusa, chiếc nón Panama rộng vành mà chàng vội lấy xuống cầm tay ngay khi thấy mặt nàng. Chàng đă nhẹ nhàng rời lưng ngựa và ném dây cương cho một thằng bé da đen, để ngắm nàng với đôi mắt mở to, với nụ cười nở rộng, và ánh mắt tươi sáng đă biến mái tóc vàng óng ả của chàng thành một mũ bạc rực rỡ. Và chàng đă nói : "Em lớn lắm rồi, Scarlett ạ". Và nhẹ nhàng bước lên các bậc thềm, chàng đă hôn tay nàng. Và giọng nói của chàng! Nàng không bao giờ quên được nhịp nhảy rộn ràng của tim ḿnh, khi nghe giọng nói ấy lần đầu tiên, nó êm lướt, trầm ấm và d́u dặt làm sao!
Nàng đă thấy cần chàng, ngay phút đầu tiên, cần một cách đơn giản và không thiết t́m hiểu, như nàng đă thấy cần có thức ăn, có ngựa cỡi và một chiếc giường êm dịu.
Luôn hai năm, chàng đă đưa nàng dạo chơi khắp hạt, dự các buổi khiêu vũ, câu cá, các bữa ăn ngoài trời... không quá thường xuyên như hai anh em Tarleton hoặc Cade Calvert, không gây bực ḿnh như mấy gă con trai nhỏ tuổi nhà Phontaine, không hề bỏ sót một lần viếng Tara mỗi tuần.
Thật ra, chàng chưa bao giờ nói yêu nàng và đôi mắt màu lam đó cũng chưa bao giờ chiếu ra những tia nóng rực mà Scarlett từng bắt gặp ở những đàn ông khác. Vậy mà... vậy mà... nàng biết chàng đă yêu nàng. Nàng không thể lầm lẫn được. Linh cảm mạnh hơn lư trí và sự hiểu biết nhờ vào kinh nghiệm cho nàng hay là chàng đă yêu nàng. Lắm lần nàng đă bắt gặp ánh mắt chàng không thờ thẫn và xa vắng nữa, khi chàng nh́n nàng nửa khao khát nửa buồn rầu, khiến nàng không hiểu ra sao cả. Nàng đă biết chàng yêu ḿnh. Tại sao chàng không chịu nói ra? Đó là điều nàng không hiểu nổi. Nhưng cũng c̣n quá nhiều chuyện liên quan tới chàng mà nàng không hiểu nổi.
Chàng luôn luôn lễ độ, nhưng xa cách. Không ai đoán được chàng đang nghĩ ǵ, Scarlett lại c̣n kém hơn ai cả. Ở một nơi mà mọi người đều có thói quen nói trắng ra mọi ư nghĩ của ḿnh, th́ thái độ dè dặt của Ashley khiến cho nhiều người phải bực ḿnh. Chàng cũng xuất sắc như tất cả những thanh niên khác về những tṛ tiêu khiển trong hạt như săn bắn, đánh bạc, khiêu vũ và chánh trị, mà cũng là tay kỵ mă có biệt tài hơn cả, nhưng càng khác biệt hẳn mọi người trong việc cho rằng các hoạt động thú vị đó không phải là mục đích của đời ḿnh. Và chàng đă riêng rẽ t́m nguồn vui trong sách vở, âm nhạc và say mê thi văn.
Ô, tại sao tóc chàng lại vàng óng đến thế, tại sao lại lễ độ cách biệt như thế, tại sao lại quá cuồng nhiệt bận tâm kể những mẫu chuyện về Âu châu, âm nhạc, thi văn và những chuyện mà nàng không thấy thú vị chút nào - nhưng lại là người rất đáng yêu? Đêm đêm ,mỗi khi lên giường, sau khi đă ngồi nói chuyện với chàng trong ánh sáng mờ mờ ở thềm nhà, nàng trằn trọc luôn nhiều giờ và chỉ tự an ủi với ư nghĩ là chàng sẽ mở lời trong lần gặp tới. Nhưng lần gặp tới diễn qua đi, nhưng kết quả chẳng có ǵ - chẳng có ǵ ngoại trừ cơn sốt trong nàng cứ dâng cao và nóng bỏng hơn thêm.
Nàng yêu chàng, cần thiết có chàng, nhưng không sao hiểu được chàng. Nàng thẳng thắn và giản dị như những ngọn gió thổi qua Tara, như con sông đục vàng uốn quanh đồn điền, và có lẽ cho tới ngày cuối của cuộc đời nàng vẫn không sao hiểu nổi một chuyện ǵ phức tạp. Và bây giờ, lần đầu tiên trong đời, nàng phải đương đầu với một t́nh trạng phức tạp.
Ashley được sinh ra từ ḍng dơi của những người quen dùng sự nhàn hạ của họ để suy nghĩ chớ không phải để hành động, để theo đuổi những giấc mộng màu sắc rực rỡ không một chút thực tế. Chàng sống giữa một nội giới đẹp đẽ hơn xứ Georgia và chỉ bước vào thực tế một cách miễn cưỡng. Chàng nh́n xem mọi người, không ưa cũng không ghét họ. Chàng nh́n xem cuộc đời, không phấn khởi cũng không sầu năo. Chàng chấp nhận cái vũ trụ trong đó có một chỗ cho ḿnh, và mặc nó ra sao, chàng nhún vai quay trở về với sách vở, âm nhạc và cái thế giới mỹ miều hơn của riêng ḿnh.
Scarlett không hiểu được v́ sao chàng có thể chiếm được hồn nàng, trong khi đầu óc chàng vẫn cứ là của một kẻ xa lạ đối với nàng. Chính cái sự bí ẩn của chàng đă khơi dậy tính ṭ ṃ của nàng, giống như một cánh cửa không then cài, không ổ khóa. Những ǵ ở chàng mà nàng không hiểu nổi lại càng làm cho nàng yêu chàng hơn lên, và thái độ tán tỉnh kỳ lạ, hạn chế của chàng, càng khiến nàng thêm cương quyết chiếm chàng cho kỳ được. Nàng không bao giờ nghi ngờ việc một ngày nào chàng sẽ ngỏ lời v́ nàng hăy c̣n quá trẻ và quá được nuông ch́u để có thể chấp nhận được một sự thất bại nào. Và bây giờ, tin tức kinh khủng đó đă đến với nàng như một tiếng sét bên tai. Ashley sắp cưới Melanie! Không thể có thật được!
Tại sao, chỉ mới tuần qua thôi, trong khi hai người từ Phairhill cỡi ngựa về vào một buổi hoàng hôn, chàng đă nói: "Scarlett, anh có một chuyện quan trọng muốn nói với em, nhưng anh không biết phải ngỏ ư như thế nào".
Nàng đă ngượng ngùng nh́n xuống, tim đập rộn ràng, cho rằng giây phút thần tiên đă tới. Nhưng rồi chàng lại nói: "Bây giờ th́ không c̣n đủ thời giờ để nói. Ô, Scarlett, anh đúng là một kẻ khiếp nhược!" Và anh thúc vào hông ngựa, chàng phóng lên triền đồi Tara.
Ngồi trên gốc cây, Scarlett nhớ lại những lời lẽ đó đă từng làm cho nàng ngây ngất, và bỗng nhiên nàng lại thấy nó có một ư nghĩa khác, một ư nghĩa gớm ghiếc. Phải chăng chàng đă có ư muốn báo tin lễ hỏi nầy?
Ô, ước ǵ ba về tới lúc nầy! Nàng không thể chịu đựng thêm được nữa. Nàng lại sốt ruột đưa mắt nh́n suốt con đường và một lần nữa, nàng thất vọng.
Mặt trời đă ch́m khuất và chân trời đỏ chói bây giờ đă xuống màu hồng lợt. Ṿm trời màu thiên thanh từ từ biến thành xanh lam như màu vỏ trứng họa mi, và sự yên tĩnh lạ thường của cảnh chiều tà nơi đồng nội len nhẹ vào nàng. Bóng tối nhoà nhoà lan rộng. Những đường cày hồng thắm và con đường trải dài vắt ngang đồng ruộng như một vết thương đỏ ối đă mất hẳn cái màu máu huyền bí của nó, chỉ c̣n lại màu nâu trơ của đất. Bên kia đường trên đồng cỏ, ngựa, la và ḅ cái đứng im ĺm, tḥ đầu qua rào, chờ đợi về chuồng. Chúng không chịu được những cái bóng đen ng̣m của các lùm cây rậm rạp mọc quanh đồng cỏ, và phe phẩy vành tai về phía Scarlett, dường như khoan khoái được có người bên cạnh.
Trong bóng tối chập chờn, những cây thông cao lớn bên bờ rạch lầy lội lúc năy tươi xanh dưới nắng chiều, bây giờ đă đen sậm trên nền trời xám màu ch́ trông như một hàng người khổng lồ có phận sự che khuất ḍng sông vàng đục dưới chân. Trên ngọn đồi bên kia sông, mấy ống khói cao vút và trắng toát của nhà họ Quilkes từ từ mờ khuất vào bóng đen của những cây sồi rậm rạp chung quanh, và xa xa chỉ có các đốm sáng của những ngọn đèn ăn tối mới chứng tỏ nơi đó có một ngôi nhà. Hương hoa cỏ mùa xuân ấm áp và ẩm ướt, trộn lẫn với mùi đất mới cày và tất cả những cây lá vươn lên, khiến hồn nàng nhẹ lâng lâng.
Cảnh mặt trời lặn, tiết xuân nồng và cây cỏ xanh tươi mới mẻ không phải là chuyện lạ đối với Scarlett. Với nàng, vẻ đẹp thiên nhiên cũng như không khí để thở và nước để uống, bởi v́ chưa bao giờ nàng ư thức được một sự xinh đẹp nào khác hơn là nét đẹp trên khuôn mặt đàn bà, nét đẹp qua vóc dáng của loài tuấn mă, của các loại áo lụa và của tất cả những ǵ có thể sờ mó được. Thế nhưng, bóng tối mong lung yên tĩnh, bao trùm mảnh đất khéo chăm sóc của Tara đă đem lại cho đầu óc rối loạn của nàng một chút lắng dịu. Nàng đă quá yêu mảnh đất nầy mà không ngờ tới, yêu nó như yêu khuôn mặt của mẹ trong giờ cầu kinh dưới ánh đèn.
Trên con lộ quanh co, vẫn chưa thấy bóng Gerald. Nếu Scarlett phải đợi lâu hơn nữa, chắc chắn Mammy sẽ ra t́m và bắt buộc nàng phải vào nhà với những lời quở trách. Nhưng giữa lúc nàng đang ṃn mỏi ngóng nh́n con đường tối sẫm, nàng chợt nghe có tiếng vó ngựa phía dưới đồng cỏ và thấy ḅ ngựa hoảng hốt chạy tán loạn. Gerald O Hara đang băng đồng với tất cả tốc độ.
Ông đang phóng bay lên đồi trên lưng con ngựa mập mạp với 4 chân dài thon mảnh. Từ xa, trông ông như một đứa bé ngồi lỏng lẻo trên lưng con vật dềnh dàng. Mái tóc dài bạc trắng bay xoả ở phía sau, ông vừa thúc ngựa vừa ḥ hét, vung roi.
Mặc dầu tràn ngập bởi nhiều nỗi lo buồn, Scarlett vẫn không khỏi ngắm nh́n cha với một sự hănh diện tŕu mến, bởi v́ Gerald quả là một tay kỵ mă đại tài.
Nàng tự hỏi: "Chẳng biết tại sao người cứ luôn luôn thích nhảy rào mỗi khi đă có chút rượu vào. Và nhứt là sau khi đă ngă té năm rồi làm găy xương đầu gối. Ḿnh tưởng là chỉ một bài học đó cũng đủ lắm rồi, và đặc biệt là đă thề với má rằng không bao giờ, không bao giờ nhảy nữa".
Scarlett không sợ cha mà c̣n cảm thấy gần gũi với ông hơn là hai cô em gái, bởi v́ Gerald thường kiêu hănh một cách trẻ con với đôi chút sảng khoái, sau khi phạm tội trong những lần nhảy rào giấu vợ. Tính khí đó thích hợp với sự thích thú ngầm của nàng mỗi khi qua mặt được Mammy. Scarlett đứng lên để ngắm nh́n cha.
Con ngựa cao lớn đă tới sát rào, nó thu ḿnh lại và bay bổng qua rào dễ dàng như một con chim, trong khi người cỡi reo ḥ nhiệt náo, ngọn roi vụt đen đét trên không, và những lọn tóc bạc phơ bay phất phới. Gerald không nh́n thấy con đang đứng khuất ḿnh trong bóng cây. Ông dừng cương lại trên đường, vỗ nhẹ vào cổ ngựa với sự tán thưởng.
− Không một con ngựa nào trong toàn hạt nầy có thể sánh được với mầy. Cả nước chắc cũng không.
Ông kiêu hănh nói với con vật bằng giọng Ái nhĩ lan mà ông vẫn chưa bỏ được, mặc dầu đă sống trên đất Mỹ ba mươi chín năm rồi. Rồi ông hối hả vuốt lại mái tóc rối bời, sửa áo cho thẳng thớm và kéo lại chiếc cà vạt đang vắt ở mang tai. Scarlett biết rơ là cha nàng đang sửa soạn để đến khi gặp mẹ nàng, ông có được cái dáng điệu của một con người phong nhă vừa đi viếng bạn trở về một cách thong dong. Nàng cũng biết là t́nh cảnh đó rất thuận lợi để nàng bắt chuyện với cha, mà khỏi phải cần nêu lư do xác thực.
Nàng cười lớn lên, và quả đúng như điều mong mỏi, tiếng cười làm cho Gerald giựt nẩy ḿnh, nhưng ngay khi nhận ra Scarlett, khuôn mặt hồng hào của ông lộ rơ vẻ nửa ngượng ngùng nửa nghi ngại. Ông xuống ngựa một cách khó khăn v́ gối cứng đơ, rồi quấn dây cương vào tay, ông khập khiễng đi về phía cô con gái.
Vừa nhéo vào má con, ông vừa hỏi:
− Nầy, tiểu thơ, có phải cô ŕnh rập tôi để rồi cũng như con Suellen em cô tuần trước, mét lại với má cô không?
Giọng nói trầm khàn của ông pha lẫn một chút bất b́nh và tâng bốc. Scarlett vừa tróc lưỡi chọc cha vừa sửa lại chiếc cà vạt của ông cho ngay ngắn. Hơi thở của ông phà vào mặt nàng nực nồng mùi rượu Bourbon với một chút hương vị bạc hà. Người ông c̣n toát ra mùi thuốc lá, mùi da đánh bóng và mùi ngựa - một sự pha trộn của những thứ mùi mà nàng đă quen thuộc nơi cha, và tự nhiên nàng thấy thích như thế ở những người đàn ông khác.
− Không, ba, con không bép xép như Suellen đâu.
Scarlett trấn an cha và bước lùi ra để kiểm soát lại bộ diện của ông.
Gerald người nhỏ thó, cao khoảng trên một thước rưỡi, nhưng to bề ngang và lớn cổ, cho nên với cái bề ngoài đó, mỗi khi ông ngồi, người lạ có thể tưởng lầm ông là người to lớn. Thân h́nh vạm vỡ của ông được giữ bởi đôi chân ngắn nhưng chắc nịch, lúc nào cũng không rời đôi giày ống bằng loại da hảo hạng, và lúc nào cũng dạng ra trông như một đứa bé vênh váo. Phần đông những người thấp bé muốn lấy điệu bộ nghiêm trang đều có đôi chút lố bịch, nhưng nếu loại gà bantam - bé nhỏ nhưng hùng dũng - được đồng loại kính nể bao nhiêu th́ Gerald cũng thế. Không một ai dám táo bạo coi Gerald O Hara như là một kẻ thấp bé buồn cười.
Ông đă sáu mươi tuổi và mái tóc quăn đă bạc phơ, nhưng khuôn mặt thông minh chưa có một vết nhăn nào, và đôi mắt xanh biếc đầy quả cảm của ông vẫn c̣n giữ được ánh trong sáng của một kẻ không bao giờ mệt trí với các vấn đề trừu tượng, hơn là phải nghĩ cách để thắng một ván bài. Khuôn mặt Ái nhĩ lan của ông cũng giống như h́nh dáng của mảnh đất quê hương mà ông đă phải rời bỏ từ lâu - một khuôn mặt tṛn trịa, da đỏ hồng, mũi ngắn, miệng rộng và hiếu động.
Dưới cái bề ngoài hung bạo đó, Gerald O Hara ẩn chứa cả một ḷng nhân đức. Ông không thể nh́n được cảnh một tên nô lệ bị mạt sát, dầu là đáng tội, cũng không thể chịu được tiếng mèo ngao hay tiếng khóc của trẻ con; nhưng ông lại sợ bị người khác nhận ra. Ông không làm sao biết được rằng ḷng nhân ái của ông chỉ trong ṿng năm phút là bị phát giác ngay bởi những kẻ tiếp xúc ông, và ông sẽ vô cùng khổ sở nếu nhận ra điều đó, bởi v́ ông thích nghĩ rằng mỗi khi ông quát tháo vang rần là tất cả đều run sợ và tuân lịnh. Không bao giờ ông hiểu được rằng chỉ có một tiếng nói duy nhứt ở đồn điền là có đủ quyền uy khiến mọi người tùng phục - tiếng nói dịu dàng của vợ ông, bà Ellen. Đó là một bí ẩn mà ông không bao giờ khám phá nổi, bởi v́ tất cả, từ bà Ellen cho đến gă nông nô đần độn nhứt, đều ngấm ngầm và khả ái toa rập với nhau để cho ông cứ măi tin tưởng rằng chính tiếng nói của ông mới thật sự là pháp luật.
Ít hơn ai hết, Scarlett chẳng sợ sệt bao nhiêu trước tánh nóng và những lời quát tháo của cha. Nàng là con trưởng, và bây giờ Gerald đă nhận rơ ra rằng ông sẽ không bao giờ có một đứa c