|
Chương 1
1915−1917
MeggieNgày 8
tháng 12 năm 1915, Meggie Cleary bước vào năm thứ tư của tuổi đời.
Dọn dẹp xong buổi ăn sáng, không nói một lời và hơi đột ngột, mẹ của
Meggie đặt lên hai tay cô một cái hộp gói trong giấy màu hạt dẻ rồi
bảo cô bé ra ngoài sân. Nghe lời mẹ, Meggie ra ngồi ngay trước cửa
nhà, sau bụi cây đậu chổi, rồi vội vàng mở chiếc hộp. Mấy ngón tay
cô bé vụng về, hơn nữa, giấy gói rất dày. Nhưng ngay lúc đó, một mùi
thơm thoang thoảng làm Meggie nghĩ đến cửa hàng bách hóa Wahine. Cô
bé đoán ngay rằng, dù bên trong chứa đựng thứ gì đi nữa, chắc chắn
món quà ấy cũng được mua từ cửa hàng bách hóa chứ không phải do ở
nhà làm hay do ai đó đã chọ Mở hết lớp giấy bên ngoài, Meggie nhận
ra một cái gì đó thật mịn và óng ánh ở góc hộp - Cô bé xé toạc ra.
- Agnès! Ồ Agnès! - cô bé thì thầm một cách âu yếm, mắt sáng lên khi
nhìn thấy một con búp bê nằm êm ái trong mớ giấy vụn.
Đúng là một phép mầu. Một phép mầu thật. Từ trước đến nay Meggie mới
đến cửa hàng Wahine chỉ một lần thôi, hồi tháng 5 vừa rồi, cô bé
được cha mẹ thưởng vì đã tỏ ra rất ngoan.
Lần đó trên chiếc xe bò có mui, cô bé phải hết sức cố gắng mới ngồi
yên được bên cạnh mẹ. Vui quá, Meggie không kịp nhìn thấy gì và cũng
không nhớ gì cả, ngoài Agnès, con búp bê tuyệt đẹp mắc chiếc váy xòe
rộng bằng xa tanh hồng kết ren chung quanh, được đặt trên quầy của
cửa hàng bách hóa. Ngay lúc ấy, Meggie kín đáo đặt tên Agnès cho con
búp bê xinh đẹp, cái tên khá lịch sự mà cô bé biết. Vậy mà nhiều
tháng sau, lòng thèm muốn ấy của Meggie cũng chỉ là mơ ước. Meggie
chưa bao giờ có búp bê và không hề tưởng tượng rằng một bé gái như
mình ngày nào đó sẽ có một con búp bệ Lâu nay cô bé thường vui thích
với những thứ đồ chơi mà các anh trai của cô vứt bỏ, chẳng hạn như
những cái còi, cái ná bắn thun và những hình lính xù xì. Làm sao cô
dám mơ ước được chơi với Angès.
Tay vuốt nhẹ lên chiếc áo của búp bê, chiếc áo đẹp nhất trong số
những áo mà cô béthấy phụ nữ thường mặc, Meggie bế nhẹ Angès lên.
Tay và chân của búp bê đều cử động được, cổ và thân mình cũng thế.
Màu tóc vàng óng ánh có điểm những hạt trai, khuôn mặt làm bằng sứ
được vẽ rất khéo và đẹp. Mắt búp bê màu xanh, sinh động đến kinh
ngạc. Đôi mắt ấy sáng lên qua hai hàng mi cong vút. Khi đặt Angès
nằm xuống, Meggie khám phá ra rằng búp bê còn biết nhắm mắt lại.
Phía trên gò má cao màu hồng có một nốt ruồi. Hai môi hơi hé ra cho
thấy những chiếc răng màu trắng thật nhỏ. Meggie đặt búp bê trên đầu
gối, tìm một chỗ ngồi êm ái rồi nhìn ngắm một cách say mê.
Trong khi Meggie vẫn ngồi như thế thì sau bụi cây đậu chổi, Jack và
Hughie đang chơi đùa bên cạnh đám cỏ mọc cao sát hàng rào. Cả hai
nhìn thấy mái tóc màu hung đặc biệt của Meggie, màu tóc đúng là của
dòng họ Cleary, ngoại trừ Frank là có tóc màu khác.
Jack vừa thúc cùi chỏ vào anh mình vừa liến thoắng chỉ Meggie. Cả hai
đang chơi trò quân lính truy lùng một thổ dân Maori phản bội. Meggie
không để ý đến hai anh và vẫn đắm nhìn Agnès thân yêu, miệng huýt
gió nho nhỏ những âm thanh quen thuộc.
- Meggie, mày đang cầm gì đó? Jack vừa la to vừa nhào tới - Đưa tao
xem.
- Ừ, đưa xem.
Hughie nói thêm vào, vừa cười khúc khích vừa tìm cách chặn Meggie
không cho chạy thoát.
Cô bé ôm chặc búp bê vào ngực và lắc đầu.
- Không, búp bê của em. Món quà sinh nhật của em.
- Cứ đưa bọn tao xem. Bọn tao chỉ muốn xem qua thôi.
Trong niềm vui và hãnh diện vừa được mẹ tặng quà, cô bé đưa búp bê
ra khoe:
- Các anh xem này, nó đẹp quá. Nó tên Agnès đó.
- Agnès? Agnès? Giọng Jack chế diễu. Tên gì mà tồi thế. Tại sao
không gọi nó là Margaret hay Betty?
- Không thể gọi khác hơn vì nó là Agnès!
Hughie nhìn cánh tay con búp bê cử động, cậu ta huýt gió và nói:
- Jack nhìn xem, tay nó cử động được đấy.
- Cử động làm sao? Đưa tao xem.
- Không! Cô bé la lên và lại ôm búp bê sát vào ngực, nước mắt sắp
trào ra. - Không, các anh làm hư búp bê của em... A, Jack, đừng đụng
vào nó, anh sẽ làm gã búp bê của em mất.
Hai bàn tay rám nắng, dơ bẩn của Jack chụp lên cổ tay Meggie, siết
thật mạnh.
- Đừng mè nheo nữa, tao mách với anh Bob bây giờ.
Jack siết mạnh hai cổ tay của Meggie, trong khi Hughie túm lấy chiếc
váy của búp bê kéo ra.
- Đưa đây - giọng Jack nhỏ nhẹ lại. Nếu không, tao sẽ siết mạnh đau
lắm đó.
- Không, không, Jack! Em năn nỉ anh. Anh làm hỏng búp bê bây giờ. Em
van anh để cho nó yên. Đừng lấy của em...
Dù hai tay bị siết càng lúc càng mạnh, cô bé vẫn không chịu buông
con búp bê ra. Meggie khóc to lên, chân đá vào Jack.
- Đã lấy được rồi! Hughie reo lên đắc thắng khi búp bê vừa vuột khỏi
tay Meggie. Chiếc áo ngoài và bên trong cả chiếc quần lót cũng đều
tơi tả. Con búp bê hoàn toàn trần trụi. Chúng nắm hai chân búp bê
kéo ngược ra phía sau, còn cái đầu chúng quay đủ hướng và không thèm
chú ý đến Meggie khóc một mình. Trong gia đình họ Cleary vẫn thế, ai
mà không có khả năng đối phó thì chịu chứ không có ai hổ trợ hay
thương hại. Nguyên tắc ấy cũng áp dụng cho cả các cô gái. Từng chùm
tóc vàng của con búp bê bị vứt ra rải đầy dưới đất, còn các hạt trai
nhấp nhánh văng mất trong cỏ, một chiếc giày dơ bẩn vô tình dẫm lên
chiếc váy nằm trên đất. Meggie quỳ gối xuống, hai tay run rẩy lượm
lại những mảnh áo quần bé nhỏ của búp bê, rồi mò mẫn trong đám cỏ
mong tìm lại những hạt trai. Nước mắt làm cho cô bé không còn nhìn
thấy gì nữa, trái tim đau nhói một cách lạ lùng, vì rằng từ trước
đến nay, chưa bao giờ cô bé lại cảm nhận một điều gì đó có thể gọi
là đau đớn.
Chương 2
Frank
nhúng thanh sắt đỏ vào nước lạnh gây nên một tiếng xèo, rồi đứng
thẳng người lên. Anh không còn đau lưng nữa. Có lẽ vì đã quen
công việc ở lò rèn. Chỉ cần sáu tháng thôi - cha anh nói như
thế. Nhưng Frank hiểu là biết bao nhiêu năm tháng trôi qua từ
khi anh làm quen với nơi đây; anh đã đếm thời gian trong oán
giận và hận thù. Quẳng chiếc búa vào thùng, bàn tay run run,
Frank vuốt ngược mái tóc phủ kín vầng trán rồi cởi tấm tạp đề cũ
mèm bằng da. Chiếc áo sơ mi nằm chờ Frank trên đống rơm, anh bước
đi nặng nề, dừng lại một lúc và ánh mắt mất hút qua một khe hở
của nhà khọ Mắt anh đen, mở trừng trừng nhìn về hướng ấy.
Dáng người hơi thấp nhỏ, khoảng một thước sáu mươi, Frank gầy
như những đứa con trai đang lớn, nhưng vai và tay trần của anh
đều gân guốc vì cầm búa lâu ngày. Nước da hơi xanh, mịn, bóng
loáng mồ hôi. Tóc và cặp mắt đen lánh có cái gì đó xa lạ vì rằng
đôi môi dày và cái mũi thô thẳng không phảng phất chút nào những
nét chung nhất của gia đình này. Ở mẹvà Frank hình như có dòng
máu Maorị Frank gần 16 tuổi, Bob 11, Jack 10, Hughie 9, Stuart 5
và cô bé Meggie... Frank nhớ ra hôm nay ngày 8 tháng 12 Meggie
vừa tròn 4 tuổi. Anh mặc áo vào và rời nhà kho.
Căn nhà của gia đình Cleary nằm trên một ngọn đồi cao hơn nhà
kho và chuồng ngựa chừng ba mươi mét. Hầu hết nhà cửa ở Tây Tây
Lan được xây bằng gỗ, không có lầu, dài và rộng để khi có động
đất thì không bị sập tất cả. Chung quanh nhà mọc đầy những cây
đậu chổi, mùa này trĩu nặng những bông vàng; cỏ mọc bao la, xanh
rì như phần nhiều các đồng cỏ nuôi súc vật. Ngay giữa mùa đông,
có những mảng tuyết suốt cả ngày không tan vì rợp bóng mát, cỏ
vẫn không vàng úa. Rồi mùa hè dài và dịu dàng mang trả lại cho
thiên nhiên một màu xanh đậm. Mưa cũng không quá nặng hạt để có
thể làm gã cả những loài cây mảnh khảnh nhất. Tai họa ở Tây Tây
Lan gầm lên từ trong lòng đất chứ không bao giờ sa xuống từ trên
trời. Bao giờ cũng thế, con người sống ở nơi đây như luôn ở
trong một đợi chờ thấp thỏm trước sự chuyển động, tưởng chừng
nghe thấy dưới chân mình những tiếng âm thanh không ngớt vang
dội từ lòng đất. Vì rằng bên trong lòng đất ẩn chứa một sức mạnh
kinh hoàng, một sức mạnh có biên độ dữ dội đến đỗi cách đấy ba
mươi năm, một quả núi nguyên vẹn đã bị xóa mất hoàn toàn.
Dù thế, đất ở đây thật hiền hòa, hiếu khách. Từ nhà nhìn ra xa
là một cánh đồng xanh như màu ngọc bích trên chiếc nhẫn đính hôn
của Fiona Cleary. Đường viền của các ngọn đồi vẽ lên nền trời màu
xanh nhạt; ngọn núi Egmont cao ba ngàn mét như muốn đâm thủng
các tầng mây. Sườn núi hai bên khoác màu trắng của tuyết hết sức
cân đối khiến cho Frank vội vã vì anh nhớ lời cha dặn không được
rời bỏ lò rèn. Lệnh của cha anh lúc nào cũng nghiêm khắc. Đi
vòng vào nhà, Frank bắt gặp mấy đứa em.
Chính Frank đã đưa mẹ đi Wahine để mua búp bê cho Meggie, tuy
nhiên anh đã phải tự hỏi điều gì đã phải thúc đẩy mẹ anh chịu
tiêu xài như thế. Với mẹ, một món quà sinh nhật phải là một thứ
gì có ích lợi cho cuộc sống hiện tại; gia đình không dư dả tiền
để phung phí. Không bao giờ mẹ anh mua đồ chơi cho bất cứ ai để
làm quà sinh nhật. Các con của bà nhân ngày này đều nhận được
quần áo. Ngày sinh nhật hoặc Noel là dịp để sắm thêm món gì đó
cho tủ áo quần còn rất trống trải. Có lẽ mẹ đã bắt gặp cái nhìn
thèm muốn của Meggie trong lần ra tỉnh. Khi Frank hỏi mẹ về
quyết định bất thường này, bà chỉ nói đôi ba câu về niềm mong
ước của mấy cô bé có được con búp bê, rồi bà chuyển sang đề tài
khác.
Giữa lối đi, Jack và Hughie đang giằng co, cả hai đứa đang nắm
tay chân con búp bê một cách thô bạo. Frank chỉ nhìn thấy Meggie
từ phía sau lưng, cô bé đang đứng như trời trồng nhìn hai anh
mình dằn vặt Agnès.
- Đồ qui? sứ, bẩn thỉu. Frank quát.
Jack và Hughie nhanh chân, biến ngay và bỏ lại con búp bệ Khi
Frank nổi nóng thì khôn hồn bỏ đi nơi khác.
- Tao mà bắt gặp tụi bây rớ vào con búp bê lần nữa, thì tụi bây
lảnh ngay một thanh sắt đỏ vào mông, đồ thối tha! Frank hét lên.
Frank khom người xuống, hai tay đặt lên vai Meggie lay nhẹ.
- Thôi! thôi! có gì đâu mà khóc! Đừng sợ. Tụi nó bỏ đi hết rồi
và không bao giờ dám sờ vào con búp bê của em đâu. Anh hứa với
em mà. Bây giờ em hãy tặng cho anh một nụ cười sinh nhật đi
nào...
Mặt cô bé như sưng, mí mắt phồng lên. Cô nhìn Frank trân trân
bằng đôi mắt nâu, mở to, chứa đầy bi kịch vừa xảy ra và cô bé
không nói nên lời. Frank lấy từ trong túi quần một chiếc khăn
bẩn, lau mặt em gái một cách vụng về, rồi đặt khăn lên mũi bảo:
- Hỉ mũi đi cưng.
Cô bé nghe lời, hết khóc nhưng tiếng nấc vẫn chưa dứt.
- Frank - Frank - Frank! Mấy ảnh... đã lấy... Agnès của em! Tóc
của Agnès bị rứt ra hết rồi và bị mất cả những hạt trai xinh
đẹp. Frank, mấy hạt trai đó rơi trong cỏ đây nè... nhưng em tìm
không ra.
Rồi cô bé lại khóc. Giọt nước mắt rơi xuống tay Frank. Anh đưa
tay lên nhìn và lấy lưỡi liếm.
- Bây giờ phải tìm lại mấy hạt trai. Nhưng em sẽ không tìm thấy
nếu cứ khóc mãi. Còn chuyện này nữa, sao em vẫn ngọng nghịu như
một em bé mới biết nói? Hỉ mũi nữa đi và nhặt Agnès tội nghiệp
của em lên. Nếu em không mặc ngay quần áo vào cho nó, nó sẽ bị
cảm nắng bây giờ.
Frank đặt Meggie ngồi xuống bên lối đi rồi dịu dàng trao cho cô
bé cho búp bệ Xong cậu ta vẹt cỏ đi tìm hạt trai, không mấy chốc
vừa reo lên một cách đắc thắng vừa giơ cao cho Meggie xem hạt
trai mới tìm được.
- Đây mới chỉ là hạt thứ nhất. Em chờ xem hai anh em mình sẽ tìm
lại đủ tất cả.
Meggie nhìn người anh cả của mình bằng đôi mắt ngưởng mộ trong
khi Frank tiếp tục vẹt cỏ, thỉnh thoảng đưa lên cao khoe một hạt
trai vừa tìm được. Bây giờ Meggie bỗng nhớ lại làn da của Agnès
rất mỏnh dễ bị ánh mặt trời thiêu đốt, thế là cô bé chăm chú lo
mặc quần áo lại cho búp bệ Thật ra búp bê cũng không mang một
vết thương nào đáng kể, tóc chỉ rối lên, tay chân dơ bẩn nhưng
vẫn cử động được bình thường. Trên mái tóc của Meggie ở mỗi bên
có chiếc lược cài, cô bé lấy xuống một cái để chải tóc cho búp
bê.
Vụng về, cô bé làm một chiếc nơ lớn trên đầu của Agnès bung ra.
Thảm kịch. Tất cả tóc tai Agnès đều sút hết và dính trên chiếc
lược cài. Phía trên cái trán rộng của búp bê chẳng có gì khác.
Không có đầu, không có xương sọ Chỉ có một lỗ trống tác hoác.
Meggie run rẩy gần như hoảng hốt, nhưng mắt vẫn nhìn vào phía
trong lỗ trống. Những đường nét lồi lõm của mắt, mũi, miệng nhìn
từ bên trong thật khiếp đảm, nhất là hai con mắt của Agnès chỉ
là hai lỗ sâu hoắm, có một sợi dây kẽm xuyên qua...
Tiếng hét chát chúa của Meggie không phải là tiếng hét của trẻ
thợ Meggie quăng Agnès xuống đất rồi tiếp tục la, hai tay ôm
mặt, run rẩy. Frank đến gỡ các ngón tay của Meggie rồi bế em gái
vào lòng, đặt đầu cô bé vào chỗ êm ả nhất giữa cổ và vai mình.
Cô bé càng thu mình sát vào Frank, tìm kiếm nơi người an niềm an
ủi, cho đến lúc cơn xúc động giảm xuống, cô bé mới ngửi thấy cái
mùi dể chịu từ thân người của Frank, đó là mùi ngựa, mùi mồ hôi
và sắt nung đỏ.
Khi Meggie yên lòng trở lại, Frank hỏi em gái của mình nguyên do
của sự hoảng hốt. Anh ta nhặt búp bê lên và đau xót nhìn thấy
cái đầu trống rỗng và cố nhớ xem trong cái thế giới tuổi thơ của
mình có bao giờ xảy ra nổi khiếp sợ lạ lùng như thế không. Anh
nhớ lại hình ảnh đáng ghét lởn vởn như những bóng ma, những
tiếng nói xì xào và những cái nhìn ghét bỏ. Còn gương mặt của mẹ
nhăn nhó, khắc khổ, bàn tay của mẹ run rẩy nắm chặt lấy tay
mình, người căng thẳng.
Còn Meggie đã thấy gì mà hoảng sợ như thế? Anh biết rằng Meggie
sẽ ít hoảng hốt hơn nếu Agnès đáng thương bị chảy máu khi tóc bị
rứt ra. Dù cho máu có thật. Vì rằng trong gia đình họ Cleary
không có tuần nào là tránh được chuyện người này hay người nọ bị
đổ máu.
Meggie nói thật nhỏ:
- Em sợ hai con mắt của nó - Trong khi nói, Meggie không dám
nhìn con búp bê.
- Không Meggie, đừng sợ, nó đẹp tuyệt, một kỳ quan.
Frank cúi mặt vào mái tóc của em gái - mái tóc đẹp, dày và sáng
rực. Phải mất nửa tiếng đồng hồ vỗ về, Frank mới thuyết phục
được Meggie chịu quay lưng lại nhìn Agnès và thêm một khoảng
thời gian như thế để dám nhìn thẳng vào cái lỗ trống trên đầu
búp bệ Frank chỉ cho em xem hai con mắt của búp bê động đậy như
thế nào, bằng cách nào mà hai mắt mở ra và khép lại.
- Thôi bây giờ đã đến lúc anh em mình phải vào nhà. Frank bế
Meggie bằng một cánh tay, con búp bê đặt giữa ngực Frank và ngực
Meggie. Mình sẽ nhờ mẹ chữa lại con búp bệ Mẹ sẽ giặt, ủi lại
quần áo cho nó và tìm cách dán lại bộ tóc. Còn anh sẽ đính lại
hạt trai bằng những cây kim găm, chắc chắn sẽ không bao giờ bị
rơi ra nữa, mặc tình cho em muốn chải kiểu tóc nào cho nó cũng
được.
Fiona Cleary đang ở trong bếp gọt khoai. Đó là một người đàn bà
có nước da hơi nhợt nhạt, người thấp, nhưng gương mặt khá nghiêm
và cứng rắn. Bà có một dáng đẹp, một thân hình mảnh khảnh dù đã
sáu lần sinh. Chiếc áo dài vải trúc bâu gần chấm đất, thật sạch;
một chiếc tạp dề lớn màu trắng, hồ cứng, phía trên được buộc
quanh cổ, phía dưới ôm thân người và cột lại bằng một cái nơ
thắt sau lưng thật gọn và đẹp. Từ sáng đến chiếu tối, bà ở trong
bếp và ở khu vườn phía sau nhà; đôi giày ống ngắn màu đen rất
bẩn của bà chỉ có một con đường quen thuộc lui tới bếp đến chỗ
giặt quần áo, từ vườn ra đến sào phơi quần áo rồi quay trở lại
bếp.
Bà đặt con dao lên bàn, nhìn Frank và Meggie; môi bà bỗng mím
lại:
- Meggie, mẹ chỉ cho phép con mặc chiếc áo đẹp nhất vào ngày chủ
nhật với một điều kiện: con không làm bẩn. Bây giờ con nhìn xem
ra cái thứ gì. Đúng là một đứa trẻ dơ dáy.
- Mẹ ơi, không phải lỗi của Meggie đâu - Frank bào chữa. Chính
Jack và Hughie đã giành lấy búp bê của Meggie để xem tay chân cử
động như thế nào. Con có hứa với Meggie là mẹ và con sẽ chữa lại
con búp bệ Làm được phải không mẹ?
- Con đưa mẹ xem - Fiona vừa nói vừa đưa tay ra. Bà là một người
lặng lẽ, ít nói, và có vẻ như sống không được tự nhiên. Những gì
trong đầu bà khó ai đoán biết, ngay cả chồng bà. Bà nhường quyền
giáo dục các con cho chồng và tuân thủ các mệnh lệnh của chồng
mà không có một phản ứng hay than phiền nào, ngoại trừ một vài
trường hợp hết sức đặc biệt. Meggie nghe các anh mình nói nhỏ
với nhau rằng mẹ cũng sợ ba như chúng và nếu thật thế thì mẹ đã
giấu giếm cái sợ ấy dưới một lớp ngoài bình thản. Trên nét mặt
ấy cũng tỏ ra một chút bướng bỉnh. Bà không bao giờ cười, cũng
như không bao giờ nổi giận.
Fiona đặt con búp bê lên cái kệ gần bếp và nhìn Meggie:
- Sáng mai mẹ sẽ giặt quần áo cho Agnès và sẽ chải tóc lại. Sau
buổi ăn chiều nay, anh con sẽ dán tóc và không chừng phải tắm
cho nó sạch sẽ.
Meggie tỏ ra bằng lòng, nụ cười trên môi. Đôi lúc Meggie rất
thèm được nghe tiếng cười của mẹ nhưng điều đó lại không bao giờ
có được. Meggie cảm giác rằng mình đang chia xẻ với mẹ một điều
gì đó rất đặc biệt mà cha cô và các anh không thể hiểu; thế mà
cô bé vẫn không thể nào khám phá những gì chứa đựng bên trong
con người mà Meggie hết lòng yêu thương.
Ngoài Frank, không một đứa con trong gia đình này hiểu được rằng
Fiona luôn ở trong tâm trạng mệt mỏi, sự mệt mỏi không dễ gì vơi
bớt. Có quá nhiều việc phải làm nhưng lại không có dư tiền và
không đủ thìgiờ giải quyết. Bà chỉ trông cậy vào đôi tay. Ngay
bây giờ cô bé cũng đã giúp mẹ một số công việc vặt mãnh nhưng
với bốn tuổi đầu, Meggie chưa đủ sức làm nhẹ bớt gánh nặng của
bà. Sáu đứa con trai, chỉ có một đứa con gái, lại là con út.
Những ai quen biết gia đình này đều thương hại bà nhưng điều ấy
đâu có làm thay đổi được gì. Cái giỏ đựng đồ cần vá lại đầy
những chiếc vớ chưa được mạng, có cả que đang dính vào một chiếc
vớ khác đang dở dang. Hughie đã cao nhòng không còn mặc được
những cái áo xănđai cũ; với Jack thì lại không đủ lớn để mặc áo
của anh.
Chương 3
Padraic Cleary -
tức Pađy - có mặt ở nhà trong tuần lễ sinh nhật của Meggie là
chuyện hoàn toàn tình cờ. Mùa cắt long cừu chưa đến, ông tạm làm
việc gần nhà, làm đất và trồng trọt. Pađy chuyên nghề cắt lông
cừu, làm thời vụ từ giữa mùa hè đến hết mùa đông, sau đó là thời
gian cừu đẻ. Thông thường Pađy tìm đủ việc làm để chịu đựng qua
mùa xuân và những tháng đầu mùa hè; ông phụ lo cho cừu đẻ, cày
đất, vắt sữa bò, hai lần mỗi ngày ở trang trại kế bên. Ông sẵn
sàng đi đến bất cứ đâu miễn có việc làm, để mặc gia đình sống
trong căn nhà tuy lớn nhưng có vẻ cổ xưa, một mình vợ phải tự lo
liệu các thứ. Ông không thể làm khác hơn vì không có đất đai
riêng.
Mỗi ngày Pađy về nhà lúc mặt trời khuất bóng, đèn đã đốt lên, in
rõ những cái bóng đen nhảy múa trên trần. Tập hợp ở mái hiên nhà
sau, mấy đứa con trai chơi đùa với một con ếch, ngoại trừ Frank.
Padraic dư biết con trai lớn của ông hiện giờ ở đâu. Ông nghe rõ
tiếng bửa củi đều đặn. Ông dừng lại ở hiên nhà, đá vào mông Jack
một cái và đưa tay xoa đầu Bob một cách thương yêu:
- Ra phụ Frank chẻ củi, đồ làm biếng. Ráng làm xong trước khi mẹ
đặt bàn, bằng không tao sẽ cho một trận nên thân.
Padraic ra hiệu bằng đầu hướng về Fiona đang bận rộn bên cái
chảo; ông không bao giờ ôm hôn vợ trước mặt con cái. Những biểu
hiện tình cảm ấy theo ông nên giới hạn trong phòng ngủ của hai
vợ chồng. Ông cởi đôi ủng dính đầy bùn; Meggie mang đến cho cha
một đôi dép. Ông nở nụ cười đón lấy. Trong lòng luôn tràn ngập
một tình cảm rất lạ như bị chinh phục mỗi khi nhìn thấy Meggie
con gái mình. Nó xinh quá, tóc đẹp làm sao; ông cầm một loạn tóc
lay nhẹ rồi thả xuống, thích thú nhìn con. Ông nhấc bổng Meggie
lên rồi hai cha con cùng ngả xuống chiếc ghế bành êm ái đặt ở
trong nhà bếp, đó là chiếc ghế bành thời Windsor, có lót gối
dựa. Meggie nằm gọn trong lòng cha, hai tay bá vào cổ, gương mặt
tươi tắn ngước lên hy vọng được đùa giỡn với trò chơi buổi tối -
nhìn ánh sáng xuyên qua những sợi râu ngắn màu vàng của cha.
- Em có thấy khỏe không Feẻ - Pađy hỏi thăm vợ.
- Bình thường thôi anh ạ. Còn anh đã làm xong cái hàng rào dưới
kia chưa?
- Xong rồi. Anh có thể bắt tay làm hàng rào phía trên vào sáng
mai. Nhưng lạy chúa, anh mệt quá.
- Em cũng thấy anh mệt... Roberson còn giao cho anh con ngựa cá
tính bất thường nữa phải không?
- Vẫn thế - Chẳng lẽ em nghĩ rằng hắn sẽ làm việc với con ngựa
tồi ấy và dành cho anh một con ngựa tốt hơn sao? Tay anh rã rời
cả. Hình như con ngựa cái này thuộc loại cứng đầu nhất ở Tân Tây
Lan.
- Không quan trọng. Mấy con ngựa của ông già Roberson đều thuần
cả. Sắp tới anh sẽ làm với lão phải không?
- Chưa làm ngay đâu.
ông nhồi thuốc loại rẻ tiền vào cái tẩu rồi lấy một que củi mồi
lửa từ trong lò đang cháy đỏ. Sau đó ông lại ngả người lên ghế
bành, rít mạnh một hơi.
- Con gái nói cho ba nghe con thấy thế nào khi được bốn tuổi -
Pađy hỏi con.
- Con thấy thích lắm ba ơi.
- Mẹ có cho con quà không?
- Tại sao ba và mẹ biết được Agnès mà chọn cho con?
- Agnès? (ông liếc nhìn qua Fiona, vừa mỉm cười vừa nhíu mày dò
vợ). Có phải tên của nó là Agnès?
đạ, Nó đẹp tuyệt ba ạ. Con muốn nhìn nó suốt ngày.
- Rất may là còn lại cái gì đó để nhìn - Fiona nói bằng giọng
hơi cằn nhằn. Jack và Hughie đã đoạt con búp bê trước khi Meggie
có thời giờ nhìn ngắm.
- Hừ! Lại chuyện khỉ của mấy thằng con trai, phải trị chúng. Con
búp bê con có hỏnh nhiều hông?
- Không đến nỗi. Frank đã bắt gặp hai đứa kịp lúc.
- Frank? Làm sao nó lại có mặt ở đó? Nó phải ở dưới lò rèn suốt
ngày kia mà. Humter chờ nó làm xong cái cánh cửa nhỏ.
- Đúng là nó ở lò rèn suốt ngày - Fiona trả lời ngay. Nó chỉ lên
nhà thoáng một cái để lấy cái gì đó cần cho công việc. Pađy quả
rất khắc nghiệt với Frank.
- Ba ơi! Anh Frank dễ thương lắm. Không có anh ấy, Agnès đã chết
rồi... Sau bữa cơm, anh Frank sẽ dán lại tóc trên đầu con búp bê
cho con.
- Vậy thì tốt. Pađy nói lầm nhầm bằng một giọng mỏi mệt.
Mấy đứa con của ông đều có tóc màu hung dày và lượn sóng, tuy
vậy không có đứa nào màu tóc lại rực sáng dữ dội như ông. Pađy
thấp người, chắc như thép, chân vòng kiềng do cả đời ngồi trên
lưng ngựa, hai cánh tay dài ra sau những năm làm công việc cắt
lông cừu; ngực và hai cánh tay che phủ bởi một lớp lông màu
vàng. Đôi mắt màu xanh và thường nheo lại như người thủy thủ
hướng tầm nhìn ra xa. Gương mặt ông không có gì là kiểu cách lại
dễ gây cảm tình. Mũi tuyệt đẹp, đúng là mũi rômanh, khiến cho
những người đồng hương ái Nhĩ Lan của ông phải ghen tức. Ông vẫn
còn giữ được giọng nói dịu dàng của vùng Galway, nhưng sau hai
mươi năm sống ở miền đất xa xôi này ông không còn nói năng nhanh
nhẩu như xưa, giống như một cái đồng hồ treo tường cũ kỹ cần
được lên dây lại. Một người hạnh phúc vì đã thành công trong
cuộc sống lao động gay go vẫn xứng đáng hơn nhiều người khác và
mặc dù cai quản cằn nhà này bằng một thứ kỷ luật sắt, ông vẫn
được con cái yêu thương, ngoại trừ một đứa. Nếu không đủ bánh mì
cho mọi người, ông nhịn ăn; nếu phải chọn lựa giữa quần áo mới
cho bản thân hay cho một đứa con nào đó, ông bằng lòng mặc quần
áo cũ. Theo cách của ông, đó là một bằng chứng biểu thị tình
thương dành cho con, cụ thể hơn hàng biết bao nhiều cái hôn dễ
dàng ban phát. Ông dễ nóng giận và đã từng giết người. Nhưng sự
may mắn đã nghiêng về phía ông hôm đó; nạn nhân là một người Anh
chủ nhân chiếc tàu đậu ở cảng Dun Lacghaize.
Fiona xuất hiện ở ngưỡng cửa sau và nói lớn:
- Vào bàn ăn.
Mấy cậu con trai lần lượt bước vào; người cuối cùng là Frank tay
ôm bó củi đến đặt vào chiếc thùng bên cạnh lò sưởi. Pađy để
Meggie đứng xuống rồi đến ngồi ở đầu bàn. Riêng Meggie ngồi trên
một cái thùng gỗ đặt bên cạnh cha. Fiona chia thức ăn vào dĩa một
cách nhanh và gọn như một người phục vụ chuyên nghiệp, rồi mang
mỗi lượt hai dĩa cho gia đình, trước hết cho Pađy rồi đến Frank,
người sau cùng là Meggie. Bà lo cho mình khi mọi người đã có
phần.
- Lại cái món ragu chán chết! Stuart cằn nhằn; hai tay cầm dao
và nĩa nhưng mặt mày nhăn nhó.
- Ăn đi! Pađy ra lệnh.
Fiona cũng ngồi vào bàn và nuốt nhanh phần ăn của mình. Rồi bà
đứng lên đặt đầy bánh vào những cái dĩa mới. Đó là những bánh
bích qui do bà làm, bên trên rưới đường, mứt và một loại kem.
Cũng chính bà mang một lượt hai dĩa lên bàn. Khi xong đâu đấy
rồi, Fiona mới ngồi thở và bắt đầu ăn phần tráng miệng không có
gì vội vã.
- Ngon quá! Meggie la to lên. Bánh ngon quá!
Cô bé cắm sâu chiếc muỗng qua lớp kem.
- Bữa ăn này là mừng sinh nhật của con đó Meggie - Pađy vui vẻ
nói - Do đó mẹ đã làm món tráng miệng mà con thích nhất.
Sau đó Fiona mang ra một chiếc ấm thật lớn rồi rót cho mỗi người
một tách trà bốc hơi. Cả gia đình ngồi lại ở bàn nói chuyện,
uống trà hoặc đọc sách khoảng một tiếng đồng hỗ nữa. Pađy ngậm
ống vố, đầu nghiêng xuống đọc quyển sách vừa mượn của thư viện
lưu động. Fiona cứ lo châm đầy trà vào mấy chiếc tách trong khi
Bob cũng đọc. Những đứa con khác nhỏ hơn chuẩn bị cho thời khóa
biểu ngày mai.
Nhà trường đã trả học sinh về trong dịp nghỉ hè; các cậu con
trai được tự do tỏ ra rất hăng hái đảm nhận công việc được giao.
Bob sơn phết lại bên ngoài căn nhà, chỉ những nơi cần thiết;
Jack và Hughie đi kiếm gỗ về để làm củi, chăm sóc những phần phụ
thuộc của nhà và vắt sửa; Stuart trồng rau. Thỉnh thoảng Pađy
ngưng đọc sách ngẩng đầu lên để bổ sung thêm cho ai đó một công
việc. Phần Fiona thì chẳng nói một lời, còn Frank ngồi im trên
ghế uống hết tách trà này sang tách trà khác.
Cuối cùng Fiona đưa mắt ra hiệu gọi Meggie đến ngồi trên một cái
ghế cao, bà chải tóc cho con gái, rồi bảo Meggie đi ngủ, cùng
lúc với Stuart và Hughie. Jack và Bob xin đi ra ngoài cho chó ăn;
Frank đặt con búp bê trên tấm ván kê làm bàn viết và bắt đầu dán
lại tóc cho nó. Pađy vương vai, gấp sách lại rồi đặt cái ống vố
trên chiếc ghế vỏ ốc lớn được dùng làm gạt tàn thuốc.
- Thôi, tôi đi ngủ nha mẹ chúng nó.
- Chúc anh ngủ ngon, Pađy.
Fiona dọn dẹp thật nhanh, chén dĩa mang ra sau bếp rồi bắt đầu
ngồi rửa. Frank vùi đầu vào việc sửa con búp bệ Nhưng khi liếc
nhìn chồng dĩa cao ngất, cậu ta bật dậy và không nói một lời đi
lấy nùi giẻ phụ mẹ. Frank biết rằng nếu bị cha mình bắt gặp thì
ông không tha đâu. Ông phân công rất dứt khoát: đàn ông con trai
không được rớ vào công việc của đàn bà. Biết thế, nhưng Frank
vẫn chờ cha mình vừa đi nghỉ là bắt tay vào phụ mẹ. Fiona trìu
mến nhìn con trai lớn:
- Frank à, không có con mẹ không biết sẽ xoay sở ra sao. Nhưng
đáng lý con không nên nhúng tay vào. Sáng mai con sẽ mệt...
- Mẹ đừng lọ Rửa vài cái dĩa chẳng hao tốn bao nhiêu sức. Giúp
mẹ đỡ mệt một chút đâu phải là chuyện lớn.
- Công việc này là của mẹ, và chẳng có gì vất vả đâu Frank ạ.
- Con mong ngày nào đó nhà mình giàu có để có thể mướn thêm
người phụ mẹ.
- Con đừng mơ chuyện hão huyền.
Với tay lấy miếng giẻ, bà lau hai bàn tay ửng đỏ đầy xà phòng.
Khi nhìn Frank, trong đôi mắt của bà chứa đựng một nỗi âu lo
mông lung. Bà đoán ra sự bất mãn của con và nỗi cay đắng vượt
qua mức độ nổi loạn bình thường của một người lao động với số
phận của mình.
- Frank, con không nên có những ước muốn điên rồ. Nó chỉ gây
phiền lụy cho con. Chúng ta thuộc tầng lớp cùng cực có nghĩa là
chẳng bao giờ giàu và cũng không có đầy tớ đâu con ạ. Con hãy
bằng lòng với chính con và những gì con có. Khi con nói ra những
chuyện như thế con đã làm nhục cha con đó. Ông không uống rượu,
không chơi bời, ngượi lại làm việc rất cực nhọc vì chúng ta. Ông
không giữ riệng một xu cho ông, tất cả cho chúng ta đấy thôi.
Đôi vai gân guốc của Frank nhúm lại, nét mặt sa sầm xuống:
- Mẹ ạ, nhưng tại sao muốn thoát khỏi số phần của mình lại bị
trách cứ? Con không thấy điều gì xấu nếu con mong cho mẹ có được
một người giúp việc để mẹ bớt cực.
- Điều đó chưa phải tốt đâu con, vì nó không xảy ra như thế! Con
biết gia đình mình không đủ tiền để lo cho con học tiếp và khi
con không tiếp tục đến trường thì làm thế nào con có thể tránh
được cái số phận của một người lao động cực nhọc... Giọng nói,
cách ăn mặc, hai bàn tay chai của con đã cho thấy con phải lao
động mới nuôi sống được mình. Không có gì là nhục khi có hai bàn
tay chai. Cũng như cha con thường nói: khi có một người có hai
bàn tay như thế thì ai cũng biết ngay đó là một người lương
thiện.
Frank nhún vai không nói.
Anh đứng dậy đặt con búp bê bằng sứ trên đầu tủ buýp phê, phía
sau hợp bánh bích quy. Anh không sợ mấy thằng em trai có những
hành độg phá hoại lần thứ hai; chúng ngán Frank nổi giận hơn la
cha vì rằng bản chất của Frank có một chút hung dữ. Nhưng cái
tính xấu ấy không bao giờ Frank lộ ra khi anh ở bên cạnh mẹ hay
cô em gái Meggie.
Fiona nhìn Frank mà lòng đau nhói; dường như ở Frank có cái gì
đó cô đơn và tuyệt vọng và biết bao nhiều điều băn khoăn vây
hãm. Phải chi Pađy và Frank hòa thuận! Nhưng cả hai đều không
nhìn mọi sự việc dưới con mắt giống nhau. Họ hục hặc nhau thường
xuyên.
Ngoại trừ một lần được đi chơi ở Wahine cách đây tám tháng.
Meggie chưa bao giờ đi xa hơn nhà kho và cái lò rèn ở dưới thung
lũng. Cho nên sáng đầu tiên Meggie đi học ở trường, cô bị căng
thẳng đến đỗi nôn ra ngoài những gì đã ăn sáng. Thế là Meggie
được bế về phòng ngủ, tắm rửa sạch sẽ và thay một bộ đồ khác. Bộ
quần áo mới màu xanh đậm với cổ màu trắng theo kiểu lính thủy,
được thay bằng một cái áo choàng màu nâu xấu xí với hàng nút cài
trên cổ rất cao, khiến Meggie có cảm giác như bị nghẹt thở.
Bob, Jack, Hughie và Stuart vừa chạy vừa nhảy cò cò đã ra tới
ngoài cổng. Lúc đó Fiona mới lo xong cho Meggie, bà thúc hối con
gái mang theo thức ăn sáng, bánh mì xăng-Uých phết mứt, bỏ vào
chiếc cặp cũ.
- Mau lên Meggie, mọi người trễ hết đấy. Bob ra đến đường quay
đầu lại la lớn.
Meggie chạy theo mấy anh đang khuất dần xa xa.
Từ nhà của họ Cleary đến thị trến Wahine khoảng chừng tám cây
số.
Meggie nhìn cột cây số chỉ đường mà chân tay rụng rời. Tai của
Bob lắng nghe tiếng chuông trường đã đổ chưa, còn mắt thì liếc
sang Meggie đầy băn khoăn; cô bé đi bước thấp bước cao, thỉnh
thoảng lại thở ra mệt nhọc. Dưới mái tóc dày màu hung, gương mặt
đỏ hồng của Meggie bỗng trở nên nhợt nhạt. Bob giao chiếc cặp
của mình cho Jack rồi đến bên em gái:
- Meggie, em ngồi lên lưng anh, anh cõng em đi cho nhanh.
Bây giờ thì Meggie có thể khám phá Wahine trong tư thế thoải
mái.
Wahine chẳng có gì nhiều để xem. Không rộn rịp bằng một thị trấn
lớn, nhà cửa trải đều hai bên con đường chính tráng nhựa. Khách
sạn là tòa nhà đáng chú ý nhất cũng chỉ có một tầng với một tấm
lợp bằng vải chịu trên hai cây trụ nhô ra sát đường để che nắng.
Cửa hàng bách hóa là nơi đáng chú ý kế đó. Thị trấn chưa có một
nhà chứa xe, ô tô ở đây còn rất hiếm. Trường học và Nhà thờ Anh
quốc giáo đang được xây kế bên nhau, đối diện với nhà thờ Thánh
Tâm và trường của giáo xứ.
Khi anh em Cleary đi ngang cửa hàng bách hóa thì chuông trường
của giáo xứ vừa đổ, sau đó là chuông trường của thị trấn. Họ
bước nhanh hơn vào sân trường kịp lúc năm mươi học sinh khác bắt
đầu xếp hàng trước một nữ tu thấp người, tay cầm một cây roi mây
dài. Đó là xơ Agatha.
Khong bị lôi cuốn bởi những tiếng cười đùa khúc khích của đám
học sinh, Bob và các em mình đứng nghiêm trang rồi lần lượt đi
theo hàng vào lớp trong tiếng hát Niềm tin của các Thánh Tổ phụ
của chúng ta, xơ Catherine đệm dương cầm. Khi học sinh cuối cùng
vào lớp, xơ Agatha mới rời khỏi vị trí của mình. Bà đi thẳng đến
anh em Cleary.
Meggia chưa bao giờ được nhìn thấy một nữ tu, nên miệng há hốc
ra.
- Này Robert Cleary, tại sao em đi trễ? Giọng nói của xơ Agatha
khô khan như hét lên.
- Thưa dì, con xin lỗi - Bob trả lời vụng về, mắt dán chặt vào
cây roi mây đung đưa sau lưng xơ Agatha.
- Tại sao các em đi trễ? Bà hỏi gặng lần nữa.
- Con xin lỗi xơ.
- Hôm nay là ngày tựu trường, Robert Cleary; tôi nghĩ rằng vào
một dịp như thế, các em phải ráng đi học đúng giờ chứ?
Meggie run sợ, tập trung can đảm rồi lên tiếng:
- Thưa xơ, đó là lỗi của con - Tiếng nói nhỏ như thì thầm và tắt
nghẽn trong cổ.
Cặp mắt màu xanh đầy đe dọa rời khỏi Bob, chuyển sang hướng
Meggie tưởng như xuyên thủng vào tận tim cô bé, trong khi đó
Meggie vẫn hồn nhiên giương đôi mắt nhìn vị nữ tu, hoàn toàn
không ý thức rằng mình vừa phạm một sơ hở.
- Tại sao lại lỗi của cô - Vị nữ tu hỏi Meggie bằng một giọng
lạnh lùng chưa bao giờ Meggie được nghe.
- Dạ thưa, con nôn ra đầy bàn, làm lấm cả quần áo. Mẹ con phải
lau rửa và thay quần áo khác cho con, do đó chúng con bị trễ -
Meggie giải thích một cách vụng về.
Nét mặt của xơ Agatha không hề thay đổi nhưng miệng mím chặt lại
như một cái lò xo bị căng ra quá sức, còn đầu ngọn roi thì hạ
thấp xuống vài centimét.
Chuyện gì thế? Bà hỏi Bob như nói với một loại sâu bọ vô cùng
kinh tỏm như chưa từng có trong danh mục khoa hoc.
- Xin xơ tha lỗi chọ Đây là Meghann, em gái của con.
- Nghe đây nhé, phải cho cô em gái của cậu biết có những chuyện
mà những người có lễ giáo không bao giờ nói đến. Trong mọi
trường hợp, chúng ta không đề cập đến bất cứ một món quần áo lót
nào. Không bao giờ và không bao giờ. Tất cả những đứa trẻ con
nhà đàng hoàng đều phải hiểu điều ấy. Đưa tay ra, tất cả.
- Nhưng thưa xơ, lỗi của con mà! Meggie kêu lên.
- Im ngay! Agatha quay qua Meggie ra lệnh - Tôi không cần biết
ai là thủ phạm. Tất cả đều đi trễ, vậy tất cả phải bị phạt. -
Sáu roi.
Bà kết án bằng giọng đều đều, chứa đựng sự đắc ý.
Meggie hốt hoảng nhìn hai bàn tay không nhúc nhích của Bob, rồi
nghe tiếng rít của cây roi dài quất xuống nhanh đến nỗi mắt
Meggie không theo kịp. Tiếng voi vang lên khi đụng vào bàn tay,
nơi da thịt mỏng và mềm. Những đường dàiđỏ ửng nổi lên ngay; lần
đánh sau trúng gần ngón tay và lần chót trúng ngay các đầu ngón
tay đau thốn tới óc. Xơ Agatha sử dụng cây roi một cách đặc biệt
chính xác. Thêm ba roi nữa quất xuống dưới tay bên kia của Bob,
rồi bà quay sang Jack. Mặt Bob tái nhợt nhưng không một tiếng
rên. Và xơ Agatha đã dùng cách đánh ấy với các đứa em trai của
Bob, kể cả Stuart hiền hậu và dịu dàng nhất. Tất cả không một
tiếng rên. Đến Meggie, cô bé nhắm mắt lại khi ngọn roi giơ lên
cao và không thấy nó sa xuống lúc nào. Nhưng sự đau đớn thật dữ
dội, da thịt như bị xé ra và nhức thấu xương. Rồi ngọn roi thứ
hai quất xuống; cơn đau lên đến vai thì ngọn roi thứ ba và thứ
tư tiếp theo, trúng ngay những đầu ngón tay. Meggie cắn môi đến
khi rướm máu, và cảm thấy xấu hổ khi bật ra tiếng khóc. Tức giận
phẫn nộ trước một sự bất công như thế, Meggie mở lớn đôi mắt
nhìn xơ Agatha. Đó là bài học đầu tiên của cô bé, bài học không
chứa đựng những điều mà đáng ra vị nữ tu phải đưa vào.
Mãi cho đến giờ ăn trưa, hai bàn tay Meggie mới có thể hoạt động
lại bình thường. Meggie đã trải qua một buổi sáng đầy sợ hãi
sửng sốt về những gì đã xảy ra, đã nghe thấy. Ngồi trước chiếc
bàn có hai ghế, ở tận cùng phòng học, Meggie cũng không chú ý
người bạn cùng bàn mình là ai. Cô bé trải qua giờ cơm trưa buồn
bã.
Khi tiếng chuông báo hiệu tiết học trưa bắt đầu, Meggie tìm một
chỗ đứng vào hàng, lúc ấy cô bé mới nhận ra những gì chung
quanh. Nỗi xấu hổ bị phạt chưa vơi nhưng cô bé vẫn ngẩng cao đầu
và làm như không nghe những tiếng xì xào trong đám bạn nhỏ cùng
lớp, cũng như không để ý đến những chiếc cùi chỏ thúc vào nhau.
Xơ Agatha đứng oai vệ trước học sinh với cây roi dài trong tay;
xơ Declan đi đi lại lại ở cuối hàng. Xơ Catherine ngồi trước đàn
dương cầm bắt đầu đánh bản: Hãy tiến lên, các con chiên của
Chúa. Các cô cậu dễ thương này đi đều bước như những người lính
nhỏ - xơ Catherine thầm nghĩ như thế với tất cả niềm kiêu hãnh.
Trong ba nữ tu, xơ Declan là mẫu chép nguyên bản của xơ Agatha
với mười lăm tuổi nhỏ hơn, chỉ có xơ Catherine thì còn có chút
gì nhân từ.
Ở hàng ghế cuối lớp, Meggie liều lĩnh liếc mắt nhìn sang cô bạn
gái nhỏ ngồi chung bàn với mình. Một nụ cười sún răng đáp lại.
Đôi mắt đen tròn làm gương mặt u buồn trở nên rực sáng. Cô bé
thu hút Meggie có màu tóc đỏ hoe, gương mặt đầy những vết tàn
nhang.
- Bạn tên gì? Cô bé có vẻ đẹp buồn hỏi Meggie, miệng cắn đầu cây
bút chì.
- Meggie Cleary - tiếng trả lời của Meggie thật nhỏ.
- Hai em đằng kia! một giọng khô khan vang lên từ đầu lớp.
Meggie giật thót người, nhìn dáo dác xung quanh hoảng sợ, tim cô
bé như va chạm vào lồng ngực. Meggie nhận ra là cả lớp đang nhìn
mình. Xơ Agatha bước xuống đi thẳng đến Meggie. Sự sợ hãi khiến
Meggie mong chờ một phép lạ nào giúp mình biến mất, hoặc phải co
chân chạy ngay khỏi nơi này. Phía sau là bức tường, hai bên là
những bàn học, còn trước mặt là xơ Agatha.
- Meghann Cleary, em đã nói chuyện.
- Thưa xơ, vâng.
- Em nói gì đấy?
- Tên con, thưa xơ.
- Tên em? Xơ Agatha lặp lại bằng giọng chế diễu vừa đảo mắt nhìn
khắp lớp, như muốn giải thích những lời lên án của mình.
- Này các em, hết chuyện rồi! Thêm một thành viên của gia đình
Cleary mang lại vinh dự cho trường của chúng ta bằng sự hiện
diện của họ Do đó cô ta phải loan báo một cách ầm ĩ tên mình
(rồi xơ quay lại phía Meggie). Đứng lên! Em phải đứng lên khi
tôi đang nói với em, đồ con nhỏ rừng rú! Đưa hai tay ra.
Meggie bước nhanh ra khỏi hàng ghế, những lọn tóc dài tung lên
rồi rơi xuống che khuất một phần gương mặt. Cô bé vặn chéo hai
tay một cách tuyệt vọng nhưng xơ Agatha vẫn không nhúc nhích, bà
ta cứ chờ, cứ chờ, cứ chờ... Sau cùng Meggie tìm được chút gan
dạ chìa lòng bàn tay ra. Nhưng ngay lúc cây mây đập xuống, cô bé
rút bàn tay lại thật nhanh vừa thở hổn hển, mặt xanh như cắt. Xơ
Agatha chụp lấy và kéo chùm tóc hung về phía bà, gương mặt của
Meggie áp sát vào cặp kính của bà.
- Đưa tay ra, Meghann Cleary - xơ Agatha ra lệnh, giọng lịch sự
nhưng lạnh lùng và quyết liệt.
Meggie há miệng ra và nôn cả buổi ăn trưa lên chiếc áo dài của
xơ Agatha. Tiếp đó là tiếng hét kinh hãi của học sinh trong lớp;
trong khi đó xơ Agatha trố mắt nhìn những thứ gớm ghiếc vừa nôn
ra chảy dài từ trên xuống theo những đường xếp của chiếc áo. Mặt
bà đỏ gay vì tức giận điên người cùng với chút kinh hãi. Cây mây
quất xuống không cần biết nhắm vào đâu, Meggie đưa hai tay lên
che mặt rồi chạy trốn vào một góc lớp, miệng vẫn tiếp tục nôn
mửa. Xơ Agatha đã mỏi mệt không thèm đánh nữa, bà chỉ ra cửa:
- Ra khỏi đây! Về nhà của mày đi, đồ thất học đáng ghê tởm.
Rồi bà quay phắt lại bước sang lớp học của xơ Declan.
Đôi mắt luống cuống của Meggie tìm thấy Stuart, người anh học
chung lớp ra hiệu cô phải vâng lời. Cái nhìn hiền hòa của Stuart
đầy thương hại và thông cảm với Meggie. Cô bé lấy khăn tay chùi
miệng và khập khiễng bước ra khỏi lớp. Còn những hai tiếng đồng
hồ nữa mới hết giờ học; Meggie rời sân trường như một cái máy đi
xuống đường và biết rằng các anh mình sẽ không theo kịp. Vì quá
sợ hãi, Meggie không biết phải đứng lại nơi nào để chờ các anh;
Meggie muốn về trước một mình và chỉ một mình thôi để kể với mẹ
tất cả những gì xảy ra.
Chương 4
Fiona
suýt nữa ngã vào con gái khi bước qua ngưỡng cửa sau nhà, tay
xách một giỏ quần áo sắp sửa đem phơi. Meggie đang ngồi trên bậc
cao nhất ở ngoài hàng hiên, đầu gục xuống, tóc rũ rượi, dơ bẩn.
Fiona đặt chiếc giỏ nặng xuống, thở ra, đưa tay vẹt qua một bên
phần tóc che khuất mặt Meggie.
- Nói cho mẹ nghe chuyện gì đã xảy rả Bà hỏi bằng giọng mệt mỏi.
- Con nôn ra đầy áo của xơ Agatha.
- Chúa ơi! Fiona kêu lên, hai tay chống vào hông.
- Bà cũng đã quất cho con nhiều roi - Meggie nói không ra tiếng,
nước mắt ràn rụa.
- Thật sạch sẽ quá - Fiona đứng lên khó nhọc xách chiếc giỏ quần
áo đầy nắp - Meggie, mẹ không biết phải làm gì đây, rồi ba về sẽ
cho một trận.
Nói xong bà băng qua sân đi về phía hàng dây phơi quần áo.
Meggie lấy tay quệt nước mắt; nhìn theo mẹ một lúc rồi đứng lên
và đi xuống con đường dẫn đến lò rèn.
Frank vừa đóng móng xong cho con ngựa cái của ông Roberson thì
Meggie xuất hiện. Anh ta quay lại và thấy Meggie. Những kỷ niệm
không lấy gì tốt đẹp mà cậu ta từng trải qua ở nhà trường lại ập
đến. Meggie quá nhỏ bé, mũm mĩm thơ ngây biết bao, và những gì
Frank nhìn thấy trước mắt khiến anh không thể không nghĩ đến
việc giết ngay xơ Agatha. Giết bà ta, giết bà ta thật sự. Anh ta
buông mấy thứ đang cầm trong tay, tháo cái tạp dề bằng da ra và
đến nhanh bên Meggie.
- Chuyện gì đã xảy ra em gái cưng của anh? Frank vừa hỏi vừa quì
xuống trước mặt em gái.
Mùi nôn mửa xông ra từ em gái làm cho Frank cũng khó chịu nhưng
cậu ta cố chịu đựng.
- Anh Frank - Frank - Frank! Cô bé nói như rên siết, gương mặt
nhăn nhó đau đớn, và bây giờ nước mắt mới tuôn trào. Meggie nhào
tới ôm ghì lấy Frank, và khóc không ra tiếng, nhưng lại rất đau
khổ.
Khi Meggie dịu bớt cơn xúc động, Frank bế em gái đặt trên đống
cỏ khô mùi dễ chịu, bên cạnh con ngựa cái của ông Roberson. Cả
hai ngồi yên lặng nhìn con vật nhấm ở rơm. Đầu của Meggie ngả
vào phần ngực trần êm ái của Frank.
- Tại sao bà ta phạt tất cả anh em mình hở anh Frank? - Meggie
hỏi. Em đã nói là lỗi riêng của em mà.
Bây giờ thì Frank đã quen cái mùi toát ra từ chiếc áo của em và
anh ta không còn chú ý nữa. Bất chợt, Frank đưa tay ra, lơ đãng
vuốt mũi của con ngựa cái, đẩy nó ra khi nó có vẻ quá thân mật.
- Chúng ta nghèo, Meggie, đó là lý do chính. Các dì phước luôn
luôn ghét học sinh nghèo. Nếu em còn đi học ở cái trường hắc ám
đó của xơ Agatha vài ngày nữa, em sẽ thấy bà ta không chỉ nhắm
vào anh em Cleary, mà cả anh em Marshall Mac Donald. Tất cả đều
nghèo. Ngược lại, nếu chúng ta giàu, đi học bằng xe ngựa có mui
sập sang trọng như dòng họ Ó Brien, các bà xơ sẽ nhảy tới ôm cổ
chúng ta. Nhưng chúng ta không có điều kiện để tặng một cây đàn
ócgơ cho nhà thờ, cũng không có những áo choàng lễ nạm vàng, hay
một con ngựa, một chiếc xe cũ tặng cho các bà nữ tu dùng việc
riêng, nên chúng ta chẳng là gì. Các bà muốn đối xử với chúng ta
như thế nào tùy ý.
Cô bé ngái ngủ, hai mí mắt trì nặng xuống. Frank đặt em nằm trên
đống cỏ khô và trở lại công việc của mình, trên môi điểm một nụ
cười và cất tiếng hát nho nhỏ.
Meggie đang ngủ thì Pađy bước vào, tay lấm đầy phân vì ông ta
vừa chùi rửa chuồng ngựa của ông Jarman.
- Mẹ con mới cho ba hay la Meggie bị phạt ở trường và bị đuổi về
nhà. Con có biết lý do hay không?
Frank để cái trục xe qua một bên.
- Tội nghiệp nó đã nôn vào áo của xơ Agatha.
Pađy đổi sắc mặt, mắt nhìn thẳng về phía bức tường xa nhất như
đang tìm một thái độ Rồi ông lại hướng mắt về phía Meggie.
- Con bé bị xúc động quá mức ngay buổi học đầu tiên chứ gì?
- Con không rõ. Nó đã nôn ở nhà trước khi đi và do đó làm cho cả
bốn đứa phải trễ giờ. Chúng đến trường sau khi kiểng đổ. Mỗi đứa
đều bị ăn sáu roi, riêng Meggie bấn loạn vì cho rằng nó là người
có lỗi duy nhất đáng bị phạt. Sau buổi ăn trưa, Meggie lại bị xơ
Agatha đánh một lần nữa, thế là Meggie của chúng ta đã trút toàn
bộ bánh mì và mứt lên trên chiếc áo dài màu đen của xơ Agatha.
- Rồi chuyện gì xảy ra tiếp đó?
- Xơ Agatha đã tặng thêm một trận đòn cho Meggie và đuổi nó về
nhà.
- Như vậy, Meggie đã bị phạt là đúng. Ba rất kính trọng các dì
phước và ba cũng ý thức rằng chúng ta không có quyền chỉ trích
hành động của các dì. Nhưng ba mong rằng các dì sẽ sử dụng roi
thước bớt đi. Ba biết các dì phải khổ tâm lắm mới nhét được vào
những cái đầu khó bảo của người ái Nhĩ Lan chúng ta một chút văn
hóa. Dù sao đó là ngày đi học đầu tiên của Meggie.
Frank nhìn cha sửng sốt. Lâu nay chưa bao giờ Pađy nói chuyện
với con trai lớn trong tứ thế giữa hai người đàn ông. Lần đầu
tiên được lôi ra khỏi những oán giận thường xuyên đầy ắp, Frank
hiểu ra rằng dù với bề ngoài cứng rắn, cha mình vẫn tỏ ra âu yếm
Meggie hơn cả bọn con trai. Frank cảm thấy gần với cha hơn. Anh
mỉm cười không có chút ẩn ý.
- Meggie là một đứa trẻ tuyệt vời phải không bả Pađy tán đồng
một cách lơ đãng câu hỏi của Frank vì ông đang nhìn Meggie. Con
ngựa cái nhe răng, hỉnh mũi thở phì phì; Meggie trở mình, lăn
qua một bên rồi mởt mắt. Khi nhìn thấy cha đứng kế bên Frank, cô
bé bật ngồi dậy, mặt tái nhợt vì sợ sệt.
- Sao cô gái bé nhỏ, con đã trải qua một ngày rất mệt nhọc phải
không?
Pađy bước tới, bế Meggie lên và không khỏi giựt mình vì mùi tanh
xông lên mũi. Nhưng ông nhún vai và ôm con gái vào lòng.
- Con bị đánh đòn bằng gậy... Meggie nói với cha.
- Này nhé, xơ Agatha cho ba biết đây chưa phải là lần cuối cùng
đâu (ông đặt Meggie lên vai) - Bây giờ tốt hơn hết con xem mẹ có
sẵn nước nóng để tắm không. Con gái ba mà hôi hám hơn cả chuồng
ngựa của Jarman.
Những lần nôn mửa của Meggie đã mang lại một kết quả khá tốt. Xơ
Agatha vẫn dùng roi đánh cô bé nhưng bây giờ bà luôn luôn giữ
một khoảng cách đủ để tránh những hậu quả bất ngờ. Do đó mà sực
mạnh của làn roi và sự chính xác đã không còn như trước.
Khi Meggie chưa đến trường thì Stuart là mục tiêu chính của ngọn
roi trong tay xơ Agatha. Nhưng thật ra, Meggie lại là đối tượng
hành hạ thích thú hơn, vì tánh hay mơ mộng và kín đáo của Stuart
ít có chỗ sơ hở cho xơ Agatha khai thác.
Meggie quen tay trái. Đó là cái tội đáng trị nhất. Ngày tập viết
đầu, khi cô bé cầm cục phấn lên, xơ Agatha đã lao vào cô bé như
César lao vào lính Gaulois:
- Meghann Cleary, bỏ cục phấn xuống ngay! bà ta hét lên.
Thế là một trận chiến dằng lại diễn ra. Meggie quen tay trái,
bất trị, không khoan nhượng. Khi xơ Agatha bẻ cụp bàn tay mặt
của Meggie trên tám bảng, Meggie thấy đầu óc đảo lộn, khổng biết
cách nào điều khiển bàn tay bất lực của mình làm theo đòi hỏi
của xơ Agatha. Bà ta có làm gì đi nữa, bàn tay mặt của Meggie vẫn
không thể kẻ được chữ Ạ Thừa lúc xơ Agatha vừa quay sang chỗ
khác, Meggie nhanh hơn dùng tay trái viết một chữ A thật đẹp.
Nhưng cuối cùng xơ Agatha đã thắng. Một buổi sáng trong lúc các
học sinh đang xếp hàng, xơ Agatha đến lắm lấy tay của Meggie kéo
ra sau lưng rồi dùng một sợi dây thừng cột chặt lại. Xơ Agatha
chỉ tháo dây khi chuông báo tan học vào lúc ba giờ chiều. Ngay
giờ nghỉ buổi trưa, Meggie cũng phải ăn, đi dạo và chơi với một
bên tay trái hoàn toàn bất động. Ba tháng sau, Meggie tập được
viết bằng tay mặt khá ngay ngắn, theo những qui định do xơ
Agatha đề ra. Để đảm bảo chắc chắn cô bé không sử dụng trở lại
tay trái, bà ta tiếp tục cột như thế thêm hai tháng. Sau đó xơ
Agatha tập hợp tất cả học sinh để đọc một tràng kinh, cảm ơn Đức
Chúa Trời với lòng nhân từ của Ngài, đã chứng minh sai lầm của
Meggie - Những đứa con của Đức Chúa Trời nhân từ đều sử dụng tay
mặt; những người sử dụng tay trái là do quỷ sứ sinh ra, nhất là
khi chúng có tóc màu hung. Năm học sắp hết, tháng 12 đến và ngày
sinh nhật của Meggie cũng gần rồi. Như một thông lệ của gia đình
khi sinh nhật của các con rơi vào một ngày đi học thì buổi lễ
được dời qua ngày thứ bảy.
Qùa sinh nhật của Meggie năm nay là một bộ tách dĩa với những
hình vẽ đề tài Trung Quốc mà cô bé mong muốn từ lâu. Bộ tách dĩa
ấy được đặt trên một chiếc bàn nhỏ xinh sắn màu xanh dương chung
quanh có những chiếc ghế nhỏ. Tất cả do Frank làm cho em trong
những lúc rỗi rảnh. Thế là Agnès mặc chiếc váy màu xanh mới, do
chính mẹ. Meggie cắt và may, được đặt trên một trong những chiếc
ghế ấy.
Hai ngày trước Noel năm 1917, Pađy trở về nhà đặt lên bàn tờ
tuần báo và một chồng sách mượn của thư viện lưu động. Lần thứ
nhất, việc đọc báo được chọn trước việc đọc sách. Tổng biên tập
vừa áp dụng một công thức mới cho tờ tuần báo phỏng theo các tạp
chí Mỹ. Ở phần giữa tờ báo được dành trọn để phản ánh tình hình
chiến cuộc đang diễn ra.
Frank chụp lấy tờ báo và đọc ngấu nghiến các bài tường thuật.
- Thưa ba, con muốn ghi tên vào quân đội - Frank vừa nói vừa đặt
tờ báo xuống bàn một cách lễ phép.
Fiona quay phắt đầu lại, làm đổ món ragu xuống bếp; Pađy giật
nẩy mình trong ghế bành Windsor, ngưng đọc sách.
- Con còn quá trẻ, Frank, ông đáp lại.
- Thưa ba, con đã 17 tuổi. Con là một người lớn! Tại sao bọn Đức
và bọn Thổ có quyền tàn sát quân lính của chúng ta như những con
heo, trong khi đó con lại ở nhà ngồi bình yên? Đã đến lúc một
thanh niên của dòng họ Cleary phải phụ vụ Tổ quốc.
- Nhưng con chưa tới tuổi, Frank - người ta không nhận con đâu.
- Nhận. Nếu ba không ngăn trở - Frank nói ngược lại một cách
quyết liệt, mắt vẫn nhìn cha.
- Nhưng ba không đồng ý. Con là lao động duy nhất trong gia đình
hiện nay. Gia đình cần tiền do con làm ra. Con biết điều đó.
- Nhưng trong quân đội con cũng được trả lương.
- Lương lính hả? Pađy vừa hỏi vừa cười. Một thợ rèn ở Wahine có
thu nhập nhiều hơn một người đi lính ở châu âu.
- Nhưng khi con ở đó, con có hy vọng đổi thay số phận thợ rèn
của con! Đây là lối thoát duy nhất của con.
- Tất cả điều đó đều là chuyện tầm phào! Trời ơi, con không hiểu
chút nào về những điều con đang nói. Ba sinh ra từ một đất nước
trải qua một ngàn năm chiến tranh, do đó ba biết ba đang nói gì.
Con có bao giờ nghe, các cựu chiến binh kể lại cuộc chiến của
những người nông dân góc Hà Lan ở Nam Phi chống lại quân Anh?
Con thường ra thị trấn Wahine; vậy lần tới con hãy tìm hiểu. Ba
nghĩ điều đó sẽ rất bổ ích cho con. Ngoài ra ba có cảm tưởng bọn
Anh không thích dùng người Tây Tây Lan; bọng chúng luôn bố trí
lính Tây Tây Lan ở những nơi dễ chết nhất để tránh nguy hiểm cho
mạng sống quí giá của họ. Cứ xem cái cách mà viên tướng
Chwichell đã đưa quân lính của chúng ta đến một khu vực hoàn
toàn không cần thiết như ở Gallipili thì cũngbiết. Mười ngàn
người bị thiệt mạng trong số năm mươi ngàn. Tại sao lại phải đi
chiến đấu cho cuộc chiến của Anh? Nước Anh đã giúp ích gì cho
con, cái xứ gọi là Mẹ Tổ Quốc ấy, ngoại trừ việc hút các thuộc
địa đến giọt máu cuối cùng. Nếu con đến nước Anh, con sẽ gặp
ngay sự khinh bỉ vì con đến từ một xứ thuộc địa. Tây Tây Lan
không hề bị đe dọa, kể cả úc.
- Nhưng con vẫn muốn vào quân đội.
- Con có thể muốn bất cứ điều gì nhưng con sẽ không rời khỏi nơi
đây. Hay nhất là con quên đi tất cả những chuyện ấy. Hơn nữa con
còn quá nhỏ để trở thành người lính.
Gương mặt của Frank đỏ gay, hai môi mím chặt lại, cậu ta cảm
thấy đau khổ về chiều cao dưới trung bình của mình. Mới đây, một
nỗi nghi ngờ đáng sợ lại xâm chiếm Frank. Mười bảy tuổi rồi mà
Frank vẫn cao đúng một thước năm mươi chín, đó là chiều cao khi
Frank được 14 tuổi; phải chăng mình không còn cao lên nữa.
Thế nhưng, công việc ở lò rèn đã mang lại cho anh một thể lực
hơn hẳn vóc dáng của anh. Tuy nhỏ con nhưng Frank có một sức
mạnh vô địch. Ở tuổi 17; anh chưa bao giờ bị đánh bại trong bất
cứ một cuộc thi đấu quyền Anh nào. Frank được nhiều người khắp
bán đảo Taranaki biết đến.
Pađy nhìn chăm chú Frank, cố tìm hiểu đứa con trai lớn của mình
nhưng ông cảm thấy bất lực, Frank là đứa con “xa con tim” của
ông nhất dù cho ông đã cố gắng không thiên vị bất cứ đứa con
nào.
Cuộc tranh luận trên bàn ăn bỗng tắt ngang khi Pađy nhận xét về
chiều cao của Frank; cả gia đình cúi đầu và im lặng khác thường,
họ ăn món ragu thỏ. Meggie không ăn, mắt cứ nhìn Frank như lo sợ
lúc nào đó anh mình có thể biến đi mất. Còn Frank, sau khi ăn
sạch, ngồi nán lại một lúc cho đủ lễ, rồi đứng lên đi ra ngoài.
Một phút sau tiếng rìu bửa củi vang vào tận trong nhà. Frank tấn
công những khúc gỗ cứng nhất mà Pađy đã dự trữ để chuẩn bị đốt
vào mùa đông, củi loại này cháy chậm.
Trong khi mọi người nghĩ rằng Meggie đã ngủ, cô bé lẻn ra khỏi
phòng bằng ngã cửa sổ và đi đến vựa củi, nơi đây được coi là
đáng kể nhất trong đời sống của cả nhà. Vựa củi chiếm khoảng đất
rộng một trăm mét vuông, Frank đang đứng giữa bãi, chiếc rìu
sáng loáng giơ cao hạ xuống nghe rít trong gió, những mảnh gỗ
nhỏ văng tứ tung, lưng trần của Frank như thoa mỡ, mồ hôi chảy
xuống từng giọt.
Meggie rón rén đến im bên chiếc áo sơ mi và áo lót của Frank vứt
ở một góc, nhìn anh mình với chiếc rìu, Meggie không khỏi ngạc
nhiên. Có đến ba cái rìu như thế sẵn sàng để thay vì vỏ cây bạch
đàn có thể làm lụt đi nhanh chóng những cái bén nhất.
Frank tiếp tục làm việc gần như theo bản năng dưới ánh sáng
hoàng hôn đang tắt lịm. Meggie né tránh nhanh nhẹn những mảnh gỗ
nhỏ và chờ cho Frank khám phá sự hiện diện của mình.
Khi Frank quay lại để lấy một cái rìu khác thi anh ta bắt gặp cô
em gái, ngồi đó im lặng trong chiếc áo sơ mi của Frank cài nút
thật kỹ từ trên xuống dưới. Frank bước đến gần Meggie ngồi xổm
xuống, chiếc rìu vẫn để giữa hai đầu gối.
- Em ra đây bằng cách nào hỡi cô bé lém lỉnh?
- Ngã cửa sổ. Em chờ cho Stuart ngủ mê.
- Coi chừng đấy, em sẽ trở thành một thằng con trai hư hỏng mất.
- Mặc kệ. Em vẫn thích chơi với bọn con trai hơn là buồn hiu một
mình.
- Dĩ nhiên là thế.
- Có chuyện gì không Meggie?
- Frank, anh không đi thật chớ?
Meggie đặt hai bàn tay lên đùi anh mình và ngước nhìn bằng mắt
âu lo, miệng mở lớn, còn nước mắt dã chảy xuống đầy lỗi mũi làm
cho cô bé cảm thấy khó thở.
- Vâng có lẽ anh sẽ đi Meggie ạ - Frank trả lời dịu dàng.
- Anh Frank ơi, không nên! Mẹ và em rất cần anh! Nhà này không
thể thiếu vắng anh được.
Frank mỉm cười dù biết khi nghe Meggie hồn nhiên lặp lại những
lời nói giống hệt mẹ.
- Meggie, có những việc xảy ra không như mong muốn của chúng ta. Em phải biết điều đó. Trong nhà này các thành viên của gia đình
Cleary đã được dạy phải làm việc chung nhau vì lợi ích của mọi
người mà không bao giờ nghĩ đến bản thân mình. Anh muốn ra đi vì
anh đã 17 tuổi, đã đến lúc phải tự lập. Nhưng cha không đồng ý.
Người ta cần anh ở nhà vì lợi ích chung. Vì anh chưa đủ 21 tuổi
nên anh phải nghe lời cha.
Meggie gật đầu thật nhanh, cố gắng hiểu cho được những điều mà
Frank giải thích.
- Thế đấy Meggie. Anh đã suy nghĩ rất kỹ và anh sẽ ra đi, anh
không thay đổi quyết định. Anh biết mẹ và em không muốn thiếu
anh, nhưng Bob lớn rất nhanh rồi ba và các em sẽ không nhận ra
sự vắng mặt của anh đâu. Chỉ có đồng tiền của anh kiếm được là
đáng kể đối với ba thôi.
- Thế là anh không thương ba mẹ và tụi em nữa sao hở anh Frank?
Frank quay lại ôm Meggie trong vòng tay, siết mạnh vào lòng,
vuốt ve cô em gái với nỗi sung sướng. Hình như có gì quyện chặt
vào như là sự tra tấn, pha lẫn đau buồn, cùng xót xa và cả đói.
- Không đâu Meggie! Anh thương em vô cùng, thương mẹ và em hơn
tất cả mọi người cộng lại. Chúa ơi, phải chi em lớn hơn thì anh
có thể giải thích cho em nghe. Nhưng có lẽ cũng may khi em còn
bé bỏng như thế này... Đúng thế, như thế này vẫn tốt hơn...
- Em van anh, anh đừng đi Frank ạ.
- Meggie của anh, em không hiểu những gìanh đã nói à? Nhưng
thôi, điều đó không quan trọng. Cái chính là em đừng nói cho ai
biết em đã gặp anh. Em có nghe không? Anh không muốn người khác
biết em đã ro chuyện này.
Meggie đứng lên, ráng nở nụ cười:
- Anh thấy cần phải đi thì cứ đi, anh Frank.
- Meggie, em nên trở về phòng và lên giường trước khi mẹ biết
được em không có ở đó. Đi đi, chạy nhanh lên... !
Sáng hôm sau, Frank đã đi khỏi nhà. Khi Fiona vào đánh thức
Meggie, nét mặt của bà căng thẳng, nghiêm nghị hơn lúc nào hết.
Meggie nhảy ra khỏi giường như con mèo bị phỏng nước sôi và tự
mặc quần áo vào không cần nhờ mẹ cài những chiếc nút nhỏ.
Ở bếp, mấy cậu con trai đã ngồi chung quanh bàn, buồn bã. Ghế
của Pađy trống. Ghế của Frank cũng trống. Meggie im lặng rón rén
ngồi vào chỗ của mình, răng cắn chặt vào nhau lo sợ. Sau buổi ăn
sáng, Fiona ra lệnh cho các con dọn dẹp nhà. Ra phía sau nhà
kho, Bob báo tin với Meggie.
- Frank đã đi rồi - Bob nói thật nhỏ.
- Có lẽ anh ấy chỉ đi Wahine - Meggie đặt giả thiết.
- Không đâu. Đồ ngu như bò. Anh ấy bỏ nhà ra đi để đăng vào
lính. Anh cũng muốn lớn nhanh lên để có thể làm như Frank! Anh
ấy may mắn lắm.
- Còn em thì thíc hanh ấy ở lại nhà hơn.
- Đúng quá, em chỉ là một đứa con gái.
Khi Meggie trở vào nhà, cô bé hỏi mẹ.
- Ba đâu rồi?
- Ba đi Wahine.
- Có phải ba đi để đem Frank về?
- Thật không có cách nào giấu chuyện bí mật trong gia đình này -
Fiona cằn nhằn. - Không, ba không đi tìm Frank ở Wahine. Ba biết
Frank đi đâu. Ba đi đánh điện tín cho cảnh sát và cho quân đội ở
Wanganui. Lính quân cảnh sẽ mang anh con về đây.
- Mẹ ơi, con hy vọng rằng họ sẽ tìm ra Frank. Con không muốn
Frank đi luôn.
- Không một ai trong chúng ta muốn Frank ra đi. Chính vì thế mà
ba sẽ lo liệu những điều cần thiết... để người ta đưa Frank trở
về đây. Tội nghiệp thằng Frank con tôi! Tội nghiệp Frank! Bà
không nói với Meggie mà than vãn một mình. Tôi không hiểu tại
sao trẻ con phải gánh chịu mọi tội lỗi của người lớn. Thằng
Frank tội nghiệp của tôi, nó khác tất cả...
Ba hôm sau, cảnh sát mang Frank trở về! Cậu ta chống lại dữ dội
như một con sư tử - theo lời của viên trung sĩ ở Wanganui kể lại
cho Pađy.
- Hắn ta đúng là một tên võ sĩ. Khi anh chàng biết được rằng Văn
phòng tuyển binh đã được thông báo về trường hợp của hắn, hắn
vọt chạy nhanh như một ngọn lao. Nếu hắn không xui rủi đụng đầu
một toán lính tuần thì có lẽ đã thoát thân. Hắn chống lại dữ dội
như một kẻ bị ma ám. Phải cần tới năm người mới còng hắn được.
Anh ta quậy như làm xiếc.
Vừa kể lể một cách hấp dẫn, viên cảnh sát vừa tháo những dây
xích nặng nề trả lại tự do cho Frank rồi đẩy Frank qua ngưỡng
cửa. Frank bị loạng choạng và khi lấy lại thăng bằng anh đã đứng
ngay trước mặt Pađy. Cậu ta co rúm người lại như thể sợ bị phỏng
nếu chạm phải thân thể của cha.
Các em của Frank đứng chung quanh nhà nhìn lại. Meggie âu lo
không biết người ta có làm gì hại Frank không.
Frank quay sang nhìn mẹ trước hết, hai mắt màu đen và màu nâu
pha trộn nhau trong một sự kết hợp chưa bao giờ được nói ra và
cũng không bao giờ nên nói ra. ánh mắt khắt khe màu xanh của
Pađy nhìn thẳng Frank vừa khinh miệt, vừa chua cay, như ngầm nói
không thể chờ đợi gì khác hơn ở một đức con như thế. Mắt Frank
nhìn xuống đất, chấp nhận cái quyền nổi giận của cha mình. Từ
hôm đó, Pađy không nói chuyện với con trai ngoại trừ những câu
cần nói.
Gặp lại các em mình, đó là điều hết sức khổ tâm với Frank vừa hổ
thẹn, vừa khó chịu, như con chim lộng lẫy bay lên cao từ phương
trời xa thẳm nào đó, rồi bỗng bị bắt phải quay về bị gẫy cánh,
tiếng hót trở nên lặng lẽ.
Buổi tối như thường lệ, Meggie chờ mẹ kiểm soát xong các con đi
ngủ, cô bé mới chuồn ra cửa sổ và băng qua sân sau; Meggie biết
rõ Frank ở đâu giờ này. Ở một góc nhà khi, tránh mọi cái nhìn
soi nhói, nhất là của cha.
- Frank, Frank, anh ở đâu? Cô bé hạ thấp giọng hỏi. Meggie bước
vào nhà kho tối mịt, chân dò dẫm mặt đất với nỗi lo sợ chạm phải
một con vật nào đó.
- Lại đây, Meggie.
Cô bé rất khó khăn mới nhận ra được giọng nói của Frank. Giọng
nói ấy trước đây rất quen thuộc với Meggie bây giờ lại nghe đều
đều, không còn sự nồng ấm trong đó.
Theo hướng gọi, Meggie đi lần đến chỗ Frank nằm rồi ngã vào lòng
anh, hai tay ôm Frank, tay dài được bao nhiêu cô bé ôm hết bấy
nhiêu.
- Frank ơi, em sung sướng quá vì anh đã trở về đây.
Frank tìm cách nằm sát hơn nữa dưới đống cỏ khô để có thể nhìn
ngang mặt Meggie. Tay cô bé luồn vào tóc của Frank miệng kêu lên
gừ gừ như con mèo con. Bóng đen dày đặc không cho Frank nhìn rõ
mặt em, thế nhưng tình cảm của Meggie bỗng chốc phá tung những
gút mắc trong lòng anh. Frank bắt đầu khóc, run rẩy toàn thân
một cách đau đớn, nước mắt làm ướt áo cô bé. Meggie thì không
khóc. Cái gì đó trong tâm hồn nhỏ bé của Meggie đã sớm chín muồi
và cô bé trở thành một người khác có thể cảm nhận được niềm vui
tràn ngập, dữ dội, ý thức rõ về sự cần thiết của mình. Meggie
ngồi tay lay nhẹ đấu tóc nâu thân yêu, cứ thế cho đến khi nỗi
đau ở Frank dịu bớt và tan vào khoảng trống.
Chương 5
1921−1928 Ralph
Con đường đi
Drogheda chẳng gợi một chút kỷ niệm thời thơ ấu của mình - cha
Ralph de Bricassart thầm nghĩ như thế. Mắt chỉ mở phân nửa đủ để
chống chỏi lại ánh sáng quá chói chang giữa lúc chiếc ô tô mới
hiệu Daimler đang lăn bánh trên con đường đất gồ ghề bị đào xới
bởi những chiếc xe bò qua lại.
Không có chút gì êm ả, xanh tươi và mờ ảo của Ailen ở cái xứ
này. Drogheda! chẳng phải chiến trường mà cũng chẳng có cuộc vây
hãm của cường quốc nào trong lịch sử. Nói thế có quá lố không?
Trong con người cha Ralph tính hài hước vẫn rất nhạy, nó đã vẽ
ra trong ông hình ảnh một Mary Carson ác cảm và đầy quyền lực
theo kiểu nhân vật Cromwell.
Cổng rào cuối cùng hiện lên đàng sau một cụm cây. Chiếc xe đỗ
lại, tiếng máy nghe khá tọ Cha Ralph bước xuống, đầu đội chiếc
nón rộng vành màu ghi đã bạc. Ông kéo cái chốt ra rồi đẩy cánh
cổng bực bội. Có ít nhất hai mươi bảy chiếc cổng rào như thế từ
nhà của cha Ralph ở Gillanbone đến lãnh địa Drogheda; cứ đến mỗi
cổng rào cha Ralph phải dừng xe lại bước xuống, mở cổng rồi trở
lên xe, cho xe chạy vào bên kia cổng rồi lại dừng xe lại, bước
xuống đóng cổng lại, rồi lại trở lên xe cho đến cổng kế tiếp.
Nhiều lúc ông có ý định giảm bớt phân nửa cái công việc đều đặn
mất công ấy bằng cách bỏ lại phía sau những cái cổng không được
đống lại. Nhưng dù với cương vị thầy tu khiến cho nhiều người nễ
trọng nhưng ông cũng biết rằng điều đó vẫn không ngăn cản các vị
chủ của những cổng rào sẽ buột ông trả một giá đắt cho sự cẩu
thả của mình. Cỡi ngựa thì không đi nhanh và tiện lợi bằng xe ô
tô nhưng đi ngựa lại có thể mở và đóng các cổng lại mà không cần
đặt chân xuống đất. “Tấm huy chương nào cũng có bề trái của nó”
vừa nói, tay cha Ralph vừa mân mê cái bảng chỉ dẫn tốc độ. Cái
cổng ở phía sau đã được cài chặt lại, cha cho ô tô chạy nốt cây
số cuối cùng, tiến vào chính điện của khu vực Drogheda.
Trang trại này ở úc khiến cho bất cứ ai cũng phải kính nể kể cả
một người ái Nhĩ Lan quen thấy những lâu đài và dinh thự quí
tộc. Drogheda là trang trại xưa nhất và rộng nhất trong vùng.
Ông chủ của nó, lão Michael Carson, - đã qua đời - xây một tòa
nhà rất hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, vật liệu xây dựng là
sa thạch màu vàng lấy cách đây tám cây số; kiểu kiến trúc của
tòa nhà nghiêm trang theo thế kỷ thứ 18 đời vua George đệ nhất ở
Anh với một tầng và những cửa sổ rộng chia thành ô vuông nhỏ;
một hành lang được chịu trên những cột sắt chạy dài theo tầng
trệt. Những cánh cửa sổ bằng gỗ màu đen trang điểm cho chính
diện của tòa nhà cũng có công dụng của nó: giữa cái nóng oi bức
mùa hè, các cánh cửa đóng chặt để giữ cái mát mẻ bên trong.
Hôm nay, trời vào thu, các gốc nho mọc lên cao những tua xoắn và
lá rất xanh. Nhưng vào mùa xuân, những dây đậu tía trồng vào lúc
tòa nhà vừa xây - năm mươi năm trước - kết thành một khối chắc
nịch với những chùm cây tử đinh hương, cành túa ra rậm rạp, đầy
hoa bám dài theo tường và trên mái hiên. Quanh ngôi nhà, nhiều
hecta cỏ trải rộng như một tấm thảm, được chăm sóc rất kỹ lưỡng,
rải rác đây đó là những hình khối đối xứng, dù ở mùa nào, cũng
rực rỡ màu sắc; hoa hồng, thược dược, đinh tử v. v... chen nhau.
Một cụm cây bạch đàn đẹp tuyệt màu trắng xám, với những chiếc lá
thon dài đong đưa cách mặt đất hai mươi thước, làm cho ngôi nhà
tránh được sức nóng dữ dội của mặt trời.
Ngay cả những tháp chứa nước xấu xí cũng được cái loại cây có
hoa mọc đan len nhau che kín. Nhờ say mê trang trại, Michael
Carson còn sống đã xây không biết bao nhiêu là tháp và bồn nước.
Người ta đồn rằng Drogheda có thể giữ cho các thảm cỏ và các
vườn hoa tiếp tục xanh tươi dù cho trời không mưa trong mười
năm.
Cha Ralph rời ô tô, đang băng qua bãi cỏ thì một đầy tớ gái xuất
hiện ở hiên trước nhà. Gương mặt cô ta đầy tàn nhang, cười hết
miệng.
- Chào chị Minnie - cha Ralph lên tiếng trước.
- Thưa cha, thật hoan hỉ được gặp cha vào buổi sáng đẹp này -
Tiếng của chị ta vang lên vui vẻ, pha giọng Ailen.
Một tay chị giữ cánh cửa bật mở rộng, tay ia chị đưa ra đón lấy
chiến nón cũ hình dáng không có vẻ gì là đồ dùng của một tu sĩ.
Mary Carson ngồi trên chiếc ghế bành gần cửa sổ lớn mở rộng,
dường như bà không chú ý đến cái lạnh đang tràn vào căn phòng
này. Mái tóc màu vàng hung của bà vẫn rực rỡ không kém thời trẻ
trung. Trên mặt điểm những nốt tàn nhang màu nâu vì tuổi tác,
nhưng không thể che giấu được dưới những nét nhăn. Dấu hiệu duy
nhất về bản tính bướng bỉnh của người đàn bà này ẩn chứa trong
hai đường khắc sâu hai bên mũi chạy dài xuống mép môi và trong
đôi mắt màu xanh nhợt lạnh lùng.
Cha Ralph lặng lẽ đi ngang qua tấm thảm Aubusson và hôn tay lên
bà chủ trang trại. Cử chỉ đó hoàn toàn phù hợp với tầm vóc cao
lớn, dáng dấp quí phái của vị linh mục. Hơn nữa chiếc áo dòng
màu đen giản dị còn mang lại ông cái vẻ lịch thiệp của một nhà
tụ Đôi mắt thản nhiên của bà Mary Carson bỗng sáng lên và hình
như bà cố làm duyên khi lên tiếng:
- Cha dùng chút trà nhé?
- Rất sẵn sàng, thưa bà Carson nếu trước hết bà yêu cầu được xem
lễ, ông đáp.
ông buông mình xuống chiếc ghế bành; chiếc áo dòng bị giật lên
để lộ ra ở bên trong chiếc quần cỡi ngựa mà hai ống nhét vào đôi
ủng cao đến gần đầu gối.
- Tôi có mang theo bánh thánh cho bà. nhưng nếu bà muốn xem lễ,
tôi sẵn sàng làm lễ trong vài phút. Có lẽ tôi không cần phải
nhịn ăn lâu hơn.
- Cha đã đối xử quá tối với chúng tôi, thưa cha. Bà nói với một
thái độ khá kiêu kỳ. Bà biết chính xác là linh mục này, những
như bao nhiêu linh mục khác đến với bà, không phải do lòng kính
trọng mà vì đồng tiền của bà.
- Xin mời cha dùng trà - bà nói tiếp - Tôi thấy cha làm lễ đã
đủ.
Cha Ralph cố che giấu những ác cảm của ông về người phụ nữ lớn
tuổi này. Rõ ràng, giáo khu này lý tưởng để cho ông rèn luyện
lại. Nếu có dịp thoát khỏi thờ kỳ thất sủng mà ông đã rơi vào do
tánh tình kỳ khôi của mình, thì ông sẽ không bao giờ lặp lại sai
lầm cũ. Và nếu ông biết giữ gìn các lợi thế sẵn có, bà già này
có thể thỏa mãn những ước nguyện của ông.
- Tôi phải thú thật, thưa cha, năm vừa qua là một năm đặc biệt
dễ chịu - bà ta nói. Cha là người chăn dắt được hơn cha Kelly
già rất nhiều, mong Chúa trừng phạt tâm hồn mục nát của ông ấy.
Bà nói những tiếng sau cùng giọng đanh lại, thù hằn.
- Bà Carson thân mến! Đó là một tình cảm không được nhân từ lắm.
- Có thể đúng, nhưng nó là sự thật. Ông ta chỉ là một lão già
say r+ |