|
Rừng Nauy: "Một lối cấu tứ tinh tế, nhẹ bỗng
mà mọi thứ Murakami chọn lựa để mô tả đều run rẩy với những chiều
hướng tượng trưng: một cái áo sơ mi trong dàn máy giặt công cộng,
một sợi giấy bị cắt ĺa, một cái xược tóc h́nh bướm...Trong tất cả
vẻ u ám siêu h́nh của nó, Rừng Nauy vẫn hấp dẫn ta với sự hài hước
đáng mến" - Steven Poole, The Guardian.
Lời người dịch
Mối t́nh sâu sắc nhất của bạn có gắn liền với
một bài hát nào không? Một cảnh trí nào không? Như một căn pḥng
trong đêm mưa mùa hạ? Một chiều thu ngoài b́a rừng hoang vắng? Rừng
Na-uy là tên một bài hát của nhóm nhạc Beatles nổi tiếng. Lời cả có
những câu "Tôi từng có một cô gái, mà có lẽ đúng hơn là cô ấy đă
từng có tôi… Cô dẫn tôi vào pḥng và bảo tôi ngồi đâu cũng được,
nhưng tôi thấy chẳng có chiếc ghế nào… Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một
ḿnh, con chim ấy đă bay đi rồi…" Giai điệu và cấu trúc bài hát rất
giản dị. Những sự kiện làm biến đổi cả cuộc đời ta thường gắn liền
với những cái ngẫu nhiên giản dị. Kư ức khi đă trưởng thành thường
cũng chỉ xúc động v́ những điều giản dị. Và Rừng Na-uy là một câu
chuyện t́nh yêu giản dị.
Giản dị như sự thật.
Như bốn mùa.
Như Sống Chết.
Như đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đă
viết về con tim biết yêu: "Cái giàu cái nghèo của nó là vô biên,
niềm vui nỗi buồn của nó là trường cửu." Cái giản dị của Rừng Na-uy
là cái giản dị chỉ có được khi người viết đă vượt lên hết những làm
dáng có bản chất kĩ thuật vốn rất khó tránh trong sáng tác để chỉ
bồi hồi kể lại những ǵ đang tuôn trào từ sâu thẳm cơi ḷng ḿnh.
Rừng Na-uy không lăng mạn. Nó không lí tưởng
hoá và do vậy không bị lừa mị bởi chính những lí tưởng ấy của ḿnh.
Nó dũng mănh như mũi tên vừa bay ra khỏi cánh cung. Thẳng từ cơi
ḷng bộc trực và chân xác của kiếp người. Đọc lời thoại trong Rừng
Na-uy, tôi chỉ mong ḿnh cũng nói được như thế với người ḿnh yêu
mến. Bị lôi cuốn theo những ư nghĩ và xúc cảm trong Rừng Na-uy, tôi
cũng chỉ mong ḿnh dám nghĩ được thành lời những ǵ vẫn cuộn tṛn
trong ḷng ḿnh như vậy. Đọc Rừng Na-uy, tôi chợt nhớ ra rằng h́nh
như ḿnh đă chỉ quen lừa mị bản thân, lừa mị người khác, để bôi trơn
mọi mối quan hệ xă hội vốn chỉ xoay quanh và bị chi phối bởi tiền
bạc, quyền lợi, danh vọng… H́nh như tôi đă quên mất, hoặc đă luôn có
ư thức đè nén tất cả những ǵ gọi là tự nhiên và cao cả của chính
ḿnh, h́nh như tất cả những "người bạn", "người yêu" kia chẳng phải
vậy chút nào, v́ đă có bao giờ tôi dám nói thẳng ḷng ḿnh với họ và
biết chắc rằng họ cũng đă nói thẳng ḷng họ với ḿnh. H́nh như tôi
cũng đă chẳng phải là ḿnh, v́ đă khi nào tôi thực sự dám nh́n nhận
những khiếm khuyết méo mó của ḿnh, có ư thức công nhận chúng và
biết vui với chúng, cũng như công nhận và vui với những khiếm khuyết
của mọi người.
Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con
người hấp hối, lời nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới
cứu văn được loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc
Rừng Na-uy, tôi thấm thía được một chân lí giản đơn, rằng "sự chết
không là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự sống". Sống,
tức là nuôi dưỡng Chết. Sự chết không phải là chấm dứt, cũng chẳng
phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được chính sự sống nuôi dưỡng.
Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật
trung thực trong trắng và dũng cảm trong Rừng Na-uy mới tự kết liễu
cuộc đời ḿnh. Họ c̣n quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc
đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng. Và tôi
cũng hiểu tại sao nhiều nhà văn lớn của Nhật Bản như Osamu Dazai và
Yasunari Kawabata cũng đă chọn cái chết để khỏi phải chứng kiến cái
đẹp và cái cao cả đang bị thời cuộc làm nhục.
Cuộc khủng hoảng của thế hệ trẻ Nhật Bản cuối
thập kỷ 1960 trong Rừng Na-uy không phải chỉ là sự đớn đau của linh
hồn và thân xác đang phải vượt ngưỡng ngây thơ, mà c̣n là sự thất
vọng lớn lao trước những biến đổi ngu xuẩn của thờỉ cuộc: phép lạ
kinh tế của một đế quốc quân chủ thất trận đang khiến cho ḷng tin
mù quáng vào Thiên Hoàng bị thay thế bởi tín ngưỡng có tính toán vào
sức mạnh của đồng tiền và những ước lệ xă hội kèm theo.
Tôi đọc Rừng Na-uy và nhớ đến Hemingway, Paul
Bowls, Kerouac… đến những thế hệ trí thức trẻ tuổi Âu Mỹ sau hai
cuộc thế chiến vẫn được gọi là The lost generations - những thế hệ
bị tha hoá với chính sự thắng thế và hưng thịnh vật chất của phương
Tây, không t́m thấy chỗ đứng của ḿnh trong chốn phồn thực hănh tiến
ấy. Tôi nhớ đến Kundera và cái nhẹ bỗng không thể chịu đựng nổi của
kiếp người trong ṿng xoáy của những cuộc đổi thay bạo lực. Và tôi
cũng nhớ đến câu nói của Alexei Tolstoi: "Những cuộc chiến tranh rồi
sẽ chấm dứt, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và sẽ chỉ c̣n
lại măi măi tấm ḷng dịu dàng và êm ái của em."
Trong Rừng Na-uy, thân xác là nơi trú ngụ và
phương tiện biểu cảm tự nhiên nhất của t́nh yêu. Không những hoàn
toàn không phải là một "dâm thư", mà ngược lại, Rừng Na-uy là cuốn
tiểu thuyết bắt người đọc phải nhận thức được sự ngu xuẩn của mọi
thứ dâm tính trong thị trường văn chương, phim ảnh, và trong chính ư
nghĩ của con người. Rừng Na-uy chinh phục được độc giả toàn thế giới
v́ nó đă giúp giới trẻ (và cả những người không c̣n trẻ nữa) nhận ra
cái cao cả theo nghĩa triết học và tự nhiên của t́nh yêu. Cái cao cả
không c̣n núp bóng lí tưởng và lăng mạn, mà công khai trực tiếp
trong tấm ḷng trung thực dũng mănh của tuổi trẻ.
Đọc Rừng Na-uy rồi, tôi chắc bạn sẽ nghĩ
nhiều về bản thân ḿnh. Về người ḿnh yêu. Về bạn bè. Về bố mẹ anh
chị em trong nhà. Bạn sẽ nghĩ, và sẽ nhớ đến lời những nhân vật
trong Rừng Na-uy, và thực sự cảm thấy sung sướng v́ máu nóng đang
chảy trong huyết quản bạn, v́ bạn đang sống, v́ t́nh yêu là có thực.
Và bạn sẽ muốn chạy đến với người ḿnh yêu mến nhất để nói rằng bạn
hỡi, chúng ta hăy trung thực với nhau, cùng làm quen và chấp nhận
những bất toàn của nhau, v́ chỉ có vậy chúng ta mới có thể t́m thấy
b́nh yên và hạnh phúc.
Nhân vật chính trong Rừng Na-uy tên là Toru
Wantanabe.
Tôi đă thấy cái tên Toru và Watanabe này ở
vài tác phẩm khác của Murakami. Tự nhiên tôi giật ḿnh: Murakami
tuổi Kỷ Sửu, mà trong tử vi Tây Phương th́ tuổi Sửu là Taurus - vị
thần ḅ dũng mănh đầy nhục cảm trong thần thoại Hy Lạp mà tôi vẫn
bắt gặp trong tranh vẽ của Picasso. Toru phải chăng là một biến âm
dí dỏm của Taurus theo lối Murakami? (Rừng Na-uy dí dỏm lắm, bạn cứ
đọc mà xem).
Và Watanabe phải chăng là âm thanh vọng lại
từ mấy từ tiếng Anh: "Want to be" - muốn được tồn tại, muốn sống,
muốn thành được như thế? Có lẽ sự chân thực và t́nh yêu dũng mănh
của nhân vật Toru Watanabe đối với cả bản ngă và tha nhân trong Rừng
Na-uy cũng chính là mơ ước của tác giả. Thế mới thật là tiểu thuyết!
Đọc Rừng Na-uy rồi, tự nhiên ta thấy ḿnh tự nhủ rằng nào, hăy mạnh
mẽ lên như thần ḅ huyền thoại, và hăy biết "want to be". Ấy là một
vài xúc cảm riêng tư của tôi khi đọc và dịch Rừng Na-uy.
C̣n bạn, cuộc đời của bạn là cả một cơi riêng
tư khác biệt, và bạn sẽ c̣n t́m được nhiều cái hay cái lạ nữa khi
đọc Rừng Na-uy. Từng nghĩa trong tiểu thuyết cũng như xiêm y mỹ
nhân, lớp lang của nó hấp dẫn đến đâu là tuỳ ở ḷng người lần mở, và
khi ta tưởng đă đến nơi th́ hoá ra mới chỉ là bắt đầu. Cái duyên của
Murakami là ông động được đến tơ ḷng sâu kín của tất cả mọi người.
Mong rằng những ân hưởng văn chương và cuộc đời mà tôi đă nhận được
từ ông vẫn nguyên vẹn trong từng con chữ Việt mà tôi đă lựa chọn để
kể lại Rừng Na-uy cho bạn nghe với tấm ḷng bồi hồi trân trọng của
ḿnh.
TRlNH LỮ
Chương 1
Lúc ấy tôi đă ba mươi bảy tuổi, đang ngồi thắt chặt dây an toàn
khi chiếc 747 kềnh càng nhào xuống qua tầng mây dày dặc về phía
sân bay Hamburg. Những trận mưa tháng Mười một lạnh lẽo thấm đâm
mặt đất, khiến mọi vật ảm đạm như trong một bức tranh phong cảnh
Hà Lan ngày xưa: đám nhân viên mặt đất trùm áo mưa, mẳnh cờ u rũ
trên nóc một toà nhà vuông vức trong sân bay, một tấm biển quảng
cáo xe BMW. Chao ôi, lại nước Đức đây rồi.
Khi máy bay đang lăn bánh trên mặt đất,
tiếng nhạc nhè nhẹ bắt đầu trôi ra từ hệ thống loa trên trần:
một bản hoà tấu không lời ca khúc "Rừng Na-uy" của nhóm Beatles.
Giai điệu ấy bao giờ cũng khiến toàn thân tôi run rẩy, nhưng lần
này, nó làm tôi choáng váng hơn bao giờ hết.
Tôi cúi xuống, hai tay ôm mặt, cố giữ cho
đầu ḿnh khỏi nứt ra. Chẳng mấy chốc một chiêu đăi viên người
Đức đến hỏi bằng tiếng Anh xem tôi có sao không.
"Không sao," tôi nói, "tôi chỉ hơi chóng
mặt."
"Ông chắc vậy không?"
"Vâng, chỉ vậy thôi. Cám ơn cô."
Cô ta mỉm cười bỏ đi, và âm nhạc chuyển
sang một điệu hát của Billy Joel. Tôi ngồi thẳng lên và nh́n qua
cửa sổ về phía những đám mây đen đang lơ lửng trên Biển Bắc,
nghĩ đến những mất mát trong cuộc đời ḿnh: những thời đă qua
không bao giờ trở lại, những bạn bè đă chết hoặc biệt vô âm tín,
những cảm xúc măi măi không c̣n nữa.
Máy bay đă đến cửa lên xuống. Người ta
bắt đầu tháo dây an toàn và kéo hành lư xuống từ khoang trên ghế
ngồi, trong khi đó tôi chỉ thấy ḿnh ngoài đồng cỏ. Tôi ngửi
thấy cả mùi cỏ, cảm thấy gió mơn man trên mặt, nghe thấy tiếng
chim kêu. Mùa thu 1969, lúc ấy tôi sắp hai mươi.
Cô chiêu đăi viên trở lại. Lần này th́ cô
ngồi xuống cạnh tôi và hỏi xem tôi có ổn cả không.
"Tôi không sao, cám ơn cô, "tôi nói và
mỉm cười. "Chỉ thấy hơi bâng khuâng vậy thôi."
"Tôi hiểu chuyện đó," cô nói. "Tôi cũng
thế, lâu lâu lại bị một lần."
Cô đứng lên và mỉm cười với tôi, vẻ thật
đáng yêu.
"Vậy nhé, xin chúc ông một chuyến đi tốt
đẹp. Auf Wiedersehen"
"Auf Wiederseben." (Tạm biệt - tiếng Đức)
Mười tám năm đă trôi qua, nhưng tôi vẫn
có thể nhớ lại từng chi tiết của ngày hôm đó trên đồng cỏ. Được
tắm rửa sạch sẽ bởi những ngày mưa nhẹ nhàng mùa hạ, những rặng
núi xanh thăm như rơ ràng hăn lên. Làn gió nhẹ tháng Mười thổi
đung đưa những ngọn cỏ trắng cao lút đầu người. Một dải mây dài
lửng lơ vắt ngang ṿm trời xanh im phăng phắc. Chỉ nh́n bầu trời
thăm thăm ấy thôi cũng đă thấy nao núng cả cơi ḷng. Một cơn gió
ào qua đồng cỏ, qua mái tóc nàng, rồi lẻn vào rừng khiến cây lá
xào xạc và gửi lại những âm dội ngắn của tiếng chó sủa ở rất xa
- một âm thanh lung linh mờ ảo có vẻ đă vọng đến chúng tôi từ
ngưỡng cửa của một thế giới khác. Chúng tôi không gặp ai. Chỉ
thấy hai con chim màu đỏ giật ḿnh nhảy lên từ giữa đồng có và
bay vụt vào rừng. Trong khi chúng tôi lững thững bên nhau, Naoko
nói với tôi về những cái giếng.
Kư ức thật ngộ. Khi c̣n ở trong cảnh thực
th́ tôi chẳng đề ư ǵ đến nó. Không bao giờ tôi nghĩ đến nó như
một cái ǵ đó sẽ để lại một ấn tượng lâu dài, và chắc chắn là
không thể tưởng tượng rằng mười tám năm sau tôi sẽ nhớ lại nó
đến từng chi tiết. Ngày hôm đó tôi không quan tâm ǵ đến cảnh
vật xung quanh. Tôi c̣n nghĩ đến bản thân ḿnh, đến cô gái đẹp
đang sánh bước với ḿnh. Tôi đang nghĩ đến chuyện hai đứa với
nhau, rồi lại đến bản thân ḿnh. Tôi vẫn c̣n ở cái tuổi, ở cái
đoạn của cuộc đời khi mọi cảnh trí, mọi cảm xúc, mọi ư nghĩ đều
chỉ quay về chính bản thân ḿnh như một chiếc boomerang.
Và tệ hơn nữa, tôi đang yêu. Mối t́nh đầy
khúc mắc. Đầu óc tôi không thể để ư đến cảnh vật xung quanh
được.
Ấy vậy mà giờ đây cái đầu tiên trở lại
với tôi lại là cảnh trí đồng cỏ ngày hôm đó. Mùi cỏ, cảm giác
hơi giá lạnh của ngọn gió, đường viền của những dải đồi, tiếng
sủa của một con chó: đó là những thứ đầu tiên, và chúng hiện ra
cực ḱ rơ ràng, tưởng như tôi có thể giơ tay ra và vuốt ve
chúng. Thế nhưng, cho dù cảnh trí có rơ ràng đến mấy, vẫn không
có ai trong đó cả. Không ai hết. Naoko không có ở đó, và cả tôi
cũng vậy. Chúng tôi có thể biến đi đâu được chứ? Làm sao chuyện
đó có thể xảy ra được?
Tất cả những ǵ ngày đó c̣n có vẻ quan
trọng - Naoko, cái bản ngă tôi có lúc bấy giờ, và cái thế giới
tôi có lúc ấy: chúng có thế biến đi đâu được chứ? Thật sự là
ngay cả gương mặt nàng tôi cũng không thể nhớ lại được - không
ngay lập tức, ít nhất là thế. Tôi chỉ c̣n nắm giữ được một cái
phông, đơn thuần cảnh trí, không có một người nào ở cận cảnh
hết.
Nói thật là nếu có thời gian, tôi vẫn có
thể nhớ lại gương mặt nàng. Tôi phải chắp nối các h́nh ảnh vào
với nhau - bàn tay lạnh tí xíu của nàng; mái tóc đen và duỗi
thẳng của nàng, sờ vào thật mịn và thật mát; một cái thuỳ châu
tṛn trịa mềm mại và một nốt ruồi bé tí tẹo ngay bên dưới; chiếc
áo khoác lông lạc đà nàng mặc mùa đông; thói quen nh́n thẳng vào
mắt tôi mỗi khi nàng hỏi; giọng nói thỉnh thoầng lại hơi run run
của nàng (như thể nàng đang nói trên một đỉnh đồi lộng gió) - và
rồi gương mặt nàng bỗng ở đó, lúc nào cũng bắt đầu trong tư thế
nh́n nghiêng, v́ Naoko với tôi luôn có lối sánh bước bên nhau.
Rồi nàng sẽ quay sang tôi, mỉm cười, hơi nghiêng đầu một chút,
bắt đầu nói, và nh́n sâu vào mắt tôi như đang cố dơi theo một
con cá nhỏ vừa bơi vụt qua một vùng nước của một con suối trong
vắt.
Dù sao, nhớ lại gương mặt Naoko là một
việc mất thời gian. Và khi năm tháng cứ qua đi, quăng thời gian
ấy cứ kéo dài măi ra. Sự thật đáng buồn là cái mà tôi có thể nhớ
lại được trong năm giây chẳng mấy chốc đă phải mất mười, rồi ba
mươi giây, rồi trọn cả một phút - giống như bóng đổ cứ dài măi
ra cùng hoàng hôn vậy. Sẽ đến ngày, tôi nghĩ vậy, những bóng đổ
ấy sẽ bị màn đêm nuốt chửng hết. Không có cách ǵ khác: kí ức
tôi đang ngày càng xa cách cái điểm mà Naoko thường đứng - nơi
cái bản ngă xưa cũ của tôi cũng thường ở đó. Và chỉ c̣n có cảnh
trí, cái cảnh đồng cỏ tháng Mười ấy, là c̣n trơ lại với tôi, lần
này qua lần khác, như khuôn h́nh tiêu biểu của một bộ phim. Mỗi
lần xuất hiện, nó lại kích dộng một chỗ nào đó trong tâm trí
tôi. Tỉnh dậy đi, nó nói, tôi vẫn ở đây mà. Hăy tỉnh dậy và suy
nghĩ: Hăy nghĩ xem tại sao tôi vẫn ở đây. Những kích động ấy
không bao giờ làm tôi đau đớn. Không có tí đau đớn nào. Chỉ có
một âm thanh trống rỗng vọng lại tử mỗi lần kích động ấy. Và
thậm chí cả cái đó nữa cũng sẽ phôi pha một ngày nào đó. Nhưng ở
sân bay Hamburg, những kích động ấy lại mạnh hơn và lâu hơn
thường lệ. Và đó chính là lư do tại sao tôi viết cuốn sách này.
Để suy nghĩ. Để hiểu. Chẳng qua là cái tạng tôi nó thế. Tôi phải
viết hết mọi thứ ra giấy để cảm thấy rằng ḿnh thực thấu hiểu
chúng.
Bây giờ, hay xem hôm đó Naoko đang nói
những chuyện ǵ?
Phải rồi, chuyện "giếng đồng". Tôi chịu
không thể biết liệu có một cái giếng như thế hay không. Có thể
nó là một h́nh ảnh hoặc một dấu hiệu chỉ tồn tại trong con người
Naoko, cũng như mọi thứ khác mà nàng thường thêu dệt thành sự
thật trong tâm trí ḿnh trong suốt những tháng ngày đen tối ấy.
Vậy mà một khi nàng đă tả nó cho tôi nghe, tôi không thể nghĩ
đến cảnh trí đồng có ấy mà không có cái giếng. Từ ngày ấy trở
đi, h́nh ảnh của một thứ mà tôi chưa bao giờ nh́n thấy đă hoà
quyện khăng khít với cảnh trí thực của cánh đồng nằm ngay trước
mắt tôi. Tôi có thể mô tả cái giếng đến từng chi tiết nhỏ. Nó
nằm ngay ở nơi đồng cỏ kết thúc và rừng cây bắt đầu một lỗ mở
đen ng̣m vào ḷng đất, đường kính tới một thước, cỏ mọc che đầy.
Chẳng có ǵ đánh dấu chu vi của nó - không hàng rào, không thành
giếng bằng đá (ít nhất là không có thành xây cao lên khỏi mặt
đất). Nó chỉ là một cái lỗ, một cái miệng rộng ngoác. Những
phiến đá quanh miệng giếng đă bị thời gian bào ṃn, ngả một màu
trắng nhem nhuốc lạ lùng. Chúng nứt nẻ, vỡ nát, và một con thằn
lằn nhỏ xanh lét vừa trườn vào một kẽ nứt sâu hoắm. Ta có thể
nghiêng người bên mép giếng và nh́n xuống để chẳng thấy ǵ hết.
Điều duy nhất tôi biết về cái giếng là nó sâu khủng khiếp. Nó
sâu đến độ không thể đo được, và đầy chặt bóng tối, như thể toàn
bộ bóng tối của thế giới đă được nấu chảy và lèn vào đó đến tận
cùng đậm đặc của chúng.
"Nó sâu lắm, thực vậy," Naoko nói, cẩn
thận lựa từng lời. Đôi khi nàng nói kiểu đó, chậm hẳn lại để t́m
từng lời chính xác ḿnh cần. "Nhưng không ai biết nó ở đâu,"
nàng nói tiếp. "Ḿnh chỉ biết chắc một điều là nó ở đâu đó quanh
đây."
Hai tay đút sâu trong túi áo chen bằng
vải tuưt, nàng mỉm cười với tôi như có ư "nói thật đấy!"
"Nếu vậy th́ nguy hiểm vô cùng." tôi nói.
"Một cái giếng sâu, nhưng không ai biết nó ở đâu. Ta có thể ngă
vào nó và thế là hết đời."
"Hết đời. Aaaaaaaaaaaaa! Tũm một cái. Hết
chuyện!"
"Chuyện ấy chắc phải xảy ra rồi."
"Đúng thế, lâu lâu lại có một lần. Có thể hai
hoặc ba năm một lần. Tự nhiên có người biến mất, và không thể t́m
thấy ông ta. Và lúc ấy mọi người ở quanh đây lại bảo "Ồ, ông ấy ngă
xuống giếng đồng rồi."
"Chết như thế thật chẳng ra sao cả," tôi nói.
"Đúng vậy, chết thế thật khủng khiếp," Naoko
nói, tay phủi một đám hạt cỏ vương trên áo. "Tốt nhất là ḿnh gẫy cổ
luôn, nhưng có thể ḿnh lại chỉ gẫy chân và không xoay xở ǵ được.
Ḿnh kêu đến rách phổi nhưng không ai nghe thấy, và không thể hy
vọng sẽ có ai t́m thấy ḿnh, rồi bọn nhện và rết sẽ ḅ lên khắp
người ḿnh, xương của những nạn nhân trước lủng củng khắp xung
quanh, rồi th́ tối ṃ và ướt lạnh, và măi tít trên đầu là cái chấm
sáng tí ti như một mảnh trăng mùa đông.
Ḿnh chết trong đó, ở ngay đâu đây, dần dà tí
một, chỉ có một ḿnh."
"Khiếp! Chỉ nghĩ đến chuyện ấy thôi là ḿnh
đă nổi da gà rồi," tôi nói. "Phải có ai t́m ra được cái của đó và
xây một bửc tường xung quanh nó."
"Nhưng không ai có thể t́m được nó. Tốt nhất
là cậu đừng rời khỏi lối ṃn."
"Yên trí, ḿnh không làm thế đâu."
Naoko rút bàn tay trái ra khỏi túi áo và nắm
chặt lấy tay tôi. "Cậu đừng lo," nàng nói. "Cậu sẽ ổn thôi. Cậu có
thể chạy khắp quanh đây lúc nửa đêm mà cũng không bao giờ ngă xuống
cái giếng đó. Cả ḿnh nữa, ḿnh sẽ không ngă xuống giếng chừng nào
ḿnh c̣n ở bên cậu."
"Không bao giờ ư?"
"Không bao giờ!"
"Sao cậu chắc vậy?"
"Ḿnh biết vậy thôi," nàng nói, siết chặt tay
tôi hơn và im lặng bước bên tôi. "Ḿnh biết những chuyện đó. Ḿnh
luôn luôn đúng. Nó chẳng liên quan ǵ đến logic cả, ḿnh chỉ cảm
thấy như thế thôi. Ví dụ nhé, khi ḿnh thực sự gần gụi cậu như thế
này, ḿnh không sợ một tí ǵ hết. Chẳng có ǵ đen tối hoặc xấu xa có
thể cám dỗ được ḿnh."
"Vậy th́ đó là giải pháp rồi," tôi nói. "Cậu
chỉ cần luôn luôn ở bên cạnh ḿnh như thế này thôi."
"Cậu nói thật đấy chứ?"
"Tất nhiên rồi."
Naoko đứng dừng lại. Tôi cũng vậy. Nàng đặt
hai tay lên vai tôi và nh́n vào mắt tôi. Sâu trong hai đồng tử nàng
có một chất lỏng đen đặc đang xoáy tṛn như một luồng gió xoáy lạ
kỳ. Cặp mắt đẹp đẽ của nàng nh́n sâu măi vào tôi một lúc lâu, rất
lâu. Rồi nàng kiêng chân hết cớ và chạm má nàng vào má tôi. Cở chỉ
ấm áp ḱ diệu ấy khiến con tim tôi ngừng đập trong khoảnh khắc.
"Cám ơn cậu."
"Không dám," tôi đáp.
"Ḿnh thật hạnh phúc v́ cậu đă nói thế. Thật
sự hạnh phúc," nàng nói với một nụ cười buồn rầu.
"Nhưng không thể được."
"Không thể được ư? Tại sao?"
"Chuyện đó sẽ không phải. Nó sẽ khủng khiếp
lắm. Nó…"
Naoko bỗng ngậm miệng và lại bắt đầu bước đi.
Tôi có thể thấy đủ mọi ư nghĩ đang quay cuồng trong đầu nàng, và
thay v́ chen vào chúng, tôi chỉ giữ im lặng và sánh bước với nàng.
"Nó sẽ không phải - không phải với cậu, không
phải với ḿnh," nàng nói sau một hồi lâu lặng lẽ.
"Không phải thế nào chứ?" tôi th́ thầm.
"Cậu không thấy sao? Không thể có chuyện một
người cứ canh chừng một người khác măi măi và măi măi. Ḿnh muốn nói
là, giả dụ chúng ḿnh lấy nhau. Cậu sẽ phải đi làm hàng ngày. Ai sẽ
canh chừng ḿnh khi cậu đi làm? Liệu ḿnh có thể dính chặt với cậu
từng phút từng giây trong suốt cả cuộc đời chúng ta chăng? B́nh đẳng
ǵ mà như vậy? Thứ quan hệ ǵ đây? Chẳng chóng th́ chầy cậu sẽ phát
ốm v́ ḿnh. Cậu sẽ tự hỏi cậu đang làm ǵ với cuộc đời của cậu, tại
sao cậu phải dành hết thời gian của cậu để canh chừng người đàn bà
này. Ḿnh sẽ không thể chịu được chuyện đó. Nó không thể giải quyết
được bất ḱ vấn đề nào của ḿnh."
"Nhưng đến lúc ấy những vấn đề của cậu sẽ
không c̣n nữa cơ mà?" tôi nói, tay vỗ nhẹ vào lưng nàng. "Cuối cùng
chúng sẽ kết thúc. Và khi đó, chúng ta sẽ cùng nghĩ đến chuyện tiếp
theo. Có khi cậu lại phải giúp ḿnh th́ sao. Chúng ta không sống
theo nguyên tắc kế toán tài chính. Nếu cậu cần ḿnh, hăy cứ sử dụng
ḿnh. Cậu hiểu không? Tại sao cậu phải cứng nhắc thế? Cậu hăy thoải
mái đi nào, đừng cảnh giác nữa. Cậu căng thẳng quá nên lúc nào cũng
chỉ sợ gặp chuyện tồi tệ. Thả lỏng người đi, và mọi thứ khác của cậu
sẽ nhẹ nhàng hơn."
"Làm sao cậu có thể nói vậy được?" nàng hỏi
với giọng đă cạn kiệt cảm xúc.
Giọng nói của Naoko đánh động rằng có thể tôi
đă lỡ lời điều ǵ đó.
"Thử nói xem, làm sao cậu có thể nói như vậy
được chứ," nàng nói, trân trối nh́n xuống mặt đất dưới chân ḿnh.
"Cậu chẳng nói được điều ǵ mà ḿnh chưa biết. "Thả lỏng người đi,
và mọi thứ khác của cậu sẽ nhẹ nhàng hơn." Nói thế với ḿnh th́ có
nghĩa ǵ? Nếu ḿnh thả lỏng thân xác ḿnh bây giờ, ḿnh sẽ tan ră.
Ḿnh đă luôn sống như thế này, và đó là cách sống duy nhất mà ḿnh
biết. Nếu ḿnh thả lỏng trong một giây, ḿnh sẽ không thể t́m được
đường về. Ḿnh sẽ tan thành từng mảnh, và những mảnh ấy sẽ bị thổi
tung đi khắp nơi. Tại sao cậu không thấy được điều đó? Làm sao cậu
có thể nói đến chuyện canh chừng cho ḿnh nếu như cậu không thể thấy
được điều đó?"
Tôi nín lặng.
"Ḿnh hoang mang. Thực sự hoang mang. Và
chuyện đó sâu sắc hơn cậu tưởng rất nhiều. Sâu hơn… đen tối hơn…
lạnh lẽo hơn. Nhưng cậu hăy nói xem, làm sao mà cậu lại có thể ngủ
với ḿnh lần ấy? Làm sao cậu có thể làm một chuyện như vậy được? Tại
sao cậu lại không để cho ḿnh được yên thân một ḿnh?"
Bấy giờ chúng tôi đă đang bước đi trong cái
yên ắng đáng sợ của một khu rừng thông. Xác những con ve đă chết khô
từ dạo cuối hè rải rác khắp trên mặt lối đi, lạo xạo dưới gót giày.
Như thể t́m kiếm một thứ ǵ mà chúng tôi đă đánh mất, Naoko và tôi
tiếp tục chậm răi bước theo lối ṃn.
"Ḿnh xin lỗi," nàng nói, nắm lấy tay tôi và
lắc đầu. "Ḿnh không định hành hạ cậu. Hăy cố đừng để những ǵ ḿnh
nói làm cậu phiền ḷng. Ḿnh xin lỗi, thực ḷng xin lỗi. Ḿnh chỉ
giận dữ với bản thân mà thôi."
"Có lẽ ḿnh chưa thực hiểu cậu," tôi nói.
"Ḿnh không được thông minh lắm đâu. Chuyện ǵ cũng phải lâu lâu
ḿnh mới hiểu ra. Nhưng nếu ḿnh thực sự có thời gian, ḿnh sẽ hiểu
cậu bằng được - hơn bất ḱ ai khác trên thế gian này."
Chúng tôi dừng bước và đứng trong khu rừng
yên ắng, lắng nghe. Tôi dùng múi giày nghịch những quả thông và xác
ve sầu, rồi ngẩng nh́n những mảnh trời qua ṿm lá thông. Hai tay đút
túi, Naoko đứng đó và suy nghĩ, mắt không nh́n vào đâu cụ thể.
"Hăy nói xem, Toru", nàng lên tiếng. "Cậu có
yêu ḿnh không?"
"Cậu biết là ḿnh yêu cậu mà."
"Vậy cậu có thể giúp ḿnh hai việc không?"
"Xin thưa, quí cô có thể có những ba điều ước
kia!"
Naoko mỉm cười và lắc đầu. "Không, hai là đủ
rồi. Một là cậu hăy biết rằng ḿnh rất biết ơn cậu đă đến tận đây
thăm ḿnh. Ḿnh hy vọng cậu sẽ hiểu là cậu đă làm cho ḿnh hạnh phúc
biết bao nhiêu. Ḿnh biết rằng nếu có cái ǵ có thể cứu được ḿnh,
th́ chính là niềm hạnh phúc này đây. Có thể ḿnh không biểu lộ được
điều đó, nhưng thật là như vậy đấy."
"Ḿnh sẽ đến thăm cậu nữa mà," tôi nói. "Thế
c̣n điều ước thứ hai?"
"Ḿnh muốn cậu luôn luôn nhớ đến ḿnh. Cậu sẽ
nhớ rằng ḿnh đă tồn tại, rằng ḿnh đă đứng cạnh cậu ở đây như thế
này chứ?"
"Lúc nào cũng vậy," tôi nói. "Ḿnh sẽ luôn
luôn nhớ."
Nàng bước đi và không nói ǵ nữa. Những tia
sáng mùa thu xiên qua cành lá nhảy nhót trên vai áo nàng. Một con
chó lại cất tiếng sủa, nghe gần hơn trước. Naoko trèo lên một g̣
nhỏ, bước ra khỏi khu rừng và đi vội xuểng một triền dốc thoai
thoai. Tôi theo nàng cách hai ba bước chân.
"Lại đây nào," tôi gọi sau lưng nàng. "Cái
giếng có thể ở đâu đó quanh đây." Naoko dừng lại và mỉm cười, rồi
cầm lấy tay tôi. Chúng tôi đi nốt quăng đường, vai kề vai.
"Cậu thực sự hứa là sẽ không quên ḿnh chứ?"
nàng hồi gần như th́ thầm.
"Ḿnh sẽ không bao giờ quên cậu," tôi nói.
"Không bao giờ ḿnh có thể quên cậu."
Vậy mà kư ức tôi đă ngày càng mờ nhạt đi, và
tôi đă quên nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi
thường có những cơn sợ hăi đến thắt ḷng. Nếu tôi đă quên mất điều
quan trọng nhất th́ sao? Chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi
có một bến lú tối tăm nơi tất cả những kư ức thực sự quan trọng bị
chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?
Cho dù có như vậy đi nữa, đó là tất cả những
ǵ tôi có. Gh́ chặt những kư ức không hoàn hảo, đang lu mờ và đă
phôi pha ấy trên ngực, tôi tiếp tục viết cuốn sách này với toàn bộ
sức căng tuyệt vọng của một người chết đói đang mút từng mẩu xương
nhặt được. Đó là cách duy nhất tôi biết để giữ lời hứa với Naoko.
Một lần, lâu lắm rồi, khi tôi c̣n trẻ, khi kư
ức tôi c̣n sống động hơn giờ đây rất nhiều, tôi thường cố viết về
nàng. Nhưng tôi không thể viết được một ḍng nào.
Tôi biết rằng nếu cái ḍng đầu tiên ấy mà
xong, phần c̣n lại sẽ tự nó trào ra mặt giấy, nhưng tôi không thể
làm được điều đó. Mọi thứ c̣n quá sắc nét và rơ ràng, đến nỗi tôi
không biết phải bắt đầu từ đâu - kiểu như một tấm bản đồ có quá
nhiều chỉ dẫn đôi khi lại thành vô dụng.
Nhưng giờ đây, tôi hiểu rằng tất cả những ǵ
ḿnh có thể chất lên con thuyền chữ nghĩa không hoàn hảo này chỉ là
những kư ức không hoàn hảo và những ư nghĩ không hoàn hảo. Những kư
ức về Naoko càng lu mờ trong tôi th́ tôi lại càng hiểu nàng sâu sắc
hơn. Tôi cũng đă biết tại sao nàng xin tôi đừng quên nàng. Bản thân
Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết rằng kư ức của tôi về
nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng xin tôi đừng bao giờ quên
nàng, hăy nhớ rằng nàng đă từng tồn tại.
Ư nghĩ ấy xâm chiếm tôi với một nỗi đau tưởng
chừng như không thể chịu đựng nổi. Bởi lẽ Naoko chưa từng yêu tôi
bao giờ.
Chương 2
Đă có
một thời, nhiều năm trước đây - đúng ra là hai mươi năm trước đây -
tôi đă sống trong một khu học xá. Tôi mười tám tuổi và là sinh viên
năm thứ nhất. Tôi mới đến Tokyo và chưa sống một ḿnh bao giờ nên
cha mẹ tôi rất lo, và họ thu xếp cho tôi ở trong một khu học xá tư
nhân chứ không thuê một căn pḥng riêng cho tôi như hầu hết các sinh
viên khác. Khu học xá phục vụ cả ăn uống và nhiều tiện nghi khác nên
có thể sẽ giúp đứa con mười tám tuổi đầu c̣n lớ ngớ của họ sống sót
được. Và c̣n cả chuyện chi phí nữa. Ở khu học xá rẻ hơn nhiều so với
thuê pḥng riêng. Chỉ cần chăn chiếu và một cái đèn thôi là đủ,
không phải mua thêm đồ đạc ǵ nhiều. Riêng tôi vẫn muốn thuê một căn
hộ và sống thoải mái một ḿnh, nhưng biết rằng cha mẹ c̣n phải trả
tiền học và các thứ lệ phí khác cho cái trường đại học tư mà ḿnh đă
đỗ vào, nên tôi không dám đ̣i hỏi ǵ thêm. Ngoài ra, thực t́nh tôi
cũng chẳng mấy quan tâm đến nơi ăn chốn ở của ḿnh.
Nằm trên một quả đồi ở trung tâm thành phố
với tầm nh́n rộng răi, khu học xá có một khuôn viên vuông vức và có
tường bê-tông bao quanh. Một cái cây zelkova (Một loài cây thay lá,
lá dài mép răng cưa và hoa nhỏ màu xanh, thuỷ tổ ở Trung Quốc, Nhật
Bản và vùng núi Caucasus ở Nga - ND) khổng lồ cao vút mọc ngay ở sau
chỗ cổng trước. Người ta nói nó đă một trăm năm mươi tuổi là ít.
Đứng dưới gốc mà nh́n lên th́ những tán lá xanh dày đặc của nó che
kín hết cả trời.
Lối đi lát gạch từ cổng vào chạy ṿng quanh
cái cây ấy rồi tiếp tục thẳng tuột qua giữa khu đất vuông của khu
học xá. Hai dăy nhà ba tầng bằng bê-tông nằm đối diện nhau qua lối
đi ấy. Chúng to lừng lững với rất nhiều cửa sổ và làm người ta có ấn
tượng như chúng là những toà chung cư được cải tạo thành nhà tù hoặc
là nhà tù cải tạo thành khu chung cư. Tuy nhiên chúng không có vẻ ǵ
là bẩn thỉu, mà cũng không gây cảm giác tăm tối. Có thể nghe thấy
tiếng radio vọng ra từ những cửa sổ để mở, và tất cả cửa sổ đều mắc
một loại rèm màu kem mà nắng không thể làm bạc thêm được nữa.
Qua khỏi hai dăy nhà đó, lối đi dẫn đến một
toà nhà sinh hoạt chung có hai tầng, tầng dưới là nhà ăn và khu nhà
tắm, tầng trên có một giảng đường, các pḥng họp, và bảy pḥng dành
cho khách mà tôi không bao giờ biết họ là ai. Bên cạnh toà nhà sinh
hoạt chung ấy lại là một khu nhà ở nữa, cũng ba tầng. Khắp khuôn
viên vuông vức ấy phủ đầy những sân cỏ rộng răi, và nước phun từ các
ṿi tưới xoay tṛn lấp loá dưới nắng trờỉ. Phía sau toà nhà sinh
hoạt chung là một sân có dùng để chơi bóng chày và bóng bầu dục, và
sáu sân bóng quần. Khu học xá có đủ thứ ta có thể cần đến.
Nó chỉ có mỗi một vấn đề: mùi vị chính trị
của chính nó. Khu học xá được đặt dưới quyền của một kiểu tổ chức mờ
ám xoay quanh một nhân vật cực hữu, và đối với tôi th́ có một cái ǵ
đó rất xiên xẹo trong cách họ điều hành cơ sở này. Có thể thấy điều
đó trong cuốn sách nhỏ họ phát cho sinh viên mới đến và trong cả nội
quy của khu học xá. Họ tuyên bố rằng khu học xá được thành lập theo
"tinh thần chủ đạo" là "nỗ lực bồi dưỡng nguồn nhân lực quốc dân
thông qua chất lượng tối cao của những cơ sở giáo dục", và nhiều đại
gia tài chính ủng hộ.
"Tinh thần" này đă đóng góp tiền riêng của họ
vào việc xây dựng nó. Đó là bộ mặt công khai của dự án, mặc dù bên
dưới đó là ǵ th́ c̣n cực kỳ mơ hồ. Có người nói đây là một kiểu
công tŕnh trốn thuế, có người lại coi đây là một màn tŕnh diễn lấy
danh tiếng của những nhân vật góp vốn, lại cũng có người nói rằng
việc xây khu học xá chỉ là để che đậy hành vi chiếm đoạt một miếng
gan miếng tiết của bất động sản công cộng. Nhưng có một chuyện chắc
chắn là có thật: trong kí túc xá có một câu lạc bộ đặc tuyển gồm
toàn những sinh viên thượng lưu từ nhiều trường đại học khác nhau.
Họ lập ra nhưng "nhóm học tập" họp nhau nhiều lần một tháng với sự
tham gia của cả nhiều sáng lập viên. Thành viên nào của câu lạc bộ
này cũng chắc chắn sẽ có công ăn việc làm ngon lành sau khi tốt
nghiệp. Tôi cũng chẳng biết trong những lư thuyết này, nếu có thể
gọi thế, có cái nào đúng không, nhưng tất cả chúng đều có chung một
giả định rằng có ǵ đó mờ ám về cơ sở này.
Dù sao, tôi cũng đă có hai năm - từ mùa xuân
1968 đến mùa xuân 1970 - sống trong cái khu học xá "mờ ám" ấy. Cũng
không thể giải thích được tại sao tôi lại chịu đựng được nó lâu đến
thế. Về mặt sinh hoạt hàng ngày th́ dù nó có là hữu khuynh hay tả
khuynh hoặc ǵ ǵ đi nữa th́ cũng chẳng khác ǵ đối với tôi.
Ngày nào cũng khởi đầu bằng một lễ kéo cờ
trịnh trọng. Họ chơi cả nhạc quốc thiều, tất nhiên rồi. Hai việc ấy
không thể thiếu nhau được. Cột cờ trồng ở chính giữa khu học xá, có
thể nh́n thấy từ cửa sổ của cả ba khu nhà ở.
Trưởng khu nhà ở phía đông (nơi tôi kí túc)
là người phụ trách lá cờ. Ông ta cao lớn, mắt diều hâu, tuổi trạc
già năm mươi non sáu mươi. Mớ tóc xù của ông đă điểm bạc, và cái cổ
rám nắng của ông có một vết sẹo dài. Người ta kháo nhau rằng ông đă
tốt nghiệp trường huấn luyện t́nh báo Nakano từ thời chiến tranh,
nhưng không ai biết chắc cả. Đứng cạnh ông là một sinh viên trợ lí.
Cả anh chàng này cũng không ai biết rố lai lịch. Anh ta có mái đầu
húi cua ngắn nhất thế giới và lúc nào cũng mặc đồng phục sinh viên
màu xanh thuỷ quân. Tôi không biết tên anh ta, cũng chẳng biết anh
ta ở pḥng nào, không bao giờ gặp anh ta trong nhà ăn hoặc nhà tắm.
Thậm chí tôi không chắc anh ta có phải là sinh viên hay không nữa,
mặc dù ai cũng nghĩ anh ta phải là sinh viên, v́ cái bộ đồng phục
ấy, vốn đă nhanh chóng trở thành biệt hiệu của anh ta. Trái ngược
với Ngài Nakano, "Đồng phục" lùn tè, phục phịch, mặt mũi nhợt nhạt.
Hai con người làm thành một cặp trông ghê ghê ấy ngày nào cũng kéo
lá cờ Mặt trời mọc lên vào lúc sáu giờ sáng.
Khi tôi mới vào khu học xá, cái mới lạ của sự
kiện đó thường khiến tôi dậy sớm để kịp chứng kiến nghi thức ái quốc
này. Hai người sẽ xuất hiện dưới sân hầu như đúng vào lúc đài phát
thanh phát đi tín hiệu sáu giờ.
"Đồng phục" mặc đồng phục, tất nhiên rồi, với
giày da đen, c̣n Nakano th́ xách theo bên ḿnh một máy ghi âm hiệu
Sony. Ông đặt cái máy xuống cạnh chân cột cờ trong khi "Đồng phục"
mở một cái hộp để lộ lá cờ được gấp gọn gàng ở bên trong. Anh ta
kính cẩn dâng lá cờ cho Nakano. Ông này mắc nó vào dây trên cột cờ,
để lộ h́nh tṛn đỏ chói của Mặt trời mọc trên nền trắng tinh khiết.
Sau đó, "Đồng phục" bấm nút cho chạy nhạc
quốc thiều.
"Cầu cho Chúa tể chúng ta sẽ ngự trị…"
Và lá cờ sẽ leo lên.
"Cho đến khi sổi cuội thành đá tảng…"
Nó sẽ lên đến nửa cột.
"Và được rêu xanh bao phủ…"
Bây giờ th́ nó đă ở trên ngọn cột. Hai người
ấy đứng nghiêm, im phăng phắc, ngẩng nh́n lá cờ lúc ấy đă là cả một
h́nh ảnh ḱ vỹ trong những ngày đẹp trời lộng gió.
Lễ hạ cờ được cử hành lúc chiều tối với cùng
một vẻ trang nghiêm như thế, nhưng theo tŕnh tự ngược lại. Lá cở sẽ
trèo xuống và t́m về chỗ của nó trong chiếc hộp.
Quốc kỳ không tung bay trong đêm tối.
Tôi không biết tại sao lá cờ phải được hạ
xuống vào ban đêm. Quốc dân vẫn tiếp tục tồn tại qua đêm tối, và
biết bao nhiêu người vẫn làm việc suốt đêm - thợ xây dựng đường sắt
và những người lái taxi, rồi chủ các quán bar, lính cứu hoả, người
gác đêm. Tôi thấy có vẻ thật bất công khi những người này bị tước
mất quyền được lá cờ bảo vệ. Hoặc giả chuyện này cũng chẳng hệ trọng
đến thế mà cũng chẳng có ai quan tâm - trừ tôi. Cũng chẳng phải là
tôi thực sự quan tâm. Chỉ v́ nó t́nh cờ đi qua tâm trí tôi thế thôi.
Nội quy bắt buộc sinh viên năm đầu và năm thứ
hai phải ở hai người một pḥng, c̣n sinh viên năm thứ ba và năm cuối
th́ được ở riêng mỗi người một pḥng. Pḥng đôi th́ dài hơn và hẹp
hơn cỡ pḥng bề ba mét bề bốn mét một chút, với một cửa sổ khung
nhôm kính trên bức tường đối diện cửa ra vào và hai chiếc bàn kê
cạnh đó theo lối để hai người ngồi học quay lưng vào nhau. Bên trái
cửa ra vào kê một bộ giường tầng khung thép. Đồ đạc đi liền với
pḥng đều chắc chắn và giản dị, bao gồm hai tủ sắt đựng quần áo có
khoá, một bàn nước nhỏ, và một số giá đỡ liền tường. Ngay cả người
dễ tính nhất cũng khó ḷng gọi cách bài trí ấy là thơ mộng. Trên giá
đỡ của hầu hết các pḥng đều thấy để những đồ như đài bán dẫn, máy
sấy tóc, ấm đun nước và nồi cơm điện, cà-phê tan, trà túi, đường
miếng, và những nồi bát đơn giản để nấu ḿ ăn liền. Trên tường treo
đầy những ảnh cắt từ tạp chí dành cho con gái hoặc bích chương quảng
cáo phim ảnh khiêu dâm ăn trộm được. Một gă có h́nh chụp lợn đang đi
tơ nhau, nhưng đó là một ngoại lệ đặc biệt so với đa số h́nh ảnh đàn
bà trần truồng b́nh thường, các nữ ca sĩ phổ thông hoặc nữ diễn
viên. Giá sách phía trên bàn học th́ đựng sách giáo khoa, tự điển và
tiểu thuyết.
Rác rưởi của những căn pḥng toàn bọn con
trai này thật khủng khiếp. Vỏ quưt mốc meo dính chặt vào đáy những
bồ đựng giấy loại. Những vỏ đồ hộp dùng làm gạt tàn chất đầy đầu mẩu
thuốc lá, và khi chúng bắt lửa âm ỉ cháy th́ liền bị giội cà-phê
hoặc bia rồi đề mặc đó cho đến lúc bốc mùi chua loét. Bụi đen và
những vụn bẩn vô tăm tích bám đầy bát đĩa trên, các giá đỡ, và sàn
nhà th́ đầy những vỏ ḿ ăn lỉền và hộp bia rỗng cùng những nắp đậy
của thứ này thứ kia vứt lung tung. Không ai nghĩ đến việc quét nhà
và dọn rác. Cơn gió nào thổi qua pḥng cũng làm bụi bốc lên mù mịt.
Mỗi pḥng có một mùi gớm guốc riêng của ḿnh, nhưng cấu phần của cái
mùi ấy th́ đều như nhau: mồ hôi, mùi thân thế bẩn thỉu, và mùi rác
rưỡi. Quần áo bẩn chất đống dưới gầm giường, và v́ không có ai thèm
phơi phóng chăn nệm thường xuyên nên những thứ vải vóc ngấm đẫm mồ
hôi ấy bốc mùi hôi hầm không thể cứu chữa nổi. Nghĩ lại, có vẻ thật
ḱ diệu là những đống hôi thối ấy không làm nay sinh dịch bệnh chết
người nào.
Nhưng buồng tôi ở lại sạch tinh tươm như một
pḥng ướp xác. Sàn nhà và cửa sổ không một vết bẩn, chăn nệm tuần
nào cũng được phơi phóng, tất cả bút ch́ đều đứng ngay ngắn trong
hộp đựng của chúng, thậm chí màn cửa cũng được giặt mỗi tháng một
lần. Bạn cùng pḥng với tôi là một gă sạch sẽ đến mức bệnh hoạn.
Khỏng có ai trong khu học xá tin lời tôi khi tôi kề chuyện giặt màn
cửa pḥng ḿnh. Chúng không biết rằng màn cửa lại có thể giặt được.
H́nh như chúng tin rằng màn cửa là một bộ phận bán thường xuyên của
kết cấu cửa sổ.
"Thằng cha đó hỏng rồi," chúng nói, và đặt
biệt danh cho anh bạn tôi là một thằng lính phát xít, một tên
Quốc-xă.
Thậm chí chúng tôi không có cả ảnh trên
tường. Không, chúng tôi có bức ảnh chụp một con kênh đào ở
Amsterdam. Trước đấy tôi đă ghim một tấm ảnh khoả thân lên rồi,
nhưng bạn cùng pḥng với tôi lại hạ nó xuống. "Này, Watanabe," hắn
nói, "tơ-tơ-tớ không khoái mấy của này lắm đâu," rồi găm luôn cái
ảnh kênh đào lên thay. Tôi cũng không mặn mà ǵ với cái ảnh khoả
thân, nên chẳng buồn phản đối làm ǵ.
"Cái quái ǵ thế kia hả?" Đó là câu cảm thán
đôi với bức ảnh kênh đào Amsterdam của tất cả bọn con trai đă từng
vào pḥng tôi.
"À, Quốc-xă nó thích vừa nh́n cái đó vừa cho
ra bằng tay," tôi nói.
Tôi chỉ định đùa thôi, nhưng tất cả bọn chúng
lại tin là thật - đến nỗi chính tôi cũng bắt đầu tin đó là chuyện
thật.
Ai cũng tỏ vẻ thương tôi v́ phải ở chung với
Quốc-xă, nhưng thực t́nh tôi không khó chịu ǵ chuyện đó. Hắn để tôi
yên thân chừng nào tôi giữ chỗ của ḿnh thật sạch sẽ, và thực tế là
ở cùng pḥng với hắn lại dễ chịu hơn trong nhiều chuyện. Hắn làm tất
các việc dọn dẹp, hắn phơi phóng chăn nệm, hắn thu dọn và đổ rác.
Hắn hít hít mấy cái và khuyên tôi nên đi tắm nếu tôi đă quá bận đến
nỗi mấy ngày rồi chưa tắm. Thậm chí hắn c̣n nhắc tôi đă đến lúc phải
đi cắt tóc hoặc tỉa lông mũi. Chỉ có một thứ làm tôi khó chịu, đó là
cái lối hắn phun thuốc trừ sâu mù mịt mỗi khi phát hiện ra dù chỉ
một con ruồi thôi ở trong pḥng, v́ lúc ấy tôi sẽ phải tị nạn sang
một cái chuồng chỗ hàng xóm nào đó.
Quốc-xă học địa lư ở một trường đại học quốc
gia.
Như lời hắn nói ở buổi sơ giao, "Tớ học về
bờ-bờ-bản-bản đồ."
"Cậu thích bản đồ à?" Tôi hỏi.
"Đúng vậy. Khi tốt nghiệp, tớ sẽ vào làm việc
cho Viện Địa Đạc và làm bờ-bờ-bản-ban đồ."
Tôi
bị ấn tượng rất mạnh khi thấy cuộc đời có thể cho người ta nhiều ước
mơ và mục đích khác nhau đến thế. Đó là một trong những ấn tượng đầu
tiên của tôi khi lần đầu đặt chân đến Tokyo. Một ư nghĩ chợt đến với
tôi là xă hội cần một vài người - chỉ vài người thôi - có ư thích và
thậm chí say mê việc làm bản đồ. Kể cũng lạ, v́ cái người muốn làm
việc cho Viện Địa Đạc lại cứ lắp bắp mỗi khi nói đến chữ "bản đồ".
Quốc-xă thường không lắp bắp bao giờ, chỉ trừ mỗi khi hắn phát âm từ
"bản đồ", mà chắc chắn trăm phần trăm là hắn
phải lắp bắp cái từ ấy.
"Cậu sẽ học ca-ca-cái ǵ?" hắn hỏi tôi.
"Sân khấu," tôi đáp.
"Cậu sẽ dàn dựng các vở kịch à?"
"Không, chỉ đọc kịch bản và nghiên cứu thôi.
Racine, Ionesco, Shakespeare, đại loại thế."
Hắn nói đă nghe tiếng Shakespeare, nhưng
không biết những người khác. Tôi cũng chẳng biết ǵ mấy về những tác
giả kia, mới chỉ thấy tên họ trong các giấy tờ giới thiệu bài giảng.
"Cậu thích kịch à?" hắn hỏi.
"Cũng không hẳn thế."
Thế là hắn thấy lẫn lộn, và khi lẫn lộn th́
hắn lắp bắp tợn. Tôi thấy hối hận v́ đă nói vậy với hắn.
"Tớ có thể chọn bất kỳ môn ǵ," tôi nói.
"Nhân chủng học, lịch sử châu Á. Tớ chọn sân khấu chỉ là t́nh cờ
thôi, chẳng có ǵ khác." Thật là một cách giải thích không mấy
thuyết phục.
"Tớ chịu không hiểu nổi," hắn nói, mặt mũi có
vẻ như không hiểu thật. "Tớ thích bờ-bản-ban đồ, nên tớ quyết định
đến Tokyo và xin bố mẹ tớ gư-gửi tiền để tớ có thể học về bờ-ban-bản
đồ. Nhưng cậu lại không thế, hả?"
Cách đặt vấn đề của hắn có lí hơn của tôi.
Tôi chịu không thể giải thích được cho ḿnh. Thế rồi chúng tôi rút
thăm (bằng que diêm) để chọn giường. Hắn trúng tầng trên.
Cao lớn, với một cái đầu của và hai g̣ má
cao, lúc nào hắn cũng đóng một bộ: sơ-mi trắng, quần dài đen, giày
đen, áo len cộc tay màu xanh thuỷ quân. Đi học th́ hắn thêm cái áo
tây đồng phục và mang theo một chiếc cặp đen: một sinh viên hữu
khuynh điển h́nh. Chính thế mà mọi người gọi hắn là Quốc-xă. Nhưng
thực ra th́ hắn hoàn toàn không để ư ǵ đến chính trị. Hắn mặc đồng
phục để khỏi phải nghĩ ngợi về quần áo. Hắn chỉ quan tâm đến những
chuyện như biến động bờ biển hoặc sự kiện hoàn thành một đường hầm
cho xe lửa chạy xuyên qua núi. Không có ǵ khác. Một khi đă nói đến
chuyện như thế th́ hắn sẽ thao thao bất tuyệt hàng nhiều giờ liền,
cho đến lúc ta phải bỏ đi chỗ khác hoặc ngủ thiếp lúc nào không hay.
Sáng nào hắn cũng dậy lúc sáu giờ theo hồi
quốc thiều kéo cờ. Có nghĩa là cái lễ kéo cờ khoa trương kia cũng
không phải hoàn toàn vô dụng. Hắn mặc quần áo, vào nhà tắm rửa mặt -
lâu không thể tả được. Đôi khi tôi có cảm giác như hắn đang tháo
từng cái răng ra và chải rửa lần lượt từng cái một. Trở lại pḥng,
hắn sẽ vuốt phẳng chiếc khăn mặt và trải lên dàn sưởi cho khô, rồi
để bàn chải đánh răng và xà-pḥng vào chỗ của chúng ở trên kệ. Cuối
cùng, hắn tập bài thể dục theo đài phát thanh cùng với nhân dân cả
nước.
Tôi quen đọc sách khuya và ngủ đến tám giờ
mới dậy, nên dù hắn có lục sục trong pḥng và bắt đầu tập thể dục,
tôi vẫn cứ không biết ǵ - cho đến khi hắn vào động tác nhảy. Hắn
làm động tác này một cách nghiêm chỉnh, th́nh thịch rung hết cả
giường. Tôi chịu đựng trong ba ngày, v́ người ta đă dặn chúng tôi
rằng sống chung là phải biết nhường nhịn nhau cho chừng mực, nhưng
đến buổi sáng thứ tư th́ tôi không thể chịu nổi nữa.
"Này, cậu có thể làm động tác ấy ở trên mái
nhà hoặc ở đâu đó không hử?" tôi bảo. "Tớ không thể ngủ được."
"Nhưng đă sáu rưỡi rồi c̣n ǵ?" hắn đáp,
miệng há hốc.
"Phải, tớ biết đă sáu rưỡi rồi. Nhưng tớ vẫn
phải ngủ. Tớ không biết nói thế nào, nhưng phải như vậy tớ mới sống
được."
"Nhưng mà tớ không thể lên mái nhà được. Sẽ
có người ở tầng ba họ phàn nàn. Chỗ này của bọn ḿnh ở bên dưới chỉ
là nhà kho."
"Thế th́ cậu ra sân. Ra băi cỏ ấy."
"Thế cũng không được. Tớ không có đài chạy
pin. Tớ phải cắm điện. Mà tập thể dục buổi sáng th́ phải theo nhạc
mới được."
Đúng vậy, cái đài của hắn cũ rích và không
chạy pin. Đài của tôi là bán dẫn di động được, nhưng lại chỉ có sóng
FM để nghe nhạc mà thôi.
"Thôi được rồi, ḿnh nhượng bộ nhau nhé," tôi
nói. "Cậu cứ việc tập thể dục nhưng bỏ cái động tác nhẩy ấy đi! Nó
ầm ĩ bỏ mẹ. Được chứ."
"Nh-nha-nhảy ư? Là động tác nào thế?"
"Nhảy là nhảy chứ c̣n ǵ nữa. Cứ nẩy lên nẩy
xuống ấy mà."
"Nhưng làm ǵ có động tác nhảy."
Đầu tôi bắt đầu thấy nhức nhối. Tôi đă định
đầu hàng, nhưng lại muốn làm rơ ư ḿnh. Tôi ra khỏi giường và bắt
đầu nhảy tưng tưng, miệng hát điệu nhạc mở đầu của chương tŕnh thể
dục buổi sáng của đài NHK. "Là cái này này," tôi nói.
"Ô, cái đó. Có lẽ cậu nói đúng. Tớ chưa bao
giờ để ư chuyện đó."
"Cậu hiểu ư tớ chưa? tôi nói, ngồi xuống mép
giường. "Cứ bỏ cái động tác ấy thôi. Tới có thể chịu được những cái
khác. Đừng nhảy nữa để cho tớ ngủ."
"Nhưng không thể thế được," hắn nói, giọng
tỉnh bơ. "Tớ không thể bỏ một động tác nào. Tớ đă tập thế này mỗi
sáng trong suốt mười năm qua, và hễ bắt đầu là mọi thứ cứ thế tự
động diên ra một cách vô thức. Bỏ một động tác nào là tớ phải bỏ hết
mất."
Tôi không biết nói ǵ thêm. C̣n nói ǵ được
nữa? Cách nhanh nhất để chấm dứt t́nh trạng ấy là đợi cho hắn ra
khỏi pḥng và quăng cái đài chết tiệt của hắn qua cái cửa sổ chết
dẫm kia, nhưng tôi biết nếu làm vậy th́ mọi việc sẽ tá hoả tam tinh.
Quốc-xă quư hoá đồ của hắn lắm. Hắn mỉm cười khi thấy tôi ngồi thừ
trên mép giường, và cố an ủi tôi.
"Này, Watanabe, sao cậu không dậy tập thể dục
cùng với tớ cho xong?" Rồi hắn đi ăn sáng.
o0o
Naoko chặc lưỡi khi tôi kể cho nàng về
Quốc-xă và những bài tập thể dục theo đài của hắn. Tôi không định
làm nàng cười, nhưng chính tôi lại ph́ cười v́ câu chuyện của ḿnh.
Nàng chỉ hơi mỉm cười một chút, nhưng đó là lần đầu tôi thấy một nụ
cười ở nàng và cảm thấy vui v́ nó trong một lúc thật lâu.
Chúng tôi vừa xuống tàu ở ga Yotsuya và đang
đi bộ dọc bờ kè bên ngoài nhà ga. Đó là một chiều Chủ nhật khoang
giữa tháng Năm. Nhưng trận mưa rào ngắn ngủi suốt buổi sáng đă tạnh
hẳn, và gió nam đă xua tan những đám mây là là mặt đất. Những đám lá
anh đào xanh biếc xào xạc trong không trung, long lanh hắt nắng đi
tứ phía. Đó là một ngày đầu hè. Nhưng người đi ngang chúng tôi đều
vắt áo len hoặc áo ngoài của họ trên vai, hoặc cầm ở tay. Ai cũng có
vẻ đang vui hướng một chiều Chủ nhật đầy nắng ấm. Đám thanh niên
chơi bóng quần trong khu sân ở phía bên kia bờ kè đă cởi trần mặc
quần cộc. Chỉ có chỗ hai bà sơ vẫn mặc trang phục mùa đông đang ngồi
chuyện tṛ trên một chiếc ghế dài là có vẻ chưa có mùa hè, mặc dù họ
đều ngồi ngay dưới nắng.
Mười lăm phút đi bộ và tôi đă toát mồ hôi đến
mức phải cởi cả chiếc sơ-mi vải bông dày của ḿnh và đi tiếp với
chiếc áo phông c̣n lại trên người. Naoko đă xắn cao tay áo chiếc
sơ-mi màu xám nhạt của nàng. Chiếc sơ-mi phai màu rất đẹp, rơ ràng
đă giặt rất nhiều lần. Tôi cảm thấy như đă thấy nàng mặc chiếc sơ-mi
ấy từ rất lâu rồi.
Chỉ là cảm giác thế thôi, tôi nhớ không rơ
lắm. Lúc ấy tôi vẫn chưa có ǵ nhiều để nhớ về Naoko.
"Sống tập thể thế cậu có thích không? Nàng
hỏi. "Sống chung với nhiều người thế có vui không?"
"Ḿnh không biết, ḿnh mới sống thế chừng một
tháng. Không đến nỗi tệ như người ta tưởng, ḿnh có thể chịu được."
Nàng dừng lại bên một ṿi nước uống và nhấp
một ngụm, lau miệng bằng một chiếc khăn tay trắng lấy từ túi quần
ra. Rồi nàng cúi xuống và cẩn thận buộc lại dây giày.
"Cậu nghĩ ḿnh có sống thế được không?"
"Cái ǵ kia? Sống trong một khu học xá ấy à?"
"Ờ"
"Ḿnh nghĩ chỉ là vấn đề thái độ thôi. Nếu
muốn th́ có rất nhiều thứ có thể làm ta bực bội - nào nội quy, nào
những thằng ngốc mà lại tưởng ḿnh là ghê lắm, ấy là chưa kể bạn
cùng pḥng nhất định tập thể dục theo đài vào lúc sáu rưỡi sáng.
Nhưng thật ra ở đâu th́ cũng vậy thôi, rồi cũng xong cả."
"Có lẽ thế," nàng gật đầu. H́nh như nàng đang
suy nghĩ điều ǵ đó. Rồi nàng nh́n thẳng vào mắt tôi như thể đang
xoáy vào một thứ ǵ lạ lẫm lắm. Lúc ấy tôi mới thấy mắt nàng sâu
thăm và trong vắt đến mức chúng làm tôi như ngộp thở. Tôi chợt nhận
ra ḿnh đă chưa khi nào có dịp nh́n vào mắt nàng như thế. Đó là lần
đầu tiên hai chúng tôi đi bộ với nhau và nói chuyện lâu như vậy.
"Cậu đang nghĩ sẽ vào một khu học xá sống hay
sao đấy?" tôi hỏi.
"Ờ," nàng đáp. "Ḿnh chỉ đang không biết sống
tập thể sẽ ra sao. Với lại…" Có vẻ như nàng đang cố t́m từ hoặc cách
diễn đạt cho chính xác mà chưa được. Rồi nàng thở dài, mắt nh́n
xuống. "Ôi chao, ḿnh cũng không biết nữa. Cậu đừng để ư làm ǵ."
Cuộc nói chuyện đến đấy là hết. Nàng tiếp tục
đi về phía đông, và tôi bước ngay sau nàng.
Đă gần một năm rồi tôi mới gặp lại Naoko, và
nàng đă sút cân đến nỗi trông như một người khác. Cặp má phinh phính
rất đặc biệt của nàng hầu như không c̣n nữa, và cổ nàng đă mảnh dẻ
hẳn đi. Không phải nàng có vẻ gày g̣ hoặc ốm yếu: cái vẻ thanh mảnh
ấy của nàng có cái ǵ rất tự nhiên và b́nh thản, như thể nàng đă ẩn
náu trong một không gian hẹp và dài cho đến lúc bản thân nàng trở
thành hẹp và dài vậy. Và xinh đẹp ra nhiều. Tôi muốn nói với nàng
điều đó, nhưng không thể t́m được cách nói cho hay.
Chúng tôi đă không hẹn mà t́nh cờ gặp nhau
trên tuyến tàu Chuo vẫn đưa chúng tôi đi học hàng ngày.
Nàng đă quyết định đi xem phim một ḿnh, c̣n
tôi đang trên đường đến mấy hiệu sách ở Kanda - cả hai đứa đều chẳng
có việc ǵ gấp. Nàng nêu ư kiến bỏ tàu ra ngoài phố, và chúng tôi đă
làm vậy ở ga Yotsuya, nơi có thể đi bộ rất hay dọc bờ kè có trồng
cây của con hào bao quanh một lâu đài cổ. Khi c̣n hai đứa với nhau,
chúng tôi chẳng có chuyện ǵ đặc biệt để nói, và tôi cũng chẳng biết
tại sao Naoko lại thích ra khỏi tàu. Từ trước chúng tôi cũng đă
chẳng có ǵ nhiều để nói cùng nhau.
Vừa ra đến phố là Naoko bắt đầu bước đi, và
tôi phải rảo bước mới theo kịp, cách nàng vài bước. Tôi có thể đuổi
kịp nàng, nhưng có cái ǵ đó ngăn tôi lại. Tôi bước đi, mắt nh́n bờ
vai nàng và mái tóc đen buông thẳng của nàng. Nàng dùng một dai buộc
tóc màu nâu rộng bản, và mỗi khi nàng quay đầu, tôi lại thoáng thấy
một vành tai trắng nhỏ của nàng. Thỉnh thoảng nàng nh́n lại sau và
nói điều ǵ đó. Có khi là một câu nhận xét mà tôi có thể đáp lại
được; có khi là cái ǵ đó tôi chịu không thể hiểu và đáp được. Một
khi đă nói xong điều muốn nói, nàng lại hướng về phía trước và tiếp
tục bước đi ôi chao, th́ có làm sao, tôi tự nhủ, chẳng phải là một
ngày đẹp trời để đi dạo đó sao.
Nhưng với Naoko th́ đó không phải chỉ là một
cuộc dạo chơi đơn thuần. Cứ đề ư th́ thấy ngay: nàng rẽ phải ở
Iidabashi, ra chỗ hào nước, vượt ngă tư ở Jinbocho, lên quả đồi ở
Ochanomizu và ra khỏi khu vực đó ở Hongo. Từ đó nàng đi theo đường
tàu điện đến tận Komagome. Một lộ tŕnh rất mệt. Lúc chúng tôi đến
Komagome th́ đă xế chiều và ngày đầu hè ấy đă thành ra một tối mùa
xuân d́u dịu.
"Chúng ḿnh đang ở đâu ấy nhỉ?" Naoko hỏi, có
vẻ như vừa sực tỉnh và nh́n quanh ḿnh lần đầu tiên.
"Komagome," tôi nói. "Cậu không biết ư? Chúng
ḿnh đă đi một ṿng lớn."
"Sao ḿnh lại đến đây?"
"Cậu dẫn đường mà. Ḿnh chỉ đi theo cậu
thôi."
Chúng tôi đến một cửa hàng cạnh ga tàu điện
để ăn một bát ḿ. Khát quá, tôi uống hết cả một chai bia. Không đứa
nào nói ǵ từ lúc gọi đồ ăn cho tới lúc ăn xong. Tôi mệt lử sau cuốc
đi bộ dài ấy, c̣n nàng th́ ngồi dể hai tay lên bàn, miệng lại lẩm
nhẩm chuyện ǵ đó. Bản tin trên TV đang nói rằng tất cả những địa
điểm vui chơi giải trí trong ngày Chủ nhật ấm áp đó đều đă đông
nghịt người. C̣n chúng tôi th́ đă đi bộ từ Yotsuya cho đến tận
Komagome, tôi tự nhủ.
"Này, cậu khỏe thật đấy," tôi lên tiếng sau
khi đă ăn hết bát ḿ.
"Ngạc nhiên không?"
"Có"
"Ḿnh đă từng là vận động viên chạy đường dài
ở trường trung học. Nói để cậu biết thế. Ḿnh thường chạy những
chặng mười cây số một. Và từ lúc ḿnh bắt đầu có kí ức th́ Chủ nhật
nào bố ḿnh cũng đưa ḿnh đi leo núi. Cậu biết nhà ḿnh không, ở
ngay kia ḱa, cạnh núi ấy. Chân ḿnh lúc nào cũng khỏe."
"Nh́n cậu th́ không biết được," tôi nói.
"Ḿnh biết," nàng đáp. "Mọi người đều tưởng
ḿnh chỉ là một con nhóc yếu ớt. Nhưng không thể nh́n b́a mà đánh
giá cuốn sách được." Rồi nàng thêm một thoáng mỉm cười vào câu nói
ấy."
"Điều ấy đúng với ḿnh quá," tôi nói. "Ḿnh
mệt nhoài ra rồi."
"Thôi chết, xin lỗi nhé, ḿnh đă lôi cậu đi
quanh quẩn suốt cả ngày."
"Dù sao, ḿnh rất vui là chúng ta đă có dịp
chuyện tṛ. Hai đứa ḿnh chưa có dịp nào thế này, chỉ có hai đứa với
nhau," tôi nói, cố nghĩ xem chúng tôi đă nói những chuyện ǵ với
nhau mà không được.
Nàng đang nghịch cái gạt tàn trên bàn.
"Không biết…" nàng bắt đầu, "…nếu cậu không
phản đối… ḿnh muốn nói là, nếu thực sự cậu không thấy phiền… Cậu
nghĩ chúng ḿnh có nên gặp lại nhau nữa không? Ḿnh biết ḿnh chẳng
có quyền ǵ mà hỏi cậu chuyện này."
"Có quyền ǵ ư? Cậu nói ǵ thế?"
Nàng đỏ bừng mặt. Phản ứng của tôi với lời đề
nghị của nàng có lẽ hơi mạnh.
"Ḿnh không biết… Thực là ḿnh không thể giải
thích được," nàng nói, trong khi kéo tay áo lên quá khuỷu rồi lại hạ
xuống. Lớp lông mịn trên cánh tay nàng ánh lên một màu vàng thật
đáng yêu dưới ánh đèn của cửa hàng.
"Ḿnh không định nói "quyền" theo nghĩa chính
xác của từ đó. Ḿnh đang t́m cách nói khác."
Hai khuỷu tay đặt trên bàn, nàng chăm chú
nh́n lên tờ lịch treo trên tường, gần như thể đang hy vọng sẽ t́m
thấy cách diễn đạt thích hợp nhất ở đó. Không thấy ǵ nàng thở dài,
nhắm mắt và mân mê dải buộc tóc.
"Đừng bận tâm thế," tôi nói. "Có lẽ ḿnh đă
hiểu cậu muốn nói ǵ. Ḿnh cũng chẳng biết nói điều đó như thế nào
nữa."
"Chẳng bao giờ ḿnh có thể nói được điều ḿnh
muốn nói," Naoko tiếp lời. "Như vậy cũng lâu lâu rồi. Ḿnh cố nói
một điều ǵ đó, nhưng nói ra từ nào là sai từ ấy chúng đều không
đúng hoặc ngược hẳn lại với điều ḿnh định nói. Ḿnh cố khắc phục,
nhưng chỉ càng tệ hơn. Thứ nhất là ḿnh quên luôn cả điều định nói.
Giống như ḿnh bị chẻ ra làm hai và phải theo dơi lẫn nhau. Nửa này
đang đuổi theo nửa kia, ṿng quanh một cái cột to bự. Nửa kia của
ḿnh có những từ đúng, nhưng nửa này của ḿnh lại không thể bắt được
nó." Nàng ngẩng lên nh́n vào mắt tôi. "Chuyện đó có tí ư nghĩa ǵ
với cậu không?"
"Nhưng ở một chừng mực nào đó th́ ai cũng cảm
thấy thế cả," tôi nói. "Ai cũng đều cố diễn đạt ḿnh và đều thấy
phiền ḷng khi không thể làm tốt được việc đó."
Naoko có vẻ thất vọng v́ câu đáp của tôi.
"Không, càng không phải là như vậy?" nàng nói và không giải thích ǵ
thêm.
"Nhưng mà ḿnh sẽ rất thích được gặp lại
cậu," tôi nói. "Chủ nhật nào ḿnh cũng rảnh, và đi bộ sẽ rất tốt với
ḿnh.
Chúng tôi lên tàu chạy đường Yamanote, và
Naoko chuyển sang tuyến Chuo ở ga Shinjuku. Nàng sống trong một căn
hộ tí xíu ở măi khu ngoại ô phía tây Kokubunji.
"Này cậu, nàng nói lúc chia tay." Lối nói
chuyện của ḿnh có ǵ khác trước không?"
"Ḿnh nghĩ là có," tôi nói, "nhưng không biết
rơ thế nào. Nói thật với cậu, ḿnh biết là hồi trước ḿnh gặp cậu
rất nhiều, nhưng h́nh như cũng chẳng chuyện tṛ nhiều nhặn ǵ lắm
th́ phải."
"Đúng vậy, nàng nói. "Thôi nhỉ, ḿnh gọi cậu
thứ Bảy tới được chứ."
"Tất nhiên rồi. Ḿnh sẽ đợi đấy."
Tôi gặp Naoko lần đầu tiên lúc c̣n học lớp
Sáu trung học. Nàng cũng đang lớp Sáu nhưng học ở một trường nữ sinh
Cơ Đốc giáo vào loại hạng nhất. Cái trường ấy sang đến mức nếu học
gạo quá sẽ bị coi là thô thiển. Naoko là bạn gái của người bạn thân
nhất (và duy nhất) của tôi là Kizuki. Naoko và Kizuki đă thân thiết
với nhau gần như từ hồi mới đẻ, hai gia đ́nh sống cách nhau chưa đầy
hai trăm mét.
Cũng như hầu hết những cặp trai gái đă chơi
với nhau từ thuở ấu thơ, quan hệ của Kizuki và Naoko có một không
khí cởi mở rất thoải mái và họ cũng chẳng thấy cần phải được bên
nhau một ḿnh. Họ luôn đến nhà nhau, ăn uống và chơi mạt chược với
mọi người khác trong gia đ́nh nhau. Tôi đă đi chơi tay bốn cùng họ
rất nhiều lần. Naoko sẽ dẫn một bạn ở trường nàng đến cho tôi và bốn
chúng tôi cùng đi chơi bách thú hoặc đánh bi-a hoặc xem phim với
nhau. Những cô bạn nàng dẫn về cho tôi đều xinh đẹp nhưng hơi sang
trọng quá so với thị hiểu của tôi. Tôi dễ chơi hơn với những cô gái
có vẻ thô thiển hơn ở cùng trường công với tôi, thấy dễ chuyện tṛ
hơn. Tôi chưa bao giờ đoán được chuyện ǵ đang diễn ra trong những
cái đầu xinh đẹp của các cô gái mà Naoko dẫn theo nàng, và có thể là
họ cũng không thể hiểu được tôi.
Được một thời gian th́ Kizuki từ bỏ ư định
ghép bạn cho tôi, và thế là ba chúng tôi chơi cùng nhau. Kizuki và
Naoko và tôi: cũng lạ, nhưng đó lại là một cấu h́nh thoải mái nhất.
Đưa thêm một người thứ tư vào cấu h́nh đó lúc nào cũng khiến mọi
chuyện thành vụng về khó xử.
Chúng tôi giống như đội làm chương tŕnh gặp
gỡ chuyện tṛ trên TV, với tôi đóng vai khách, Kizuki làm người dẫn
chương tŕnh, và Naoko là trợ lí của cậu ta.
Kizuki giỏi việc thủ những vai tṛ trung tâm
như thế. Thực t́nh, cậu ấy có một vẻ giễu cợt thường khiến mọi người
nghĩ là cậu ngạo mạn, nhưng thật sự th́ cậu là một người rất công
b́nh và chu đáo. Cậu biết phân phát những lời nhận xét và đùa bỡn
một cách công bằng cho cả Naoko và tôi, cẩn thận để không đứa nào
cảm thấy bị bỏ rơi. Nếu một trong hai đứa im lặng quá lâu, cậu sẽ
hướng câu chuyện về đó để người ấy phải lên tiếng. Cậu biết cách
theo dơi và điều chỉnh không khí xung quanh từng giây một, và chuyện
đó chắc chắn không dễ dàng như ta thấy chút nào. Ngoài ra, cậu c̣n
có một cái tài rất hiếm là biết t́m thấy những cái thú vị trong
những câu nói chung chung chẳng thú vị chút nào của người khác, cho
nên khi chuyện tṛ với Kizuki, ta cẳm thấy như ḿnh là một con người
đặc biệt thú vị với một cuộc sống đặc biệt thú vị.
Ấy vậy, mà cậu lại chẳng quảng giao chút nào.
Tôi là thằng bạn thực sự duy nhất của cậu ở trường. Tôi không thể
hiểu tại sao một diễn giả thông minh và đầy năng lực như thế lại
không hướng tài năng của ḿnh vào cái thế giới mênh mông ở ngoài kia
mà lại bằng ḷng tập trung vào bộ ba nhỏ bé của chúng tôi. Mà tôi
cũng không biết tại sao cậu chọn tôi làm bạn. Tôi chỉ là một thằng
nhóc b́nh thường thích đọc sách, nghe nhạc và không hề có ǵ nổi bật
để có thể khiến cho một người như Kizuki phải để ư đến. Thế mà chúng
tôi đă thân nhau ngay lập tức. Cha cậu là một nha sĩ, nổi tiếng thạo
nghề và lấy tiền công rất cao.
"Chủ nhật này có muốn đi chơi cặp đôi với bọn
tớ không?" Cậu hỏi tôi ngay sau khi mới gặp nhau. "Bạn gái tớ học
trường nữ sinh, cô ấy sẽ dẫn theo một người đẹp cho cậu."
"Được thôi," tôi nói. Tôi đă gặp Naoko như
vậy đấy!"
Ba đứa chúng tôi chơi với nhau rất nhiều,
nhưng hễ Kizuki cứ ra khỏi pḥng là Naoko và tôi lại thấy lúng túng
chẳng biết nói ǵ với nhau. Chúng tôi chưa bao giờ biết nên nói vđi
nhau về chuyện ǵ. Và sự thực là chúng tôi không có chung một chủ đề
nào để cùng tṛ chuyện. Thay v́ nói chuyện, chúng tôi hết uống nước
lại nghịch ngợm ǵ đó trên bàn và đợi Kizuki về để lại bắt đầu tán
chuyện. Naoko không phải là người hay nói, c̣n tôi th́ nghe giỏi hơn
nói, nên tôi luôn thấy lúng túng khi một ḿnh với nàng. Không phải
chúng tôi không hợp nhau. Chúng tôi chỉ không có ǵ để nói.
Naoko và tôi chỉ gặp nhau một lần sau tang lễ
của Kizuki. Hai tuần sau sự kiện đó, chúng tôi gặp nhau tại một quán
cà-phê để giải quyết vài việc nhỏ, và khi xong rồi th́ chúng tôi
chẳng c̣n ǵ để nói. Tôi cố đưa ra nhiều chủ đề khác nhau nhưng
chẳng đi đến đâu. Và khi Naoko mở miệng th́ giọng nàng gay gắt thế
nào đó. Nàng có vẻ giận dữ với tôi, nhưng tôi chịu không biết tại
sao. Chúng tôi không gặp lại nhau lần nào nữa, cho măi đến một năm
sau, khi chúng tôi t́nh cờ thấy nhau trên tuyến tàu Chuo ở Tokyo
ngày đó.
Có lẽ Naoko đă giận tôi v́ chính tôi, chứ
không phải nàng, đă là ngưởi cuối cùng gặp Kizuki. Có lẽ nói thế
cũng chưa chính xác, nhưng tôi hiểu t́nh cảm của nàng, không ít th́
nhiều. Nếu có thể, tôi đă đánh đổi địa vị ấy với nàng, nhưng nói cho
cùng th́ chuyện ǵ xảy ra cũng đă xảy ra rồi, và tôi chẳng thể làm
ǵ được nữa.
Đó là một chiều tháng Năm đẹp trời. Sau bữa
trưa, Kizuki gợi ư chúng tôi bỏ lớp để chơi bi-a hoặc đi đâu đó. Tôi
cũng chẳng quan tâm ǵ đến những giờ học buổi chiều của ḿnh, và thế
là chúng tôi cùng ra khỏi trường, lững thững xuống đồi tới một pḥng
bi-a ngoài bến cảng và chơi bốn ván. Khi tôi thắng ván chơi thoải
mái đầu tiên, Kizuki trở nên trang nghiêm và thắng liền ba ván tiếp
theo. Có nghĩa là tôi phải trả tiền theo thông lệ vẫn có giữa chúng
tôi. Kizuki không nói đùa câu nào khi chúng tôi chơi với nhau. Điều
đó rất bất thường. Chơi xong chúng tôi hút thuốc.
"Sao cậu nghiêm trang thế?" tôi hỏi.
"Tớ không muốn bị thua hôm nay," Kizuki nói
với một nụ cười thoả măn.
Cậu chết đêm hôm đó, trong nhà để xe. Cậu đă
đưa một đường ống cao su từ miệng ống xả chiếc N-360 của ḿnh vào
một cửa sổ của chiếc xe, lấy băng dính bịt kín các chỗ hở, rồi nổ
máy. Tôi không biết phải bao nhiêu lâu cậu mới chết được. Cha mẹ cậu
đang đi thăm một người họ hàng bị ốm, và khi họ mở cửa vào th́ cậu
đă chết rồi. Radio trên xe vẫn kêu, và một cái hoá đơn mua xăng th́
kẹp dưới một cần gạt nước ở kính xe.
Kizuki không để lại một ḍng tuyệt mệnh nào,
và không ai có thể nghĩ ra lí do tự tử của cậu là ǵ. V́ là người
cuối cùng đă gặp cậu nên tôi bị cảnh sát triệu lên hỏi. Tôi nói với
viên sĩ quan điều tra rằng Kizuki đă không biểu lộ tí dấu hiệu nào
của việc cậu sắp làm, rằng cậu đă vẫn hệt như mọi khi. Viên cảnh sát
trước đây đă có ấn tượng không hay về cả Kizuki và tôi, như thể
người ta hễ cứ hay bỏ học và chơi bi-a th́ dĩ nhiên là sẽ có ngày tự
tử vậy. Một bài báo ngắn đă kết thúc sự vụ. Cha mẹ Kizuki tống khứ
chiếc N-360 màu đỏ của cậu đi. Trong một thời gian, chỗ bàn cậu vẫn
ngồi trong lớp lúc nào cũng có một đoá hoa trắng.
Trong khoảng mười tháng kể từ lúc Kizuki chết
đến kỳ thi của tôi, tôi không biết ḿnh đang ở đâu trong cái thế
giới này. Tôi bắt đầu ngủ với một người trong đám hạn gái ở trường,
nhưng quan hệ ấy chẳng được đến sáu tháng. Chẳng có ǵ ở cô ta can
hệ được đến tôi. Tôi nộp đơn vào một trường đại học tư ở Tokyo, một
loại trường mà tôi không phải học ǵ nhiều cũng thi vào được, và đỗ
mà chẳng thấy vui mừng ǵ hết. Cô gái kia xin tôi đừng đi Tokyo -
"Cách đây những năm trăm dặm!" Cô ta nài nỉ : nhưng tôi phải đi khỏi
Kobe bằng bất cứ giá nào. Tôi muốn bắt đầu một cuộc sống mới ở một
nơi mà tôi không biết một ma nào hết.
"Anh không c̣n nghĩ ǵ đến tôi nữa, sau khi
đă ngủ với tôi" cô ta vừa nói vừa khóc. |