Hiện ông là sáng tác viên bậc Một của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham
mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Nhà văn Mạc Ngôn từng được thế giới biết đến qua tác phẩm Cao lương
đỏ. Bộ phim cùng tên do đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu chuyển
thể từ tác phẩm này đã đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim
Canne năm 1994.
Truyện dài Báu vật của đời (nguyên tác tiếng Hoa: Phong nhũ phì đồn)
được xuất bản vào tháng 9 năm 1995 và ngay trong năm ấy được trao
giải thưởng cao nhất về truyện. Tác phẩm này nhanh chóng trở thành
một hiện tượng.
Báu vật của đời khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi
tráng của đất nước Trung Hoa thông qua số phận của các thế hệ trong
gia đình Thượng Quan. Từ những số phận khác nhau, lịch sử được tiếp
cận dưới nhiều góc độ, tạo nên sức sống, sức thuyết phục nghệ thuật
của tác phẩm.
Có nhiều con đường để cảm thụ tác phẩm văn chương, vì vậy trước một
hiện trượng văn học xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau âu cũng là điều
bình thường, thậm chí còn làm phong phú thêm đời sống văn học. Trên
tinh thần đó, chúng tôi xin gởi đến bạn đọc Báu vật của đời của Mạc
Ngôn, một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của
văn học Trung Quốc hiện đại.
Chương 1
1
Hằng hà sa số thiên thể vận hành như con thoi trôi chảy và mạch
lạc trong vũ trụ. Chúng phóng ra những tia màu hồng rực rỡ.
Thiên thể này có hình bầu vú, thiên thể khác lại có hình cặp
mông. Chúng vận hành có vẻ tùy tiện, nhưng thật ra mỗi ngôi đều
có quỹ đạo riêng. Rì rầm, loạt soạt, mỗi ngôi đều có điệu hát
riêng của mình. Xiên ngang, đâm dọc, ngôi nào đi theo con đường
của ngôi ấy. Ngắm nhìn sự hài hòa vĩ đại ấy, mục sư Malôa nước
mắt ràn rua kêu lên:
- Ôi! Thượng Đế chí tôn! Người là tất cả!
Mục sư Malôa nằm bất động trên giường. Ông trông thấy một đạo
hồng quang rọi trên bầu vú màu phấn hồng của Đức Mẹ Ma-ria và
trên khuôn mặt bầu bĩnh của Chúa Hài Đồng trong tay Đức Mẹ. Mùa
hè năm ngoái mái nhà bị dột, bức tranh sơn dầu này bị ố từng đám
vì nước mưa, khuôn mặt Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng trở nên ngắn
ngủn, đần độn và nanh nọc. Một con nhện treo lơ lửng dưới sợi tơ
màu trắng bạc trước cửa sổ, đung đưa mỗi khi có làn gió nhẹ.
Sáng báo tin vui, chiều báo phát tài; người đàn bà xinh đẹp, sắc
mặt nhợt nhạt ấy đã nói như vậy về nhện sa trước mặt. Mình thì
có gì vui? Mình chẳng có gì vui cả! Những thiên thể có hình dáng
vú và mông lọt qua trong đầu, ông giơ ngón tay khều dử mắt, nghe
tiếng bánh xe lọc cọc ngoài đường, tiếng hạc kêu từ đầm lầy vọng
tới, và cả tiếng be be ai oán của con dê sữa. Những con chim sẻ
mổ bồm bộp trên giấy dán cửa sổ. Chim khách kêu lảnh lót trên
cây bạch dương ngoài sân. Bỗng mục sư tỉnh như sáo. Người phụ nữ
với cái bụng to kinh khủng bỗng hiện ra dưới làn ánh sáng, cặp
môi khô nẻ mấp máy, hình như đang lẩm bẩm câu gì đó. Cô ta mang
thai đã mươi hai tháng, chắc chắn hôm nay sinh nở. Mục sư Malôa
chợt hiểu ra ý nghĩa của nhện sa và tiếng kêu của con chim
khách. Ông bật dậy, bước xuống giường.
Mục sư Malôa xách chiếc bình gốm màu đen, đi men theo con đường
lớn phía sau nhà thờ. Thoạt nhìn, ông đã nhận ra bà Lã, vợ ông
thợ rèn Thượng Quan Phúc Lộc, đang dùng chổi vun đất bột trên
đường. Tim ông mục sư đập thình thịch, miệng lẩm bẩm:
- Ôi Thượng đế! Người là tất cả!
Ông giơ ngón tay ngượng nghịu làm dấu chữ thập rồi chậm rãi nép
vào một góc trong, lặng lẽ quan sát người đàn bà cao lớn và béo
đẫy. Bà ta vun đất bột thấm đẫm sương đêm, cẩn thận loại bỏ rác
rưởi lẫn trong đó. Người đàn bà đồ sộ này cử chỉ vụng về nhưng
sinh lực thì có thừa. Chiếc chổi bện bằng thân lúa mạch vàng óng
trong tay bà chỉ như một đồ chơi. Bà bốc đất mịn cho vào sọt,
dùng tay nén chặt rồi bê sọt đất đứng lên.
Bà Lã bê sọt đất về đến đầu ngõ thì nghe có tiếng ồn ào phía
sau. Ngoảnh lại, bà thấy cánh cổng nhà giàu nhất của thị trấn -
nhà Phúc Sinh Đường - mở toang, một đám dàn bà ùa ra. Họ cố ý ăn
mặc lôi thôi lếch thếch, mặt bôi đầy nhọ nồi. Ngày thường, phụ
nữ nhà Phúc Sinh Đường quần là áo lượt, sao hôm nay lại cải
trang như vậy? Từ mảnh sân đối diện, lão xà ích có biệt hiệu là
Chim Sẻ Rừng đánh ra một cỗ xe lớn mới tinh, bánh hơi, rèm màu
xanh. Xe chưa dùng hẳn, đám phụ nữ đã tranh nhau trèo lên. Lão
đánh xe ngồi xổm trước con sư tử đá bị sương đêm làm ướt đẫm,
lặng lẽ hút thuốc. Ông chủ Phúc Sinh Đường Tư Mã Đình từ sau
cổng vọt ra, tay cầm súng hỏa mai, động tác mạnh và nhẹ nhàng
như thanh niên. Lão xà ích vội vã đứng lên nhìn ông chủ. Tư Mã
Đình giật chiếc tẩu từ miệng lão xà ích, rít mấy hơi rõ kêu, rồi
ngẩng nhìn bầu trời rạng đông đang ửng lên màu phấn hồng, bảo
lão xà ích:
- Sẻ Rừng, cho xe đến đầu cầu sông Mực rồi đợi ở đấy ta sẽ đến
ngay!
Lão xà ích tay cầm cương, vung roi cho ngựa quay đầu xe. Đám phụ
nữ chen chúc trên xe la chí chóe. Lão xà ích vung roi đánh bốp,
ngựa bắt đầu chạy nước kiệu. Nhạc ngựa kêu loong chong, một vệt
bụi dài cuốn theo xe.
Tư Mã Đình đái một bãi ngay trên mặt đường cái, gừ gừ trong họng
nhìn theo chiếc xe ngựa, rồi ôm súng trèo lên đài quan sát. Đài
cao ba trượng, dựng bởi chín mươi chín cây gỗ tròn. Đỉnh đài là
một mặt bằng nhỏ, cắm ngọn cờ hồng. Sáng sớm trời không gió,
ngọn cờ ướt đẫm sương, ủ rũ. Bà Lã nhìn thấy Tư Mã Đình đứng
trên đình tháp ngóng về phía tây bắc, cổ vươn dài ra, môi dẩu, y
hệt con ngỗng đang uống nước. Một đám sương là là mặt tháp, nuốt
chửng Tư Mã Đình rồi lại nhả ra. Rạng đông nhuốm đỏ khuôn mặt
hắn. Bà Lã trông thấy khuôn mặt Tư Mã Đình như bị phủ lên một
lớp hồ loãng, nhớp nháp và sáng lấp lóa. Hắn giơ khẩu súng bằng
hai tay, mặt đỏ như mào gà chọi. Một tiếng động nhỏ vang lên, đó
là tiếng lẫy cò đập vào hạt nổ. Hắn đợi với vẻ trang nghiêm. Bà
Lã cũng đợi, đợi rất lâu, mặc cho sọt đất trên tay nặng trĩu hai
tay tê dại, cổ mỏi nhừ. Tư Mã Đình hạ súng xuống, môi trề ra, y
hệt một đứa trẻ đang giận dỗi. Bà Lã nghe thấy hắn chửi câu gì.
Hắn chửi khẩu súng:
- Đồ ôn dịch, mày dám không nổ!
Hắn lại giơ súng lên, lẩy cò, một tiếng đập nhẹ, một vệt lửa
phụt ra đầu nòng át cả màu đỏ của bình minh, sáng trắng khuôn
mặt hắn. Một tiếng nổ đanh xé toạc thôn xóm đang yên tĩnh, lửa
đỏ rục phụt lên trời, tạo thành các nàng tiên đứng trên mây,
những cánh hoa sặc sỡ bay lả tả. Bà Lã thấy lòng rạo rực. Bà là
vợ ông thợ rèn nhưng tay nghề thì bà giỏi hơn chồng một bậc, chỉ
cần trông thấy sắt và lửa là máu dồn lên mặt, sôi lên trong
huyết quản, cơ bắp nổi lên từng búi, chẳng khác chiếc roi tết
bằng gân bò. Thép đen đập trên sắt đỏ, hoa lửa bắn ra tứ phía,
mồ hôi ướt đẫm lưng, chảy thành dòng giũa hai vú, mùi tanh tanh
của sắt rèn len lỏi khắp chỗ.
Bà Lã trông thấy Tư Mã Đình nhảy dựng lên một cái trên đỉnh
tháp. Không khí ẩm ướt ban mai quyện đầy khói và mùi thuốc súng.
Tư Mã Đình thét to, báo động cho cả vùng đông bắc Cao Mật:
- Bà con ơi, giặc Nhật sắp đến đấy!
2
Bà Lã đổ đất lên mặt giường đắp bằng đất đã lột bỏ chiếu và đệm
rơm, lo lắng nhìn con dâu là chị Lỗ lúc này đang hai tay bám
thành giường, miệng rên rỉ. Bà dùng cả hai tay san đất cho phẳng
rồi khẽ bảo con dâu:
- Trèo lên đi!
Trước cái nhìn thương hại của mẹ chồng, chị Lỗ, một phụ nữ vú to
mông nẩy, sợ run lên. Tội nghiệp, chị nhìn trộm nét mặt từ bi
của mẹ chồng mà đôi môi nhợt nhạt run rẩy, như muốn nói điều gì
đó.
Bà Lã nói to:
- Lão Tư Mã lại bị ma ám rồi!
Chị Lỗ nói:
- Mẹ...
Bà Lã phủi sạch đất trên tay, lẩm bẩm:
- Nàng dâu quí hóa của tôi, hãy cố lên! Lần này lại là con gái
thì tôi chẳng còn mặt mũi nào bênh vực cho cô được nữa!
Chị Lỗ ứa hai hàng nước mắt, cắn chặt môi dưới, cố súc lê cái
bụng nặng nề lên giường, chỗ đã trải đất mịn sau khi lột bỏ
chiếu.
- Đẻ nhiều lần rồi, cứ tà tà con ạ!
Bà Lã đặt cuộn băng trắng và chiếc kéo lên giường, cau mày, tỏ
vẻ sốt ruột, ông già và bố Lai Đệ đang đỡ đẻ cho con lừa đen ở
chái đằng kia.
- Nó đẻ con so, ta phải chăm lo cho nó!
Chị Lỗ gật đầu. Chị nghe thấy một tiếng súng bắn lên trời cao,
tiếng sủa hốt hoảng của mấy con chó và tiếng của Tư Mã Đình vẳng
lại, đứt quãng: Bà con ơi, chạy mau lên! Chậm là chết hết!. Hình
như hưởng ứng lời kêu gọi của Tư Mã Đình, chị cảm thấy một trận
quẫy đạp bụng cuộn lên từng cục, đau đến nghẹt thở, mồ hôi rỉ ra
lỗ chân lông và tanh như mùi cá. Chị cắn răng, không cho tiếng
kêu vọt ra khỏi miệng. Qua màn nuộc mắt mờ ảo, chị nhìn thấy mẹ
chồng tóc đen nhánh, đang cắm ba nén hương lên bàn thờ Quan âm.
Khói hương lờ lững bay lên rồi lan tỏa ra khắp phòng.
- Đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn Quan Thế âm Bồ Tát! Xin Người
cứu giúp chúng con, hãy thương con mà cho con một đứa con
trai...
Chị Lỗ đặt hai bàn tay trên cái bụng vồng lên và lạnh ngắt, mắt
hướng về bộ mặt bóng loáng của bức tượng Quan âm bằng sứ đặt
trên bàn thờ, lẩm bẩm cầu nguyện; một lần nữa, chị lại ứa nước
mắt. Chị tụt cái quần đã ướt một mảng, vén cao hết mức chiếc áo
ngoài, để lộ bụng và vú ra. Chị bám chặt thành giường, sửa lại
tư thế cho đúng với đám đất mẹ chồng rải trên giường. Giữa hai
cơn đau quặn, chị dùng các ngón tay chải lại tóe, tựa lưng vào
chỗ đệm rơm và chiếu đã được cuốn lên.
Mảnh gương gắn trên bậu cửa soi nghiêng khuôn mặt của chị: Tóc
ướt đẫm mồ hôi, con mắt dài u tối, gò mũi cao trăng mịn, chiếc
miệng rộng khô nẻ co giật từng đợt. Một tia nắng yếu ớt lọt qua
cửa sổ, chiếu chênh chếch lên ngôi chị, chỗ gân xanh ngoằn ngoèo
và những nếp nhăn lồi lõm màu trắng, trông dễ sợ. Chị ngắm cái
bụng của mình, trong lòng lúc hi vọng, lúc chán nản y hệt bầu
trời Cao Mật giữa mùa hè: khi thì mây đen cuồn cuộn, lúc lại
xanh trong thăm thẳm. Chị gần như không dám cúi nhìn cái bụng to
và cứng đến kỳ lạ của chị. Có lần chị nằm mơ thấy mình chửa toàn
là sắt thép. Lần khác, chị lại mơ thấy chửa toàn là cóc. Sắt
thép thì chị còn có thể chấp nhận, nhưng cóc thì mỗi khi nghĩ
đến là chị nổi da gà. Xin Bồ Tát che chở cho con... Xin tổ tiên
phù hộ... Các thần các thánh phù hộ độ trì cho con, hãy tha thứ
cho con, giúp con sinh được một cháu trai đủ tai đủ mắt... Con
thân yêu của mẹ, con ra đi... Trời cha đất mẹ ơi, thần tiên yêu
quái ơi, hãy cứu giúp con.... Chị cầu nguyện, chị van xin, trả
lời là từng cơn đau xé ruột.
Chị bám chặt hai tay vào cuộn chiếu sau lưng, mỗi thớ thịt trên
người rung lên. Chị mở to mắt, trước mặt là những tia lửa hồng,
trong màu hồng của lửa lại có những tia sáng trắng ngoằn ngoèo,
co dãn y như những sợi bạc chảy trong lò. Chịu không nổi, một
tiếng thét bật ra từ miệng chị vọt qua cửa sổ, trầm bổng trên
đường ngang lối tắt hòa quyện với tiếng kêu của Tư Mã Đình rồi
xoắn chặt với nhau như một sợi dây thừng, như một con rắn xộc
thẳng vào tai ông mục sư Malôa người Thụy Điển. Ông mục sư người
cao lớn, bụng phệ, đầu to với những lọn tóc đỏ, lỗ tai có chòm
lông trắng. Đang trên thang dẫn tới lầu chuông, ông mục sư chợt
sững ngươi, cặp mắt xanh luôn mọng nước đầy quyến rũ và ngơ ngác
như con nai lạc đàn, lóe lên mừng rỡ. Ông giơ ngón tay mũm mĩm
làm dấu chữ thập, buột miệng nói một câu đặc thổ âm vùng Cao
Mật:
- Lạy Chúa toàn năng!...
Ông tiếp tục trèo lên tận đỉnh, lắc vang chiếc chuông han gỉ,
vốn treo ở một ngôi chùa. Tiếng chuông não lòng lan tỏa trong
sương sớm. Cùng với tiếng chuông, cùng với tiếng cảnh báo quân
Nhật sắp đến, là một bãi nước ối chảy ra từ giữa hai chân chị
Lỗ. Chị ngửi thấy mùi thịt dê, còn ngửi thấy mùa hoa hòe thơm
đậm mà thanh nhã. Cảnh yêu nhau trong rừng hòe năm ngoái cùng
với mục sư
Malôa lại hiện rõ trước mặt chị. Chị lưu luyến với hình ảnh quá
khứ, không được lâu, mẹ chồng chị giơ cao hai tay đầy máu chạy
xộc vào phòng. Chị kinh hoảng nhận ra rằng, trong tay mẹ chồng
có một ngôi sao xanh nhỏ xíu
- Đẻ chưa? - Chị nghe thấy mẹ chồng lớn tiếng hỏi.
Chị lắc đầu, xấu hổ.
Mái đầu mẹ chồng lấp lóa dưới nắng, chị kinh hoảng khi thấy tóc
của bà đã bạc trắng.
- Cứ tưởng cô đẻ rồi! - Mẹ chồng nói.
Hai tay mẹ chồng vươn về phía bụng chị. Đó là hai bàn tay thô,
to khỏe, móng rắn chắc, ngay cả trên mu bàn tay cũng có những
chỗ chai cứng. Chị sợ, muốn thoát khỏi hai bàn tay dính đầy máu
lừa của bà mẹ chồng thợ rèn, nhưng chị không còn sức. Hai tay bà
ấn trên bụng chị một cách thô bạo, chị cảm thấy như tim ngừng
dập, khắp ngươi nổi gai ốc. Chịu không nổi, chị bật lên tiếng
rên, không phải vì đau mà vì sợ. Không chút nương nhẹ, hai bàn
tay bà mẹ chồng rờ rẫm trên bụng chị rồi lại ấn mạnh, cuối cùng,
như người ta thử dưa chín, bà vỗ bộp bộp mấy cái trên bụng chị,
tỏ vẻ ảo não như người ta mua phải quả dưa còn xanh. Hai bàn tay
rời bụng, rũ xuống dưới ánh nắng, nặng nề và mệt mỏi. Toàn bộ
thân thể mẹ chồng như một cái bóng, chỉ có hai bàn tay là thật,
đầy uy lực, làm gì cũng được, muốn làm gì thì làm. Chị nghe thấy
tiếng mẹ chồng như vọng lại từ xa, mãi tận trong đầm lầy, hòa
quyện với mùi bùn và mùi tôm cua:
- Quả chín khắc rụng... đã đến lúc thì ngăn cũng chẳng được hãy
kiên nhẫn... đừng sợ ngươi ta cười... chẳng lẽ cô không sợ bảy
cô thị mẹt của cô cười cho!
Chị trông thấy một trong hai bàn tay ấy lại uể oải gõ trên bụng
chị như gõ một cái trống da dê bị ẩm, phát ra những tiếng đùng
đục. Đàn bà bây giờ càng văn minh lại càng yếu ớt. Cái đận tao
đẻ bố nó, vừa đẻ vừa khâu đế giày!. Cuối cùng thì bàn tay cũng
đã ngừng gõ, thu trở lại trong bóng tối, mờ ảo như móng vuốt
chân thú.
Tiếng mẹ chồng cất lên trong bóng tối, mùi thơm của hoa hòe từng
đợt ùa vào phòng.
- Bụng cô quá lớn, hoa văn cũng rất lạ, có thể là con trai. Nếu
vậy thì phúc cho cô, phúc cho ta, phúc cho nhà Thượng Quan. Bồ
Tát linh thiêng, Chúa Trời phù hộ, không có con trai thì suốt
đời cô chỉ là nô lệ, đẻ con trai, cô lập tức thành bà chủ nhà.
Ta nói vậy cô tin hay không tin thì tùy!...
Mẹ ơi, con tin, con tin mà! - Chị Lỗ hoàn toàn tin như vậy. Bức
tường trước mặt chị vẫn còn vết ố màu nâu. Chị nhìn vết ố đó mà
lòng đau quặn. Đó là cách đây ba năm, sau khi sinh đứa con gái
thứ bảy, chồng chị là Thọ Hỉ nổi trận lôi đình, cầm cái chày gỗ
ném vào đầu chị, máu ở đầu vọt lên tường... Mẹ chồng đặt cái làn
bên cạnh chị. Tiếng của bà như ngọn lửa bùng cháy trong đêm, tỏa
ra những tia rục rỡ: Nói theo ta - Đứa con trai trong bụng tôi
đáng giá ngàn vàng, nói đi!. Trong làn đựng đầy lạc củ. Nét mặt
hiền hòa của mẹ chồng, tiếng nói trang nghiêm, nửa là thiên
thần, nửa là mẹ. Chị Lỗ rất mực cảm động, vừa khóc vừa nói theo:
Trong bụng tôi là con vàng con bạc, là quí tử, con trai tôi là
quí tử!.... Mẹ chồng ấn vào tay chị mấy củ lạc, dạy chị nói:
- Lạc, lạc, lạc!....(*)
(*Sinh đẻ đồng nghĩa với củ lạc. Nói vậy cho dễ đẻ)
Chị đón lấy mấy củ lạc, lặp lại y nguyên lời mẹ chồng. Bà Lã ló
đầu vào, vờ tỏ ra thương cảm, nói:
- Bồ Tát hiển linh, chúa Trời phù hộ cho nhà Thượng Quan được cả
hai niềm vui! Mẹ con Lai Đệ này, con bóc lạc để chờ đẻ nhé, con
lừa nhà ta sắp đẻ con so, mẹ không trông nom con được đâu.
Chị Lỗ cảm động nói:
- Mẹ cứ đi Chúa phù hộ cho con lừa nhà ta đẻ thuận!...
Bà Lã lại thở dài, lắc lư ra khỏi phòng.
3
Trên bệ cối xay bột ở chái tây để một cây đèn ạ đầy những vết
dâu mỡ. ánh đèn vàng vọt, leo lét, kéo theo một sợi khói đen
ngoằn ngoèo bay lên. Mùi thơm của đèn dầu trộn với mùi cút đái
của lừa. Không khí đầy ô nhiễm. Bên cạnh cối xay là máng cỏ của
lừa bằng dá xanh. Con lừa sắp đẻ của nhà Thượng Quan nằm nghiêng
giữa cối xay và máng.
Bà Lã bước vào trong chái, mắt chỉ nhìn thấy ngọn đèn, trong
bóng tối vọng ra câu hỏi của Phúc Lộc:
- Bà nó này, con trai hay con gái?
Bà Lã bĩu môi về phía chồng, không trả lời. Bà bước qua chỗ con
lừa đen. Thọ Hỉ đang ngồi nắn bụng lừa. Bà giận dữ bước tới bên
cửa sổ, xé toạc lớp giấy dán màu đen. Mười mấy luồng ánh sáng
màu vàng óng dọi qua các ô cửa sổ hình chữ nhật, soi sáng nửa bờ
tường đối diện. Bà quay lại chỗ cối xay bột thổi tắt ngọn đèn,
mùi dầu thực vật lập tức lan tỏa át hẳn mùi xú uế của gian trái.
Khuôn mặt đen nhẻm của Thọ Hỉ sáng lên lấp lánh dưới tia nắng,
cặp mắt lươn sáng lên như hai hòn than.
Anh ta rụt rè nhìn mẹ, hỏi nhỏ:
- Mẹ, ta cũng chạy chứ? Nhà Phúc Sinh Đường chạy cả rồi. Bọn
Nhật sắp tới!
Bà Lã nhìn con trai như nhìn một thỏi thép bị tôi hỏng, khiến
Thọ Hỉ phải đưa mắt nhìn đi nơi khác, mồ hôi rịn lấm tấm trên
mặt, vội vã cúi đầu xuống.
- Ai bảo mày là quân Nhật sắp đến? - Bà Lã giận dữ chất vấn con
trai.
- Ông chủ Phúc Sinh Đường vừa nổ súng báo hiệu vừa thông báo đấy
thôi! - Thọ Hỉ lấy mu bàn tày dính đầy lông lừa lau mồ hôi trên
mặt, khẽ lẩm bẩm. So với bàn tay hộ pháp của bà Lã, bàn tay của
Thọ Hỉ vừa nhỏ vừa mảnh mai. Anh ta chợt dùng tay, môi chúm chím
như trẻ ti sữa mẹ, ngẩng đầu lên, dỏng đôi tai bé tí lắng nghe:
- Bố mẹ ơi, nghe này!
Giọng Tư Mã Đình vẳng đến gian chái, nghe rõ mồn một:
- Các ông các bà ơi, các chú các cô ơi, các anh các chị ơi! Chạy
mau đi, trốn mau đi! Hãy lánh đến hoang mạc đông nam. Quân Nhật
sắp đến đấy! Nguồn tin chắc chắn đấy, tôi không nói bậy đâu! Bà
con ơi, đừng nấn ná nữa, chạy đi, đừng tiếc mấy gian nhà dột nát
làm gì! Người còn thì của còn, còn người là còn tất cả. Bà con
ơi, chạy mau, kẻo muộn hối không kịp!...
Thọ Hỉ bật dậy, cuống quít vì sợ:
- Bố mẹ nghe thấy chưa? Nhà ta cũng chạy thôi!
- Chạy đi đâu - Bà Lã cằn nhằn - Nhà Phúc Sinh Đường chạy là
phải rồi. Còn nhà ta kiếm ăn bằng nghề rèn, thóc vua không thiếu
một cân, thuế vua không thiếu một đồng, ai lên làm quan thì nhà
mình vẫn là người dân! Bọn Nhật không phải là người sao? Chúng
chiếm đông bắc thì cũng vẫn phải dựa vào người dân cày ruộng nộp
tô cho chúng. Ông nó này, ông là chủ nhà, tôi nói vậy có đúng
không?
Phúc Lộc miệng trễ xuống, để lộ hàm răng to khỏe vàng khè, nét
mặt không rõ cười hay khóc. Bà Lã nổi giận nói:
- Tôi hỏi ông, ông nhe răng nhe lợi ra làm gì? Đúng là vô tích
sự!
Ông Phúc Lộc nhăn nhó:
- Tôi biết gì mà hỏi! Bà bảo chạy thì tôi chạy, bảo không chạy
thì tôi ở lại.
Bà Lã thở dài, nói:
- Phúc hay họa đây? Họa thì có tránh cũng không thoát! Còn đứng
đực ra đấy làm gì? Nắn bụng cho con lừa mau!
Thọ Hỉ mấp máy môi, lấy hết can đảm hỏi to, giọng đứt quãng:
- Nó đẻ chưa?
Là đàn ông thì phải phân định công việc cho rõ ràng. Mày hãy
biết chăm sóc con lừa, còn chuyện vợ mày thì đừng bận tâm!
- Nhưng nó là vợ của con... Thọ Hỉ cằn nhằn.
- Chẳng ai bảo nó không phải vợ của mày! - Bà Lã nói.
- Con đoán lần này nó đẻ con trai - Thọ Hỉ vừa ấn bụng con lừa,
vừa nói.
- Mày là đồ bị thịt - Bà Lã buồn rầu, nói - Cầu Chúa phò hộ cho
mày!
Thọ Hỉ còn định nói câu gì đó, nhưng ánh mắt bà Lã khiến anh ta
câm miệng. Ông Phúc Lộc nói:
- Mẹ con bà ở dây, dể tôi ra ngoài phố xem sao!
- Ông cứ ở nhà cho tôi - Bà Lã túm lấy vai chồng, lôi đến bên
cạnh con lừa, giận dữ:
- Ngoài phố thì có gì để ông xem? Nắn bụng lừa đi, giúp nó đẻ
cho nhanh. Bồ tát ơi, Chúa ơi! Tổ tiên nhà Thượng Quan toàn
những anh hùng hảo hán, cắn sắt ngậm gang, mà sao lại đẻ ra
phường giá áo túi cơm như thế này?
Ông Phúc Lộc cúi xuống bên con lừa, giơ hai cánh tay khẳng khiu
như tay con trai, nắn bóp bụng con lừa đang co giật Thọ Hỉ ngồi
đối diện với ông, phía bên kia của con lừa. Hai cha con ngoảnh
mặt vào nhau, cùng trề môi, cùng nhăn răng, y hệt một cặp không
ai tồi tệ hơn ai. Cha nhổm lên thì con cúi xuống, cha cúi xuống
thì con nhổm lên, giống chơi trò bập bênh. Theo đà bập bênh, bốn
tay cùng vờ vĩnh xoa nắn. Hai cha con đều yếu ớt, nhẹ như bấc,
mềm như bông, vờ vịt qua quít cho xong việc. Bà Lã đứng phía sau
buồn bã lắc đầu, giơ bàn tay chẳng khác chiếc kìm sắt chộp lấy
cổ chồng xách sang một bên, tặc lưỡi:
- Xéo, tránh ra? - Rồi khẽ dúi một cái, Phúc Lộc loạng choạng
nhào ra tận góc phòng, phủ phục trên bao tải thức ăn gia súc.
- Đứng dậy! - Bà Lã quát con trai - - Chỉ tổ vướng chân vòng tay
người ta, ăn đói nhịn khát gì đâu mà cứ như phủi bụi? Trời ơi,
sao số tôi khổ thế này! - Thọ Hỉ như được phóng thích, bật dậy
chạy đến chỗ cha. Hai cha con chớp chớp cặp mắt đen, chẳng ra
giảo hoạt, chẳng ra ngây dại. Lúc này, tiếng rao của Tư Mã Đình
lại ởăng tới, cha con Thọ Hỉ như mót đái, mót ỉa, nhấp nhổm
không yên.
Bà Lã quì cả hai gối trước con lừa, hoàn toàn không để ý nền nhà
rất bẩn. Nét mặt trang nghiêm, bà xắn tay áo xoa xoa bàn tay thô
ráp nghe như cọ gót giày vào nhau. Bà áp một bên má vào bụng
lừa, mắt lim dim nghe ngóng. Rồi, bà vuốt ve đầu con lừa, giọng
thông cảm:
- Lừa ơi, bằng mọi giá phải đẻ bằng được, đàn bà con gái chúng
ta không ai tránh được vượt cạn.
Sau đó, bà khoát chân qua bụng lừa, hai tay đặt song song trên
bụng lừa như người ta bào gỗ, rồi dùng sức đẩy miết. Con lừa cất
tiếng rên, bốn chân đang co quắp duỗi dài ra, bốn móng rung lên
bần bật như gõ vào chiếc trống vô hình. Con lừa vươn dài cổ
trong khoảng không, dừng lại một lát rồi nặng nề đổ xuống, phát
ra một tiếng bịch.
- Lừa ơi, kiên nhẫn nhé! Ai bảo ta là đàn bà? Cắn răng lại, gắng
lên!...
Bà thì thầm với con lừa, hai tay thu lại trước ngực, rồi dồn sức
lấy hơi, lại đẩy tiếp. Con lừa quẫy đạp, mũi sủi bọt vàng, đầu
quật bình bịch. Phía sau, nước đái và phân lừa bắn tung tóe. Cha
con Phúc Lộc sợ hãi bung mặt.
- Bà con ơi, quân kỵ của Nhật đã xuất phát từ huyện lỵ. Tin
chuẩn xác đấy, không dựng chuyện đâu! Chạy đi, còn nấn ná là
không kịp!...
Cha con nhà Thượng Quan giương mắt nhìn bà Lã đang cúi đầu thở
dốc bên con lừa. Mồ hôi ướt đẫm chiếc áo cánh trắng, lộ rõ những
đường nét rắn rỏi trên cơ thể bà. Phía duỗi mông lừa là một bãi
máu tươi, một chiếc chân lừa xinh xắn ló ra từ âm đạo. Chiếc
chân lừa như một sự giả tạo, như có một người nào đó chơi ác,
cắm vào.
Bà Lã lại áp bên má co giật dữ dội vào bụng lừa nghe ngóng hồi
lâu. Thọ Hỉ thấy sắc mặt của mẹ như một quả hạnh chín nẫu, màu
vàng rộm. Lời cảnh báo của Tư Mã Đình cứ lượn đi lượn lại chẳng
khác ruồi nhặng đánh hơi thấy mùi tanh, đập vào tường, bám trên
thân lừa.
Thọ Hỉ run lên bần bật như cảm thấy tai họa sắp xảy ra. Anh ta
định bỏ chạy nhưng lại sợ. Anh ta mang máng hiểu rằng, ra khỏi
nhà là rơi vào tay bọn giặc lùn - những tên Nhật nhỏ thó, chân
tay ngắn ngủn, mũi củ hành, mắt như lục lạc, ăn gan uống máu
người không tanh, và bị chúng ăn thịt luôn, không chừa một mẩu
xương. Bây giờ thì chắc chắn chúng đã từng đàn từng lũ trong ngõ
nhà mình đuổi bắt đàn bà con trẻ, lại còn biết đánh gót xuống
đất, mũi thở phì phì như ngựa chiến. Anh ta liếc sang phía bố để
tìm sự an ủi và để lấy lại niềm tin, nhưng chỉ thấy sắc mặt của
bố sạm như màu đất. Ông ngồi trên bao tải, hai tay bó gối, đầu
và lưng liên tục đập vào tường. Không hiểu sao, Thọ Hỉ thấy sống
mũi cay xè, từ hốc mắt ứa ra hai giọt nước mắt dùng đục.
Bà Lã húng hắng ho, chậm rãi ngửng đầu lên. Bà vuốt ve khuôn mặt
con lừa, than thở:
- Lừa ơi, mày sao vậy hả? Mày lẩm cẩm rồi, phải là đầu ra trước
chứ?...
Nước mắt ứa ra từ cặp mắt đã thất thần của con lừa. Bà Lã dùng
tay lau nước mắt cho nó, hắt hơi một cái rõ kêu, rồi quay lại
bảo con trai:
- Đi mời ông ba Phàn. Tao đồng ý bỏ ra hai bình rượu và một thủ
lợn! Hừm, việc cần thì không thể tiết kiệm. Đi mời đi!
Thọ Hỉ rúm người lại, dưa mắt kinh hoàng nhìn ra ngoài, miệng
lắp bắp:
- Ngoài ngõ đầy quân Nhật, toàn là quân Nhật...
Bà Lã điên tiết đứng dậy sang phòng bên mở toang cổng. Làn gió
tây nam mang theo mùi thơm của tiểu mạch xuân, xộc vào trong
nhà. Ngõ vắng tanh. Một đàn bướm bay chấp chới ngang qua, để lại
trong tâm trí Thọ Hỉ ấn tượng rạng rỡ về màu sắc của chúng.
4
Nhà ông ba Phàn, thú y kiêm bà mụ của súc vật ở tận đầu thôn,
phía đông, nơi khởi đầu của vạt đất hoang chạy dài về phía dông
nam, sát bờ sông Mực. Sau nhà là con đê cao cao của sông Thuồng
Luồng, dài hàng trăm dặm. Bị mẹ thúc ép, Thọ Hỉ phải ra khỏi
nhà, sợ đến rủn đầu gối. Anh trông thấy mặt trời sáng lòa phía
trên rừng cây, những tấm kính màu của nhà thờ rục rỡ, và trên
cùng tầm cao với tháp chuông nhà thờ là đài quan sát, ông chủ
Phúc Sinh Đường đang nhảy như con choi choi trên đó, vừa lớn
tiếng thông báo quân Nhật sắp vào thôn, giọng đã bắt đầu khản
đặc.
Một số người nhàn rỗi đứng khoanh tay, ngẩng mặt lên nhìn. Thọ
Hỉ dừng lại ở đầu ngõ, phân vân lựa chọn lối đi đến nhà ba Phàn.
Có hai đường đến nhà ba Phàn: một đường qua phố lớn; một đường
đi dọc theo con đê. Đi đường đê thì sợ đánh động đàn chó đen nhà
họ Tôn. Ngôi nhà cũ kỹ của nhà họ Tôn nằm ở phía bắc của con
hẻm, có tiếng vây thấp, mặt trăng sạt lở mấy chỗ nhẵn bóng,
thường xuyên có lũ gà đậu ở đó. Chủ nhà họ Tôn là Tôn Đại Cô,
chỉ huy năm thằng cháu trai đều câm. Cha mẹ chúng như chưa hề
tồn tại trên đời. Chúng trèo qua tương, trèo đi trèo lại thành
năm chỗ lõm hình yên ngựa. Chúng ngồi nối đuôi như cưỡi ngựa
trên các vết lõm. Tay gậy tay cung, hoặc những thanh kiếm gỗ,
chúng giương những cặp mắt đầy lòng trắng, chăm chú dõi theo
những người hoặc động vật đi qua ngõ. Chúng tương đối lịch sự
đối với người, nhưng tuyệt đối không lịch sự với súc vật, bất kể
là trâu bò hay mèo chó, ngan ngỗng hay gà vịt, chỉ cần phát hiện
ra là đuổi kỳ cùng. Chúng dẫn theo đàn chó, biến thôn xóm thành
bãi săn. Năm ngoái, chúng hè nhau giết chết con la sổng chuồng
to bự của nhà Phúc Sinh Đường, lột da xẻo thịt giữa đường phố
đông đúc. Mọi người chờ đợi màn kịch sẽ xảy ra: Phúc Sinh Đường
là đại gia, có chú bác làm đến Trung đoàn trưởng, trong nhà nuôi
cả đội súng ngắn. Ngang nhiên làm thịt la của nhà họ, chẳng khác
tự tìm lấy cái chết.
Nhưng ông Hài nhà Phúc Sinh Động là Tư Mã Khố, một con người bắn
giỏi như thần, có miếng bớt bằng bàn tay trên mặt - không những
không rút súng ra, mà còn thưởng cho năm anh em nhà câm năm đồng
bạc trắng.
Từ đó, lũ trẻ câm càng ngạo ngược, súc vật mà gặp chúng, chỉ
tiếc không mọc thêm đôi cánh. Khi chúng cưỡi trên tường, năm con
chó mục đen tuyền uể oải nằm dưới chân, mắt lim dim như đang mơ
ngủ. Lũ trẻ câm nhà ho Tôn cùng đàn chó của chúng đều có thành
kiến sâu sắc với Thọ Hỉ ở cùng ngõ. Thọ Hỉ không hiểu vì sao, ở
đâu và từ khi nào đắc tội với đám yêu tinh này. Chỉ cần gặp cảnh
người trên tường, chó dưới chân là Thọ Hỉ biết mình săp gặp vận
đen, mặc dù mỗi lần đi qua, Thọ Hỉ đều mỉm cười với lũ câm,
nhưng vẫn không tránh khỏi đàn chó lao như tên bắn, xông ra tập
kích, dù chỉ là hù dọa, da thịt không bị đớp miếng nào, nhưng
vẫn khiến anh ta bị một phen khiếp hãi, cứ nghĩ đến là lại rùng
mình. Thọ Hỉ định đến nhà ông ba Phàn bằng con đường lớn xuyên
ngang thị trấn, nhưng theo con đường lớn tất phải đi qua trước
cửa nhà thờ, mà lúc này, ở đó có ông mục sư Malôa to lớn, tóc đỏ
mắt xanh, đang ngồi xổm vắt sữa dê dưới gốc cây hoa gạo tây với
thân cành đầy gai cứng. Hai bàn tay ông đỏ au đầy lông mịn màu
vàng vuốt trên bầu vú căng mọng của con dê cái già dưới cằm có
ba chòm râu. Những tia sữa màu trắng xanh vọt thành tiếng trong
chiếc chậu tráng men han gỉ. Từng đàn từng lũ nhặng xanh đầu đỏ
bay vòng quanh mục sư Malôa và con dê. Mùi hăng hắc của cây gạo,
mùi gây gây của sữa dê, mùi ngầy ngậy của mục sư, quyện vào nhau
và tỏa ra dưới ánh sáng mặt trời, ô nhiễm cả nửa đường phố. Thọ
Hỉ không chịu nổi cái nhìn lườm lườm đầy ác cảm của ông mục sư,
mặc dù nét mặt ông cố tỏ ra thân thiện với nụ cười thông cảm. Vì
là cười mỉm, nên ông mục sư hé môi, để lộ hàm răng trắng lóa,
bàn tay hộ pháp bẩn thỉu làm dấu trên bộ ngực đầy lông lá, A
men! Khi ấy, Thọ Hỉ chỉ thấy ruột gan lộn tùng phèo, một tình
cảm khó tả, khiến Thọ Hỉ cụp đuôi bỏ chạy như chó. Tránh đàn chó
dữ của lũ trẻ câm là vì sợ. Tránh mặt mục sư Malôa và con dê của
ông ta là vì ghét. Càng đáng giận hơn là vợ Thọ Hỉ có cảm tình
đặc biệt với ông tóc đỏ này. Cô ta là tín đồ trung thành của
ông. Ông là Thượng đế của cô.
Cân nhắc kỹ, Thọ Hỉ quyết định đi lên phía bắc rồi quặt sang
đông đến nhà ông ba Phàn, mặc dầu quang cảnh ở chỗ tháp canh rất
hấp dẫn. Ngoại trừ trên tháp canh Tư Mã Đình nhảy nhót như khỉ,
trong thôn vẫn bình thường. Thế là tâm trạng sợ Nhật tan biến,
Thọ Hỉ phục sát đất khả năng phán đoán của mẹ. Để phòng thân,
anh ta nhặt hai cục gạch cầm tay, nghe rõ tiếng lừa rống rất to
trên phố và tiếng gọi con của một người đàn bà nào đó.
Đi qua nhà họ Tôn, Thọ Hỉ sung sướng khi thấy trên tường vắng
tanh, khống có lũ trẻ câm cưỡi trên những chỗ lõm, đàn gà cũng
không, đàn chó cũng không nằm mơ dưới chân tường. Tường nhà họ
Tôn vốn rất thấp, những chỗ lõm lại càng thấp, Thọ Hỉ dễ dàng
nhìn vào trong sân, thấy ở đó đang diễn ra một cuộc đại tàn sát!
Kẻ bị giết là những con gà cao ngạo, kẻ ra tay tàn sát là bà nội
của lũ câm, một người đàn bà võ nghệ cao cường, mọi người gọi bà
là Tôn Đại Cô. Nghe nói Tôn Đại Cô hồi trẻ có phép khinh công,
là một tay cự phách trên chốn giang hồ, sau vì phạm trọng tội,
phải hạ mình lấy anh thợ đắp lò họ Tôn. Thọ Hỉ trông thấy trong
sân đã có bảy con gà bị giết. Trên nền đất phẳng phiu ngả màu
trắng, vương đầy những vòng tròn của vết máu gà. Đó là những con
gà giẫy giụa trước khi chết. Lại một con gà nữa bị cắt cổ. Tôn
Đại Cô quăng nó ra sân. Con gà nằm xạ, nhảy như choi choi thành
một vòng tròn. Năm thằng câm đều cởi trần, ngồi xổm giương mặt
nhìn những con gà xoay tròn giẫy chết, thỉnh thoảng lại nhìn bà
nội tay cầm con dao sắc lẹm. Nét mặt, cử chỉ của chúng giống
nhau đến kinh khủng, ngay cả đến cái đảo mắt hình như đều thống
nhất từ một hiệu lệnh. Tôn Đại Cô là người nổi tiếng ở thị trấn,
thực ra chỉ là một bà già, mặt mỏng mà đanh. Khuôn mặt bà, sắc
thái của bà, tầm cao và phong cách của bà, đều nói lên dĩ vãng,
người ta có thể đoán được vẻ đẹp của bà xưa kia. Năm con chó
ngồi chụm một chỗ, đầu nghểnh lên, ánh mắt đầy bí hiểm và hoang
dại, không ai đoán nổi chúng đang nghĩ gì?
Quang cảnh trong sân nhà họ Tôn như một trò chơi đầy ma lục, Thọ
Hỉ như bị hút chặt, không rời mắt và cũng không muốn bỏ đi. Anh
ta quên hết mọi sầu não, quên luôn ca mệnh lệnh của mẹ. Người
đàn ông nhỏ thó bốn mươi hai tuổi này, qua đầu tường nhìn vào
sân, anh ta cảm thấy ánh mắt sắc lạnh của Tôn Đại Cô nhìn về
phía mình như một lưỡi gươm, sắc như nước, mạnh như gió, hầu như
có thể phạt rơi đầu mình. Bọn trẻ câm và lũ chó của chúng cũng
nhìn ra. Mắt bọn trẻ cũng lóe lên những tia tinh nghịch, chúng
đang hồi hộp. Lũ chó ngoẹo đầu, nhe hàm răng sắc nhọn, gầm gừ
trong họng, đám lông cứng trên gáy dựng ngược. Năm con chó như
năm mũi tên đã đặt trên dây cung, sẵn sàng lao ra bất cứ lúc
nào. Thọ Hỉ đã định bỏ chạy, chợt nghe thấy Tôn Đại Cô dặng hắng
một tiếng, những nét mặt đang hoan hỉ của lũ câm bỗng ỉu xìu,
đàn chó tỏ ra phục tùng, duỗi dài chân trước, nằm bẹp xuống. Thọ
Hỉ nghe thấy Tôn Đại Cô hỏi, giọng dịu dàng:
- Thằng cả nhà Thượng Quan đấy hả? Mẹ cháu đang làm gì ở nhà!
Thọ Hỉ không biết nhất thời trả lời câu hỏi của Tôn Đại Cô như
thế nào, lời lẽ đã trào lên khóe miệng, nhưng y hệt một tên trộm
bị bắt quả tang.
Tôn Đại Cô thản nhiên mỉm cười, không hỏi gì thêm. Bà ta chộp
lấy con gà sống cuồng có bộ lông đuôi màu đen pha dỏ với những
chiếc lông mịn màng như nhung. Con gà sợ hãi kêu cùng cục. Bà
nhổ sạch túm lông đuôi của con gà, bỏ vào cái bị cói. Con gà
trống quẫy đạp điên cuồng, cặp móng sắc hất tung từng đám đất.
Tôn Đại Cô hỏi:
- Bọn trẻ nhà cháu biết đá cầu lông không? Lông đuôi gà nhổ khi
còn sống, làm cầu lông thì khỏi nói! Ôi, lại nhớ ngày nào...
Bà nhìn chằm chằm vào mặt Thọ Hỉ rồi ngừng bặt không nói nữa,
chìm trong một trạng thái đờ đẫn. Mắt bà như dính vào một điểm
trên tương, như muốn nhìn xuyên qua bức tường. Thọ Hỉ nhìn bà
không chớp, không dám thở mạnh. Cuối cùng, bà như một quả bóng
xì hơi, ánh mắt sáng rục trở lại dịu dàng, xa vắng. Bà dùng chân
chặn lên đôi chân con gà trống, kẹp đôi cánh gà vào hổ khẩu bàn
tay trái, ngón cái và ngón trỏ thì kẹp lấy cổ gà. Con gà không
động cựa. Bà dùng ngón cái và ngón trỏ vặt lông ở cổ gà, lộ ra
một mảng da màu đỏ tía.
Bà cong ngón giữa búng búng chỗ cổ con gà đã vặt lông. Rồi bằng
con dao lá liễu sắc như nước, bà nhẹ nhàng khứa một nhát. Những
giọt máu đỏ sẫm, giọt to nối tiếp giọt nho phóng ra... Tôn Đại
Cô giơ con gà đầy máu lên, chậm rãi đứng dậy nhìn xung quanh như
tìm kiếm vật gì ánh nắng rực rỡ khiến bà lim dim mắt. Thọ Hỉ đầu
óc quay cuồng. Mùi hoa hòe xộc vào mũi- Này! Thọ Hỉ nghe thấy bà
Tôn Đại Cô nói vậy. Con gà sống lộn một vòng trong không khí rồi
rơi xuống giữa sân. Thọ Hỉ thở dài nhẹ nhõm, vô tình rời tay
khỏi mép tường. Lúc này anh ta mới nhớ tới chuyện phải đi mời
ông ba Phàn đến đỡ đẻ. Chính lúc anh ta sắp sửa bỏ đi, thì như
có phép lạ, con gà trống xòe hai cánh đỡ lấy thân, đứng lên đầy
vẻ bất khuất. Nó đã bị vặt trụi lông đuôi, chiếc phao câu trần
trụi cong lên, trông vừa xấu xí vừa quái đản, khiến Thọ Hỉ vô
cùng kinh hãi. ở chỗ cổ con gà lồi ra một cục thịt, máu me đầm
đìa. Nó không giữ nổi cái mào vĩ đại trên đầu, cái mào trước đây
màu đỏ tươi, nay đã xám ngoét. Nhưng nó vẫn gắng ngẩng đầu lên,
lên chút nữa, ngừng lại, rồi lại lên nữa, rồi gục xuống. Con gà
lắc lư cái đầu chống đít xuống đất, máu sủi bọt ứa ra hai bên
mép và ở nhát cắt trên cổ. Mắt nó như hai đốm lửa màu vàng. Tôn
Đại Cô có vẻ bồn chồn. Bà ta lấy cỏ khô lau tay, miệng chuyển
động như đang nhai, nhưng thực ra bà chẳng ăn gì cả. Đột nhiên,
bà nhổ một bãi nước bọt, quát với lũ trẻ câm:
- Cút!
Thọ Hỉ ngã ngồi xuống đất.
Khi anh ta vịn vào tường để đứng lên thì lông gà đã bay lung
tung trong sân nhà họ Tôn. Con gà sống cuồng đã bị lũ chó xé tan
xác, máu thịt vương vãi khắp sân. Lũ chó dữ như dàn sói, tranh
nhau ăn bộ lòng của con gà. Lũ trẻ câm vỗ tay cười ngớ ngẩn. Tôn
Đại Cô ngồi trên bậu cửa, hút thuốc bằng tẩu cán dài, vẻ đăm
chiêu.
5
Bảy con gái nhà Thượng Quan: Lai Đệ, Chiêu Đệ, Lãnh Đệ, Tưởng
Đệ, Phán Đệ, Niệm Đệ, Cầu Đệ (*) bị cuốn hút bởi một mùi thơm
thoang thoảng.
(* Tất cả các tên đều tỏ ý mong có em trai)
Chúng từ chỗ ngủ ở chái đông ùa ra, chụm đầu nhìn vào trong cửa
sổ. Chúng trông thấy mẹ nửa nằm nửa ngồi trên giường, đang bóc
lạc như không có chuyện gì xảy ra. Nhưng mùi thơm thoang thoảng
rõ ràng là từ cửa sổ buồng mẹ bay ra. Cô lớn mười tám tuổi Lai
Đệ là người đầu tiên hiểu ra mẹ đang làm gì. Cô trông thấy mẹ
tóc ướt đẫm mồ hôi, môi dưới bật máu, bụng mẹ co thắt dữ dội và
nhặng xanh bay đầy phòng. Tay mẹ bóp nát từng hạt lạc. Lai Đệ
nức nở gọi mẹ. Sáu đứa em gái cũng gọi theo. Nước mặt chảy dài
trên khuôn mặt bảy đứa. Cầu Đệ, đứa nhỏ nhất thì gào tướng lên,
dẫm bành bạch đôi chân lấm tấm những vết đỏ vì bị bọ chó và muỗi
đốt lập cập chạy vào buồng mẹ. Lai Đệ chạy theo giữ em lại rồi
thuận tay bế nó lên. Cầu Đệ gào khóc, đấm vào mặt chị.
- Em vào với mẹ cơ... Em vào với mẹ cơ!...
Lai Đệ cảm thấy sống mũi cay xè, nước mắt nóng hổi tràn lên má.
Cô vỗ nhẹ vào lưng em gái, nựng:
- Em đừng khóc nữa, mẹ sẽ đẻ cho em một em trai thật bụ bẫm,
thật trắng trẻo!...
Trong buồng vọng ra tiếng rên yếu ớt và câu nói đứt quãng của
chị Lỗ:
- Lai Đệ con bảo các em đi nơi khác! Chúng nó còn nhỏ không hiểu
gì, chẳng lẽ con cũng không hiểu sao? Một tiếng động vang lên
trong buồng, cùng với tiếng gào to của chị Lỗ. Năm đứa trẻ đứng
chen chúc ngoài cửa sổ. Lãnh Đệ mười bốn tuổi khóc thét lên:
- Mẹ ơi, mẹ!
Lai Đệ đặt đứa em xuống, chạy ra ngoài bằng đôi chân đã bó nhưng
sau được giải phóng. Ngưỡng cửa mục làm em bị vấp, ngã chúi về
phía trước, đè lên chiếc bễ thổi lửa. Chiếc bễ đổ kềnh, làm vỡ
vụn chiếc thố men xanh đụng thức ăn cho gà. Lai Đệ hốt hoảng
đứng dậy, thấy bà nội đang quì trước bàn thờ Phật. Khói hương
tỏa quanh bức tượng Quan âm.
Lai Đệ run bắn lên. Cô dựng lại chiếc bễ, cuống quít nhặt nhạnh
những mảnh vỡ, làm như bằng cách đó, chiếc thố có thể lành lại
hoặc giảm nhẹ lỗi lầm của mình. Bà nội đứng vụt dậy, to lớn như
một con ngựa nòi, thân hình lắc lư, đầu giật giật, miệng tuôn ra
hàng tràng những câu khó hiểu. Lai Đệ co rúm người lại theo bản
năng, hai tay ôm đầu, chờ đợi. Nhưng bà nội không đánh cô, chỉ
xoắn vành tai mỏng và trăng bệch của cô, rồi dúi một cái. Cô ngã
lăn ra trên lối đi trải đầy những mảnh ngói vỡ trong sân.
Cô trông thấy bà nội cúi xuống quan sát những mảnh thố vỡ, y hệt
con trâu đang chuẩn bị uống nước ở bờ sông. Bà nội nhặt mấy mảnh
vỡ trên tay, gõ chúng vào nhau thành những tiếng vui tai. Những
vết nhăn sâu và dầy đặc trên khuôn mặt bà nội, hai mép trễ
xuống, nếp nhăn hai bên kéo dài xuống tận dưới cằm, khiến cái
cằm như một bộ phận khác gắn thêm vào mặt.
Lai Đệ nhân đó quì trên lối đi, vừa khóc vừa nói:
- Bà ơi, bà đánh chết cháu đi!
- Đánh chết mày hả? - Bà Lã mặt buồn rười rượi - Đánh chết mày
thì cái thố có lành lại được không? Đây là đồ sứ từ năm Vĩnh Lạc
triều Minh, của hồi môn từ đời cụ tổ nhà này, đáng giá một con
la chứ ít đâu!
Lai Đệ mặt trắng bệch, xin bà nội tha tội.
- Mày cũng đã đến lúc đi lấy chồng rồi đấy! - Bà Lã thở dài -
Sáng tinh mơ, việc thì không làm, chỉ nghịch tinh! Số mẹ mày là
cái số nghèo, chết thế nào được?
Lai Đệ ôm mặt khóc.
- Đánh vỡ đồ dùng lại còn kể công chắc? - Bà Lã không bằng lòng,
nói - Đừng có ở đấy mà quấy rầy người ta. Dẫn lũ em ăn bám của
cô ra sông mò tôm. Không đầy giỏ thì đừng có về nhà!
Lai Đệ vội vàng đứng dậy, bế Cầu Đệ lên, chạy ra cổng.
Như đuổi gà, bà Lã dồn lũ trẻ ra cổng rồi quẳng cho Lãnh Đệ
chiếc giỏ cao cổ đan bằng nhành liễu.
Lai Đệ tay trái bế Cầu Đệ, tay phải dắt Niệm Đệ, Niệm Đệ dắt
Tưởng Đệ, Tưởng Đệ lôi Phán Đệ. Lãnh Đệ một tay dắt Phán Đệ, tay
kia xách giỏ. Bảy đứa con gái nhà Thượng Quan dắt díu nhau, nức
nở sùi sụt, men theo con hẻm đầy nắng và lộng gió, đi về phía đê
sông Thuồng Luồng.
Khi đi qua nhà Tôn Đại Cô, mùi thơm điếc mũi khiến chúng thèm rỏ
rãi. Chúng trông thấy ống Khói nhà họ Tôn cuồn cuộn khói trắng.
Năm thằng câm cần cù như những con kiến, chuyển củi vào trong
nhà. Đàn chó mục nằm gác bên cổng. Chúng thè cái lưỡi đỏ chót
như đang chờ đợi điều gì đó.
Lũ con gái trèo lên con đê cao cao trên sông Thuồng Luồng, quang
cảnh nhà họ Tôn thu hẹp trong tầm mắt. Năm thằng câm đã phát
hiện ra chị em nhà Thượng Quan. Thằng lớn để ria mép loăn xoăn,
mỉm cười với Lai Đệ. Lai Đệ vụt đỏ mặt. Cô nhớ lại cách đây
không lâu khi đi lấy nước sông, thằng câm lớn đã quẳng vào thùng
nước của cô một quả dưa chuột. Nụ cười mỉm của thằng câm tuy trơ
trẽn nhưng không có ác ý. Lần đầu tiên tim cô đập dữ dội, máu
dồn lên mặt. Nghiêng mình xuống mặt nước phẳng như guồng, cô
thấy mặt mình đỏ ửng. Sau đó cô ăn quả dưa chuột, mùi vị của nó
đến bây giờ vẫn không thể quên. Đưa mắt nhìn lên, cô trông thấy
lầu chuông rục rỡ của nhà thờ và cái tháp canh được ghép bằng
những cây gỗ tròn. Một người dàn ông nhảy nhót trên đó như con
khỉ, gào lớn:
- Bà con ơi, kỵ binh Nhật đã ra khỏi thành!
Một đám người tụ tập dưới chân tháp nhìn lên. Người trên tháp
chốc chốc lại cúi xuống, tay bám lan can, hình như để trả lời
người đứng dưới. Trả lời xong, nguội đó lại đứng thẳng lên, đi
vòng quanh, hai tay chụm lại làm loa, quay ra bốn phía thông báo
tình hình quân Nhật sắp sửa kéo đến.
Trên con đường xuyên xã, chợt có một cỗ xe ngựa phi nước đại. Cỗ
xe như từ trên trời rơi xuống. Ba con tuấn mã kéo cỗ xe bánh cao
su, mười hai vó ngựa băm trên đường như gõ nhịp, cộc cộc cộc
cộc, bụi tung lên thành một vệt vàng. Một con màu vàng mơ, một
con đỏ như quả táo một con màu trắng đục. Ba con ngựa béo mọng
như được nặn bằng sáp, mình ngựa bóng nhẫy, màu lông khi ùn
người mê mẩn. Một người đàn ông nhỏ con đứng dạng chân sau dõng
xe, trông xa tưởng anh ta ngồi trên mông ngựa. Anh ta vung chiếc
roi ngựa có ngù đỏ, miệng quát: Hây hây, roi lia vút vút. Anh
bất chợt gò cương, những con ngựa như đứng thẳng lên, xe dừng
lại như bị chặn đứng, đám bụi vàng ào lên phía trước, che khuất
cả người ngựa và xe. Khi bụi tan đi, Lai Đệ trông thấy đám gia
nhân nhà Phúc Sinh Động khuân từng vò rượu, từng bó củi lên xe.
Một người đàn ông vạm vỡ đứng trên tam cấp ngoài cổng Phúc Sinh
Đường, đang quát tháo. Một vò rượu rớt xuống đất, một tiếng bịch
nặng nề vang lên, chiếc nút bằng bong bóng lợn bắn ra, rượu chảy
tràn ra đường. Mấy gia nhân lao tới dựng vò rượu lên. Người đàn
ông vạm vỡ từ trên bậc tam cấp nhảy xuống, vung roi đánh mấy
người kia, chiếc roi uốn lượn như một con rắn dưới ánh năng mặt
trời. Mùi rượu theo gió bay tới. Cánh đồng mênh mông, lúa mạch
cuồn cuộn từng đợt sóng vàng. Trên đỉnh tháp, người đàn ông lại
hét to:
- Chạy đi bà con ơi, chậm là mất mạng đấy!
Rất nhiều người ra khỏi nhà, tíu tít bận rộn như một đàn kiến,
và cũng chẳng việc nào ra việc nào như đàn kiến. Người thì di,
người chạy, người đứng yên bất động, người chạy đông, người chạy
tây, người loay hoay tại chỗ, ngó hết chỗ này ngó chỗ khác. Lúc
này, mùi thơm trong nhà họ Tôn càng đậm, làn hơi trắng ra ngoài
cổng. Lũ trẻ câm im hơi lặng tiếng, mảnh sân im lìm, chỉ có từng
chiếc xương trong nhà quẳng ra, khiến lũ chó mực tranh nhau
quyết liệt. Con nào cướp được thì chúi đầu vào xó tường nhai rau
ráu. Con nào không cướp được thì đỏ mắt nhìn vào trong nhà, gầm
gừ rên rỉ.
Lãnh Đệ kéo tay Lai Đệ nói:
- Chị ơi, về nhà!
Lai Đệ lắc đầu, nói:
- Không được, phải xuống sông bắt tôm đã. Mẹ sinh em bé, cần có
canh tôm để ăn.
Chúng dìu nhau xuống chân đê, cả bọn đi thành hàng một, mặt
hướng ra sông. Dòng sông in rõ những gương mặt thanh tú của các
cô gái nhà Thượng Quan, cô nào cũng sống mũi cao, vành tai đầy
đặn và trắng. Đây cũng là đặc trưng rõ nét của chị Lỗ - mẹ
chúng. Lai Đệ rút trong túi ra một chiếc lược bằng gỗ hồ đào,
lần lượt chải cọng rơm và bụi trên tóc cho từng đứa em, đứa nào
đứa ấy kêu oai oái. Cuối cùng, Lai Đệ chải tóc cho mình, tết
thành chiếc đuôi sam to tướng, thả sau lưng vừa chấm mông. Cô bỏ
chiếc lược vào túi, xắn quần, lộ rõ cặp đùi thon thả, trắng bóc.
Tiếp theo, cô tụt giày, đôi giày bằng nhung xanh lục. Các em
nhìn đôi bàn chân tàn phế một nửa của chị. Cô bỗng nổi cáu:
- Nhìn cái gì? Có gì mà nhìn? Không mò được tôm, bà già không
tha cho chúng ta đâu
Các em gái của cô nhanh chóng tụt giày, xắn quần. Cô út Cầu Đệ
còn tụt hẳn quần ra. Cô đứng trên bãi sông được phủ một lớp bùn,
ngắm nhưng cụm cỏ nước mềm mại lượn lờ theo dòng chảy. Cá nô
giỡn trong đám cỏ. Chim én bay như chạm mặt nước. Cô lội xuống
sông, nói to:
- Cầu Đệ ở trên nhặt tôm, tất cả xuống nước!
Các em cô ríu rít lội xuống sông.
Cô cảm thấy, do bó chân, nên gót chân phát triển hơn mức bình
thường của cô lún sâu xuống bùn. Những lá cỏ nước mơn trớn bắp
chân, khiến cô cảm thấy buồn buồn, một cảm giác khó diễn tả. Cô
cúi xuống, hai tay rà sát gốc những cụm cỏ nước và những dấu
chân chưa bị bùn lấp đầy. Lũ tôm rất thích nép mình trong những
dấu chân này. Một con vật nhỏ nhảy vọt lên giữa hai tay, cô mùng
rỡ, con tôm cong cong, dài bằng ngón tay trỏ, trong suốt, đã bị
kẹp giữa hai ngón. Con tôm rất linh hoạt, mỗi sợi râu đều rất
đẹp. Cô quăng nó lên bờ, Cầu Đệ rất hỉ hả, vừa reo lên ra nhặt
con tôm bỏ vào giỏ.
- Chị ơi, em bắt được một con
- Chị ơi, em bắt được rồi!
- Em bắt được rồi!
Cầu Đệ mới hai tuổi, không kham nổi công việc nhặt tôm. Nó bị
ngã, ngồi bệt xuống đất mà khóc. Vài con tôm có súc bật khỏe,
nhảy xuống sông, lập tức biến mất. Lai Đệ lên bờ xốc em dậy, dắt
xuống mép nước, dùng tay rửa bùn trên mông Cầu Đệ. Mỗi lần cô
tạt nước, Cầu Đệ lại giật thót một cái, miệng la chí chóe, đôi
lúc xen lẫn những câu chửi tục. Lai Đệ phát cho em một cái vào
mông, rồi buông ra. Cầu Đệ chạy như bay lên giữa sườn dê bẻ một
cái roi, rồi bắt chước một bà già nanh ác, tay cầm roi, mắt vằn
lên, lớn tiếng nguyền rủa chị, khiến Lai Đệ không nhịn được
chơi.
Các cô gái đã mò đến khúc sông trên, kế cận đầu cầu. Bãi sông
sáng lấp lóa. Mấy chục con tôm nhảy tanh tách. Một đứa em kêu
lên:
- Chị ơi! nhặt nhanh lên!
Cô xách giỏ lên, mắng Cầu Đệ:
- Con ranh, về nhà sẽ biết tay!
Rồi cô vui vẻ nhặt những con tôm vào giỏ, nhặt liên tục nên
không có thì giờ rầu rĩ.
Cô buột miệng hát, khúc hát mà cô cũng không nhớ rõ học được ở
đâu:
- Mẹ là mẹ ơi, sao mẹ nỡ dứt tình, gả bán con cho anh hàng dầu?
Rất nhanh, cô đuổi kịp các em. Chúng men theo mép nước gần bờ,
vai kề vai, cúi lom khom, chổng mông lên trời, cằm gần như chạm
nước, hai tay mở ra, áp sát lại, vừa sục sạo vừa tiến lên. Nước
sông trở nên đục ngầu sau lưng chúng. Một số cụm cỏ nước bị dứt
lá, nổi lên. Mỗi khi chúng đứng thẳng lên là chắc chắn bắt được
một con tôm, lúc thì Phán Đệ, lúc Tưởng Đệ... Năm đứa em hên tục
ném tôm cho chị. Lai Đệ chạy đi chạy lại để nhặt tôm: Cầu Đệ bám
sau lưng chị.
Thoáng cái, các cô đã tiến sát cây cầu đá bắc qua sông Thuồng
Luồng. Lai Đệ gọi các em:
- Lên đi, lên cả đi! Đầy giỏ rồi! Về nhà thôi!
Các em cô còn tiếc rẻ chưa muốn về, dừng lại trên bãi. Ngón tay
chúng trắng bệch vì ngâm nước, chân dính đầy phù sa.
- Chị ơi, sao hôm nay nhiều tôm thế!
- Chị ơi, chắc mẹ đã đẻ em bé rồi!
- Chị ơi, giặc Nhật là gì hở chị? Chúng có ăn thịt trẻ con
không?
- Chị ơi, nhà anh câm giết gà đề làm gì?
- Chị ơi, sao bà nội cứ mắng bọn em?
- Chị ơi, em mơ thấy trong bụng mẹ có con cá trạch...
Bọn em gái luân phiên hỏi chị. Cô chẳng trả lời đứa nào cả. Cô
chăm chú nhìn chiếc cầu đá ánh lên màu xanh xám. Từ trong thôn,
cỗ xe ba ngựa kéo lúc nãy, đang chạy lên cầu.
Anh xà ích người thấp bé gò cương cho ba con ngựa dừng lại.
Những con ngựa bực bội gõ móng, tiếng gõ sắc gọn, mặt cầu tóe
lửa. Mấy người đàn ông đều cởi trần, thắt lưng da to bản, khóa
thắt lưng sáng loáng như bằng vàng. Lai Đệ biết bọn họ. Họ là
gia nhân của nhà Phúc Sinh Đường. Họ nhảy xuống xe, dỡ các bó
cây cao lương xuống trước, rồi sau đó là các vò rượu, tất cả
mươi hai vò. Họ ôm lấy cổ ngựa, đẩy lùi cả ngựa lẫn xe xuống chỗ
bãi đất trống đầu cầu. Lúc này cô trông thấy nhân vật số hai nhà
Phúc Sinh Đường - Tư Mã Khố, cưỡi chiếc xe đạp phóng tới. Đây là
chiếc xe đạp đầu tiên xuất hiện trên vùng Cao Mật hẻo lánh, do
Đức sản xuất, nhãn hiệu IFA, một nhãn hiệu nổi tiếng thế giới.
Ông nội Phúc Lộc của cô vì tò mò, nhân lúc không ai để ý, sờ một
cái vào tay nắm, khiến Tư Mã Khố trừng mắt. Đó là chuyện mùa
xuân năm ngoái. Tư Mã Khố mặc chiếc áo ngoài bằng lụa tơ tằm,
quần vải tây màu trắng, bắp chân quấn xà cạp xanh, đi ủng đế
trắng. Hai ống quần rộng phồng lên như bơm đầy hơi. Vạt áo vén
lên dắt vào thắt lưng. Thắt lưng bằng lụa trắng, bỏ múi dài múi
ngắn. Phần trên người mặc gì thì không nhìn thấy. Vai trái đeo
chéo một dây da màu nâu, móc giữ một bao da, miệng bao ló ra mẩu
lụa đỏ. Chuông xe kêu reng reng, Tư Mã Khố lướt tới như một trận
gió. Hắn nhảy xuống xe, bỏ chiếc mũ cói xuống làm quạt, chỗ bớt
ở mặt đỏ như miếng tiết.
Hắn lớn tiếng lệnh cho gia nhân:
- Mau lên, đem củi chất lên mặt cầu, tới rượu vào thiêu chết bọn
chó đẻ.
Gia nhân tíu tít ôm các bó củi lên cầu, chỉ một lát đã chất cao
đến nửa người. Những con côn trùng sống ký sinh trong củi hốt
hoảng bò ra, bay loạn xạ, con thì rơi xuống nhóc, làm mồi cho
cá, con thì bị chim én đớp.
- Đổ rượu lên củi! - Tư Mã Khố quát to.
Các gia nhân khiêng những vò rượu lên cầu, mở nút, nghiêng vò
tưới trên đống củi. Rượu ngon, mùi thơm ngây ngất trên dòng
sông. Những bó củi loạt soạt. Rượu chảy tràn ngang mặt cầu, rớt
như mưa xuống lòng sông. Nước chảy róc rách dưới chân cầu. Đổ
hết mười hai vò, cả cây cầu như tắm bằng rượu. Những bó cao
lương khô đã đổi màu. Mép cầu như treo một bức màn bằng rượu.
Chùng hút tàn điếu thuốc, cá con dưới sông đã nổi lên trắng xóa.
Các em của Lai Đệ định xuống sông mò cá. Lai Đệ gằn giọng quát:
- Đừng xuống nữa, theo chị về nhà!
Chuyện lạ trên cầu lôi cuốn các em. Chúng đứng yên. Thật ra,
cảnh tượng trên cầu cũng cuốn hút Lai Đệ. Cô kéo các em về,
nhưng mắt vẫn không rời cây cầu. Tư Mã Khố đứng trên cầu, vẻ đắc
ý, vỗ tay bôm bốp, hai mắt rục sáng: Hắn cười hỉ hả. Hắn khoe
khoang với bọn gia nhân:
- Diệu kế này chỉ ta mới có thể nghĩ ra! Mẹ kiếp, chỉ có ta mới
nghĩ ra. Bọn nhóc Nhật mau mau đến chịu chết!
Bọn gia đinh phụ họa theo. Một gia đinh hỏi to:
- Thưa ông Hai, bây giờ nổi lửa được chưa?
Tư Mã Khố nói:
- Hượm hẵng, đợi chúng đến hãy đốt!
Bọn gia nhân xúm xít vây quanh Tư Mã Khố, đi về phía đầu cầu.
Cỗ xe của Phúc Sinh Đường cũng trở về thôn.
Trên cầu trở lại yên tĩnh, chi còn tiếng rơi tí tách của rượu
xuống mặt nước.
Lai Đệ tay xách giỏ, dẫn các em rẽ nhưng bụi cây lúp xúp mọc đầy
sườn đê, trèo lên. Đột nhiên, cô nhìn thấy một khuôn mặt đen
nhẻm lấp ló trong bụi cây. Cô hoảng hốt kêu lên, chiếc giỏ trong
tay rơi xuống, dập dềnh trên những cành quán mộc rồi lăn đến tận
mép nước. Tôm trong giỏ văng ra, nhảy trên bãi như những đốm
sáng. Lãnh Đệ chạy theo chiếc giỏ còn các em thì nhặt tôm vương
vãi trên cát. Lai Đệ đi thụt lùi về phía bờ sông, mắt không rời
khuôn mặt đen. Mặt đen cố nở một nụ cười ra vẻ cáo lỗi, hai hàm
răng trắng lóa những tia như vỏ xà cừ. Cô nghe thấy người đó nói
nhỏ:
- Em gái dừng sợ, chúng tôi là du kích. Đừng nói gì cả, mau rời
khỏi chỗ này!
Lúc này cô mới thấy rõ, trong các bụi cây có đến mấy chục người
mặt áo xanh. Mặt đanh lại, mắt mở to, có người cầm súng trường,
người cầm lựu đạn, người thì đại đao có tua lụa hồng. Ngụm đàn
ông răng trắng mặt den, nét mặt vui vẻ, tay phải cầm khẩu súng
lục có ánh thép xanh, tay trái cầm một vật phát ra tiếng kêu
tích tắc. Sau này, cô mới biết đó là chiếc đồng hồ bỏ túi. Và
chính con người mặt đen đó, cuối cùng đã chui vào chăn của cô.
6
Ba Phàn rượu ngà ngà, bước vào cổng nhà Thượng Quan với vẻ không
bằng lòng. Quân Nhật sắp đánh đến nơi, con lừa nhà cậu chọn thật
đúng lúc! Nói thế nào nhỉ? Lừa nhà cậu, nhưng do ngựa của nhà
tôi phối giống, bắn súng phải đền đạn. Cậu mặt dạn mày dầy, cứt,
cậu có giữ thể diện đâu mà xấu hổ Tôi là tôi nể mặt mẹ cậu. Mẹ
cậu với tôi... hà hà... mẹ cậu rèn cho tôi một cái nạo vó
ngựa...
Thọ Hỉ mặt đẫm mồ hôi, bước theo sau ba Phàn.
- Ba Phàn! - bà Lã gầm lên - Đồ gấu chó làm gì mà khệnh khạng
thế!
Ba Phàn lấy hết can đảm, nói:
- Ba Phàn đã đến đây rồi!
Vừa trông thấy con lừa nằm dưới đất, ba Phàn đã tỉnh rượu quá
nửa.
- Chà chà, đến nông nỗi này kia à!
Lão quăng chiếc túi da trên vai xuống, sờ tai, vỗ vỗ bụng con
lừa, lại vòng ra phía đuôi, ấn ấn cái chân lừa con thò ra ngoài
âm đạo. Lão đứng thẳng lên, lắc đầu buồn bã, nói:
- Muộn rồi, thế là hết! Năm ngoái, khi con trai bác dắt lừa đến
phối giống, tôi có nói là, con lừa nhà cậu thuộc loại tép riu,
tốt nhất nên cho phối với lừa, nhưng cậu ta không nghe lời
khuyên của tôi, cứ nhất định đòi phối với ngựa! Con ngựa giống
nhà tôi là giống ngựa Đông Dương thuần chủng, vó của nó còn lớn
hơn đầu lừa nhà bà. Nó mà nhảy, lừa nhà bà xụm ngay, chẳng khác
gà trống nhảy chim sẻ! Cũng chính là con ngựa giống của tôi được
dạy dỗ tốt, nên nó nhắm mắt lại mà phủ con lừa, phải là con ngựa
khác thì, cứt! Thế nào? Không đẻ được hả? Con lừa nhà bà không
phải là loại đẻ ra la, lừa nhà bà chỉ có thể đẻ ra lừa!...
- Ba Phàn, có im đi không nào! - Bà Lã cắt ngang lời lão
- Xong rồi, nói xong rồi!
Lão vớ lấy cái túi da khoác lên vai, trở lại trạng thái say
rượu, dình bỏ ra về. Bà Lã túm lấy cánh tay lão, nói:
- Ba Phàn, bỏ đi như vậy mà được à?
Ba Phàn cười:
- Bà chị ơi, bà chị không nghe thông báo của lão Phúc Sinh Đường
sao? Thôn xóm chạy sạch rồi! Lừa hay tôi quan trọng hơn.
Bà Lã nói:
- Ông Ba này, ông sợ tôi để ông thiệt, đúng không? Hai bình rượu
ngon, một thủ lợn béo, ông không thiệt! Nhà này tôi là chủ.
Ba Phàn ngó cha con nhà Thượng Quan, cười:
- Tôi biết, chị giữ chân kìm của lò rèn, đàn bà cởi trần quai
búa tạ, thì cả Trung Quốc mới có chị là một! Sức ấy mà...
Lão cười ranh mãnh. Bà Lã phát cho lão một cái, nói:
- Đồ ôn dịch! Anh Ba đừng đi. Gì thì cũng là hai sinh mạng! Ngựa
giống là con trai của anh, con lừa này là con dâu của anh, con
la trong bụng nó là cháu nội anh. Anh trổ tài, nó sống thì cảm
ơn anh, thưởng cho anh; nó chết, không trách anh, mà chỉ trách
tôi kém phúc!
Ba Phàn đâm ra khó xử, nói:
- Bà chị bắt tôi phải thông gia với lừa ngừa, tôi còn gì để nói
nữa? Thử chữa lợn què thành lợn lành xem sao!
- Phải rồi. Anh Ba này, đừng nghe lão Tư Mã điên nói bậy. Bọn
Nhật đến nơi khỉ ho cò gáy này làm gì? Vả lại, anh làm là làm
việc phúc đức. Ma quỉ cũng tránh người hiền nữa là...?
Ba Phàn mở túi da, lấy ra một lọ chất nước màu xanh, nói:
- Đây là thần được gia truyền, chuyên trị gia súc đẻ khó. Dùng
thuốc này mà vẫn không đẻ thì đến Tôn Ngộ Không sống lại cũng
đành bó tay! - Các cha - lão gọi cha con Phúc Lộc - Lại dây giúp
một tay!
Bà Lã nói:
- Để tôi! Lão ta vụng về lắm!
Ba Phàn nói:
- Nhà Thượng Quan gà mái gáy, gà sống không đẻ trứng!
Phúc Lộc nói:
- Chú Ba, muốn chửi thì cứ chửi thẳng, đừng cạnh khóe làm gì!
Ba Phàn nói:
- Cáu hả?
Bà Lã nói:
- Đừng múa mép nữa. Nói xem làm gì bây giờ?
Ba Phàn đáp:
- Nâng đầu lừa lên, cho nó uống thuốc!
Bà Lã đứng dạng chân, nín thở, nâng đầu lừa lên. Cái đầu cựa
quậy mũi thở phì phì.
- Cao nữa lên! - Ba Phàn nói to.
Bà Lã lại cố nâng cao nữa, mũi bà cũng thở phì phò. Ba Phàn khó
chịu nói:
- Cha con ông chết cả rồi hay sao?
Bố con Phúc Lộc sán lại, suýt nữa dẫm phải chân lừa. Bà Lã trừng
mắt. Ba Phàn lắc đầu. Cuối cùng cũng nâng được đầu lừa lên cao.
Con lừa bập bập cặp môi dầy, nhe răng ra. Ba Phàn dùng cái phễu
bằng sừng trâu, rót thuốc vào miệng lừa rồi bảo:
- Xong rồi! Đặt xuống!
Bà Lã thở hồng hộc.
Ba Phàn rờ rẫm nhét thuốc vào tẩu, ngồi xổm đánh diêm châm
thuốc, rít một hơi thật sâu. Hai làn khói trắng thở ra từ hai lỗ
mũi. Lão nói:
- Bọn Nhật đã chiếm huyện ly, giết Huyện trưởng Trưởng Duy Hán,
cưỡng hiếp vợ ông ta!
Bà Lã hỏi:
- Lại là tin từ nhà Tư Mã phải không?
Ba Phàn đáp:
- Không. Người anh em kết nghĩa của tôi nói vậy. Nhà lão ở Cửa
Đông.
Bà Lã nói:
- Tin ngoài mười dặm, khó mà đúng sự thật?
Thọ Hỉ nói:
- Gia nhân nhà Tư Mã Khố lên cầu đánh hỏa công, sao lại không
thật?
Bà Lã giận dữ nhìn con trai, nói:
- Ra gì cái thá đàn ông như anh! Con thì một đống. Trên cổ anh
là quả bí hay cái đầu? Các người thử nghĩ, người Nhật thì cũng
cha sinh mẹ đẻ, với ta không thù không oán, vậy chúng làm gì ta?
Chạy à, chạy nhanh đến mấy cũng không bằng hòn đạn. Trốn hả,
trốn đến bao giờ?
Nghe bà Lã lên lớp, cha con nhà Thượng Quan im thin thít, không
dám nói lại một câu. Ba Phàn gõ tẩu cho sạch tàn thuốc, đằng
hắng mấy tiếng, nói:
- Bà chị nhìn xa thấy rộng, suy xét đâu ra đấy. Chị nói vậy tôi
cũng đỡ lo. Đúng vậy, chạy đi đâu bây giờ? Trốn đi đâu bây giờ?
Người thì có thể bỏ chạy, nhưng còn con lừa, con ngựa giống của
tôi lừng lững như trái núi thì trốn vào đâu? Trốn mồng một chẳng
thoát ngày rằm, mẹ kiếp! Đếch cần, hãy đỡ đẻ cho con lừa đã!
Bà Lã vui vẻ nói:
- Đúng rồi!
Ba Phàn con phắt áo ngoài, xiết chặt thắt lưng, đặng hắng mấy
cái, như võ sĩ sắp sửa lên vũ dài. Bà Lã gật đầu lia lịa tỏ vẻ
tán thưởng:
- Ông Ba này, phải vậy chứ! Trâu chết để da, người ta chết để
tiếng. Con lừa mẹ tròn còn vuông thì tôi biếu thêm một vò rượu
nữa, đánh trống khua chiêng cho anh đăng quang.
Ba Phàn nói:
- Bà chị nói gì lạ vậy? Ai bảo con lừa nhà chị lấy giống nhà
tôi? Vậy là khoán giống, khoán thu nhập, đã khoán thì khoán đến
cùng! Lão đi quanh con lừa một vòng, lay lay cái chân con lừa
con, lẩm bẩm:
- Bà thông gia lừa ơi, đây là vượt cạn, là qua Quỉ Môn Quan, bà
ráng lên cho lão Ba này mở mày mở mặt!
Lão vỗ vỗ đầu con lừa, gọi to:
- Các cha, đem thừng và đòn gánh ra đây! Xốc nó dậy! Nằm không
đẻ được!
Cha con Phúc Lộc nhìn bà Lã. Bà Lã nói cứ làm theo lời ông Ba.
Cha con Phúc Lộc lấy thùng và đòn gánh ra. Ba Phàn luồn dây
thừng dưới nách con lừa, thắt nút.
- Cậu sang phía bên kia- Ba Phàn bảo Thọ Hỉ.
Ba Phàn thử cái nút cho chắc, bảo Phúc Lộc lồng đòn qua. Từ hai
phía, cha con Thọ Hỉ nâng hai đầu đòn. Ba Phàn bảo cúi xuống,
đặt đòn gánh lên vai. Cha con Thọ Hi làm theo.
- Được rồi - Ba Phàn nó i- Cứ thế, đừng vội. Tôi bảo đứng lên
hãy đứng. Có tí tẹo sức nào thì vận hết ra, thành công hay không
là ở lúc này. Con lừa không để vậy được đâu! Bà chị, lại đây phụ
tôi một tay, chớ để nó què.
Lão vòng ra phía đuôi con lừa, phủi tay, cầm lấy cây đèn trên
cối xay bột, dốc dầu vào lòng bàn tay, xoa đều, rồi thổi phù một
cái. Sau đó, lão thủ luồn tay vào cửa mình con lừa. Con lừa quẫy
lung tung. Lão cho tay luồn sâu nữa, cổ lão gần chạm cái chân đỏ
hỏn của con lừa con. Bà Lã nhìn không chớp, môi run lên. Tốt rồi
- Ba Phàn giọng ồm ồm - Các bà, tôi hô một hai ba, đến ba thì
đứng thẳng lên, đừng giở quẻ, đúng lúc mà sụm lưng là toi. Tốt,
cổ lão chạm vào mông lừa, cánh tay lút sâu vào âm đạo như đang
tìm kiếm đồ vật rơi trong đó. Một, hai, ba nào! Cha con nhà
Thượng Quan hè lên một tiếng biểu thị một sức mạnh hi hữu, rồi
cùng đứng lên. Theo đà đó, con lừa được xoay mình lại, hai chân
trước co lên, cổ vươn ra, hai chân sau cũng được xoay lại, gập
nếp dưới thân lừa. Cùng với thân con lừa xoay chuyển, Ba Phàn
gần như nằm dài dưới đất. Không trông thấy mặt lão, chỉ nghe
tiếng lão quát, nâng lên, lên chút nữa. Cha con nhà Thượng Quan
cố nhón gót nâng con lừa lên cao hơn. Bà Lã chui xuống dùng lưng
đỡ dưới bụng lừa. Con lừa hộc lên một tiếng, đứng dậy. Cùng lúc
ấy, một vật to, bóng nhẫy, vọt ra từ cửa mình con lừa, cùng với
máu và nước ối dính nhơm nhớp, đầu tiên là rơi vào lòng Ba Phàn,
rồi sau đó tưới ra mặt đất.
Ba Phàn móc nhớt rãi cho con lừa con, dùng dao cắt rốn, thắt
thành một cái nút, rồi bế còn lừa ra chỗ sạch. Lau nhớt trên
mình lừa bằng miếng vải khô. Bà Lã nước mắt lưng tròng, lẩm bẩm:
- Cảm tạ trời đất, cảm ơn Ba Phàn! Cảm tạ trời đất, cảm ơn Ba
Phàn
Con lừa con run rẩy đứng lên lại ngã xuống. Lông nó mượt như tơ,
môi đỏ sẫm như cánh hồng nhung. Ba Phàn dìu con lừa dậy, khen:
- Khá đấy, đúng là giống nhà ta, ngựa là của ta, chú nhóc ạ, chú
là cháu ta, ta là ông nội của chú (*). Bà chị ơi, nấu cho con
dâu tôi một tí cháo. Nó đã cho ta một sinh mạng rồi!
(* Ngựa phối giống với lừa, đẻ ra la Người dịch)
7
Lai Đệ dắt một cô em gái vừa chạy được mấy chục bước chân thì
nghe trên trời có tiếng rít như xé vải. Cô ngửng lên xem con
chim nào có tiếng kêu quái gở đó. Một tiếng nổ long trời lở đất
vang lên sau lưng, ở giữa dòng nước. Tai cô ù đi, mắt nảy đom
đóm. Một con cá trê rách bươm văng đến trước mặt, vài vệt máu
tươi vuơng trên đầu con cá màu vàng xỉn, cặp râu dài rung rung,
ruột vắt lên lưng. Rơi cùng với con cá trê, là một cột nước đục
ngầu, nóng hổi hổi, đổ ụp xuống đầu làm cô ướt đẫm. Cô mụ người
đi, ngoảnh lại nhìn các em như mơ ngủ, các em cũng đờ đẫn nhìn
cô. Cô trông thấy một nắm cỏ nước nhão nhoét như ợ ra từ miệng
trâu, bám trên tóc Niệm Đệ. Trên má Tưởng Đệ dính bảy tám vẩy cá
màu bạc. Giữa lòng sông, cách các cô mười mấy bước, từng cuộn
khói đen là là mặt nước, một cái xoáy khổng lồ, những giọt nước
nóng bỏng tung lên trời, lả tả rơi xuống. Một làn khói trắng
mỏng lan khắp. Cô ngửi thấy (các em cô cũng ngửi thấy, vì cánh
mũi chúng phập phồng) mùi thuốc súng nồng nặc. Cô cố phán đoán
tình hình, tuy không rõ ràng, nhưng một cảm giác không an toàn
đang len lỏi trong cô. Cô định kêu lên, nhưng nước mắt đã ứa ra.
Sao mình lại khóc nhỉ! Cô nghĩ. Cô không khóc, nhưng vì sao lại
có nước mắt? Đầu óc rối tinh như mớ bòng bong, tất cả, cây cầu
rực sáng, dòng sông sôi sùng sục, những bụi tầm ma dày đặc,
những con chim én hốt hoảng, các em gái đứng ngây như phỗng...
tất cả quyện vào nhau, mờ mờ ảo ảo. Cô trông thấy đứa em nhỏ
nhất nhếch miệng ra, mắt nhắm tịt, hai dòng nước mắt trên má.
Trong không trung, tiếng rì rào lan xa như tiếng vỏ đậu khô phơi
dưới nắng. Có một bí mật ẩn sau những bụi cây thấp lè tè trên
sườn đê, sột soạt, như có đàn thú nhỏ đang ẩn. Những người đàn
ông trong bụi cây im hơi lặng tiếng, những cành cây nhỏ vẫn thản
nhiên chĩa lên trời, lá tròn như đồng tiền rung rinh. Có đúng là
họ đang nấp trong đó không? Họ làm gì ở trong ấy? Cô suy đoán
một cách khó khăn, bỗng nghe thấy một giọng như cố kìm lại, từ
rất xa vẳng tới:
- Nằm xuống các em ơi! Các em ơi, nằm xuống!...
Cô đưa mắt sục sạo mong tìm ra nơi phát ra tiếng gọi trên, trong
đầu như có con cua đang bò, đau buốt đến không chịu nổi. Cô
trông thấy một vật đen sì từ trên trời rơi xuống. Lòng sông chỗ
gần cầu từ từ dựng lên một cột nước đường kính bằng thân con
trâu. Lên cao đến ngang mặt đê, cột nước nở ra rồi trút xuống,
trông giống một cây thùy liễu. Tiếp theo, xộc vào mũi cô, là mùi
thuốc súng, mùi bùn, mùi tôm cá. Tai cô ù lên, không nghe thấy
gì cả, nhưng hình như cô nghe được một tiếng trầm đục lan ra tứ
phía.
Lại một vật đen sì nữa rơi xuống lòng sông, một cột nước lại
dựng lên. Một mảnh màu xanh, cạnh cuốn lên lởm chởm như răng
chó, cắm xuống đất bãi. Cô cúi nhặt, đầu ngón tay bỗng tỏa khói
nhẹ, cảm giác đau rát lập tức chạy khắp cơ thể. Đột nhiên cô lại
nghe thấy tiếng ồn, hình như cảm giác đau rát là từ trong tai
chui ra, đẩy lỗ tai đang bị nút chặt mà chui ra. Nước sông sôi
sùng sục, hơi nuộc mịt mù. Tiếng nổ vang rền, lan xa.
Trong sáu chị em thì ba đứa ngoác miệng ra gào, ba đứa kia bịt
chặt tai, nằm sấp, mông đít vổng lên, chẳng khác nào chim đà
điểu rúc đầu trong cát khi gặp nguy hiểm.
- Em ơi! - Cô lại nghe thấy tiếng gọi rất to từ trong bụi cây -
Nằm xuống mau! Nằm xuống, bò lại đây!...
Cô bò trên mặt đất để tìm người vừa gọi. Cuối cùng thì cô đã
thấy: trong bụi cây, người đàn ông lạ mặt răng trắng mặt đen
đang vẫy cô:
- Bò lại đây mau!
Đầu óc mụ mị của cô bỗng lóe sáng. Cô nghe thấy tiếng ngựa hí,
ngoái lại, cô thấy một con ngựa nhỏ màu vàng kim, cái bờm đỏ như
lửa dựng ngược, từ phía nam chạy lên đầu cầu. Con ngựa xinh đẹp
không đeo rọ mõm, thuộc loại choai choai, chưa đến tuổi trưởng
thành, ngạo nước, nhanh nhẹn, đầy sức sống. Đó là con ngựa của
nhà Phúc Sinh Đường, con của con ngựa giống Đông Dương nhà Ba
Phàn. Ba Phàn yêu con ngựa giống như con. Con ngựa màu vàng kim
này chính là cháu đích tôn của lão. Cô biết và rất thích con
ngựa choai này, nó thường chạy qua ngõ nhà cô, khiến bọn chó nhà
Tôn Đại Cô tức điên lên. Con ngựa chạy đến giữa cầu bỗng dùng
lại, hình như đống củi trên cầu chặn mất lối đi và cũng hình như
đầu váng mắt hoa vì rượu đổ trên cầu. Nó ngoẹo đầu, chăm chú
nhìn đống củi. Nó đang suy nghĩ. Nó nghĩ.
Lại có tiếng rít trên không, ánh chớp lóa mắt nở bung trên cầu,
một đám lửa bùng lên một tiếng nổ như từ nơi rất cao rất xa dội
lại. Cô trông thấy con ngựa nhỏ bị tan xác, một cái cẳng chín
tái, dính đầy lông văng tới bụi tầm ma, một dịch thể vừa cay vừa
chua trào lên cổ khiến cô muốn nôn ọe. Cô chợt hiểu ra. Nhìn cái
cẳng ngựa, cô nhìn thấy chết chóc. Một nỗi sợ ập đến, cô bủn rủn
chân tay, răng va vào nhau lập cập. Cô vụt dậy, lôi các em vào
bụi.
Sáu đứa em vây chặt xung quanh cô như sáu tép tỏi bám quanh củ
tỏi. Cô nghe thấy cách đây không xa, giọng nói quen thuộc đang
gào lên điều gì đó, nhưng đã bị dòng sông sôi ùng ục át mất.
Cô ôm chặt đứa em nhỏ nhất, cảm thấy mặt nó nóng bừng. Mặt sông
tạm thời yên tĩnh, khói trắng tan dần. Lại có tiếng rú rít trên
trời, kéo theo một vệt sáng, vọt qua con đê Thuồng Luồng nổ
trong thôn, tiếng ùng oang vang rền như sấm. Từ trong thôn vẳng
lại tiếng phụ nữ la khóc, tiếng đổ vỡ của những vật nặng. Bên
kia bờ đê không một bóng người, chỉ trơ trụi một cây hòe cổ thụ.
Phía dưới, dọc theo bờ sông, là một hàng liễu rủ. Những quái vật
đáng sợ đó từ đâu mà ra nhỉ? Cô nghĩ. Chà chà! Tiếng kêu làm đứt
đoạn dòng suy tưởng của cô. Qua kẽ lá cô nhìn thấy ông Hai nhà
Phúc Sinh Động cưỡi xe đạp IFA phóng lên cầu. Ông ta lên cầu làm
gì nhỉ? Chắc chăn là vì con ngựa, cô nghĩ. Nhưng Tư Mã Khố tay
dắt xe, tay kia cầm bó đuốc cháy rừng rực, rõ ràng không phải vì
con ngựa. Con ngựa nhà ông ta xương thịt tung tóe, máu nhuốm đầu
cầu, đỏ cả nước sông. Tư Mã Khố vội xuống xe, ném bó đuốc vào
đống củi đã tẩm đẫm rượu, ngọn lửa xanh bùng lên và lan ra rất
nhanh. Tư Mã Khố quay xe, không kịp nhảy lên, dắt xe chạy trở
lại. Đám lửa xanh đuổi theo sau. Tư Mã Khố luôn miệng kêu chà
chà, rất kỳ quặc. Một tiếng nổ đanh, chiếc mũ cói rộng vành trên
đầu Tư Mã Khố bay vọt lên như một con chim, xoay tròn rồi rơi
xuống nước. Ông ta quẳng xe, ngã dúi rồi bò lổm ngổm trên cầu
như chó. Tằng tằng tằng, súng nổ ran như pháo tép. Tư Mã Khố
miết bụng trên cầu trườn xuống như con thằn lằn, chỉ một thoáng
đã mất dạng. Cây cầu cháy đùng đùng, toàn lửa xanh, cao nhất là
ngọn lửa ở giữa, không có khói. Mặt sông cũng biến thành màu
xanh. Luồng hơi nóng bỏng ập tới nghẹt thở, mũi khô rát, ào ào
như gió. Những cành tầm ma ướt sũng như đổ mồ hôi, lá quăn lại,
héo quắt Lúc này cô nghe rõ tiếng chùi của Tư Mã Khố:
- Đ. chị thằng Nhật! Mày qua được Lư Câu Kiều, nhưng không qua
nổi cái cầu lửa này! Rồi Tư Mã Khố cười lớn:
- Ha ha ha.. ha ha ha.
Tiếng cười chưa dứt, phía đê bên kia sông đã trông thấy những
cái đầu lô nhô đội mũ vàng, tiếp đó là nửa người trên và đầu
ngựa. Rồi mấy chục người cưỡi những con ngụa cao lớn đứng đây
mặt đê. Tuy khoảng cách có đến vài trăm mét, nhưng cô thấy ngựa
của bọn Nhật cao lớn chẳng kém con ngựa giống Đông Dương của nhà
Ba Phàn. Nhật, giặc Nhật tới rồi. Thế là bọn Nhật đến thật
rồi!... Quân kỵ Nhật thúc ngựa xuống dốc đê. Mấy chục con ngựa
chen nhau lội xuống dòng sông. Cô nghe thấy bọn chúng quát tháo.
Ngựa ùn xuống nước, hí vang. Nước ngập chân ngựa, mấp mé bụng
dưới. Quân Nhật ngồi thẳng trên yên, mặt hơi ngửa lên. Mặt nước
phản quang trên những khuôn mặt sáng tối lốm đốm, không phân
biệt được mắt và mũi. Ngựa vươn cổ như dình phi nước đại nhưng
không thể. Chúng lội nước một cách khó nhọc. Sóng vờn dưới bụng
ngựa, Lai Đệ có cảm giác đó là những tia lửa nhỏ, khiến chúng
càng vươn dài cổ ra, rùng mình liên tục; nửa dưới đuôi thả trong
dòng nước. Bọn lính nhấp nhô trên mình ngựa. Chúng dùng cả hai
tay giữ dây cương, chân duỗi thẳng trên bàn đạp, triển khai đội
hình theo tuyến tán binh. Cô trông thấy con ngựa hồng cao lớn
chợt khựng lại giữa sông, dỏng đuôi ị một bãi. Tên lính Nhật sốt
ruột, thúc gót giày vào bụng ngựa.Con ngựa vẫn đứng yên, đầu lắc
mạnh, hàm thiết kêu lách cách.
- Đánh đi, anh em ơi!
Từ lùm cây bên trái có tiếng hô to, tiếp đó là một tiếng nổ đùng
đục như đập mẹt. Rồi tiếng súng rộ lên, to có nhỏ có, lúc thưa,
lúc mau. Một cục đen sì bốc khói trắng rơi xuống sông, nổ đánh
ầm, dựng lên một cột nước. Tên lính Nhật cưỡi ngựa hồng bóng
dưới lên một cái rất kỳ quặc rồi bật ngửa, hai tay chới với, một
dòng máu đen vọt ra khỏi ngực bắn lên đầu ngựa, bắn cả xuống mặt
nước. Con ngựa hồng chồm lên, lộ hẳn hai vó trước và cái ức to
khỏe, bóng loáng. Khi con ng |