|
Bị
giáng chức làm phó huyện trưởng, Lỗ Lập Nhân đứng trên bệ tế ở
đầu nấm mộ của vị cử nhân Đan Đình đời Tiền Thanh, gân cổ ra mà
gào bài phát biểu có tính động viên cho cuộc rút lui. Chủ đề
diễn thuyết của anh ta là: Mùa đông năm nay đã bắt đầu, vùng Cao
Mật trở thành chiến trường, không sơ tán đi nơi khác thì cầm
chắc cái chết? Lũ quạ đậu kín những cây tùng, đậu trên các mộ,
trên người đá ngựa đá. Chúng quà, chúng quạ ầm ĩ, phá đám cuộc
diễn thuyết của Lỗ Lập Nhân, khiến dân chúng càng kinh hoảng,
góp phần tăng thêm quyết tâm cùng chính quyền huyện, khu rút
chạy.
Một tiếng súng nổ vang, cuộc rút chạy bắt đầu. Đám người đông
như kiến ồn ào tản ra. Thế là lừa kêu ngựa hí, gà bay chó chạy,
bà già khóc mếu, trẻ con kêu gào: Một thanh niên nhanh nhẹn tay
cầm cờ đỏ, cưỡi ngựa trắng, chạy ngược chạy xuôi trên con đường
đất phèn kéo dài vô tận về phía dông bắc, chốc chốc lại phất
ngọn cờ chỉ hướng cho dòng người tiến lên. Đi đầu là đơn vị gồm
hơn chục con la chở hồ sơ giấy má của huyện phủ, dưới sự điều
khiển của hơn chục chú lính, uể oải cất bước. Cuối đoàn la là
những con lạc đà còn lại từ thời Tư Mã Khố, với bộ lông dài bẩn
thỉu màu vàng xỉn, thồ hai hòm sắt tây. ở vùng Cao Mật đã lâu,
nó đang từ lạc đà biến thành trâu. Đi liền sau lạc đà, là đội
dân phu khênh cỗ máy in của huyện và một số máy móc của xưởng
sửa chữa cơ khí huyện. Hơn chục dân phu, đều là đàn ông, quần áo
đều mỏng, trên vai mỗi người đều có tấm đệm vai hình lá sen. Qua
bước chân loạng choạng và cái dáng mắm môi mắm lợi của họ, thì
biết máy móc rất nặng.
Sau đội dân công, là đội ngũ tạp nham của dân chúng. Đám cán bộ
huyện, khu như Lỗ Lập Nhân và Phán Đệ thì cưỡi lừa hoặc ngựa
chạy lên chạy xuống trên những vạt đất phèn, cố duy trì tình
trạng có trật tự. Nhưng mặt đường quá hẹp, quá chật chội, mà hai
bên đường thì lại rộng rãi bằng phẳng, dân chúng bèn bỏ con
đường, mở rộng đội hình theo hàng ngang dẫm lép bép trên những
vảy đất đi về hướng đông bắc. Ban đầu là một cuộc rút lui, nhưng
nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy vô cùng lộn xộn.
Cả nhà tôi bị kẹt trong dòng người đông đặc, lúc thì đi trên
đường, về sau cùng không rõ là đang đi trên đường hay đi dưới
ruộng. Mẹ đeo bao đay trước ngực, đẩy chiếc xe cút kít bánh gỗ
hai càng cách nhau khá xa, mẹ phải đang rộng tay hết cỡ. Hai
chiếc sọt hình hộp buộc hai bên xe, sọt bên trái là Lỗ Thắng Lợi
và chăn gối, quần áo của cả nhà, sọt bên phải là Câm anh và Câm
em. Tôi và Sa Tảo Hoa mỗi người một bên, vịn vào sọt mà đi cùng
xe. Chị Tám mù thì bám vạt áo mẹ, lếch thếch đi cuối cùng. Chị
Lai Đệ lúc tỉnh lúc lú thì đi trước xe, vai khoác dây, lưng gập
lại, cổ ươn ra như kiếp trâu kéo. Chiếc xe rít kin kít chói tai,
mẹ và chị Cả thở như kéo bễ, bàn chân nhỏ khiến chị và mẹ cực kỳ
vất vả. Ba đứa trẻ trên xe đầu ngất ngưỡng, quay hết bên nọ đến
bên kia xem cảnh huyên náo. Chúng tôi dẫm chân lên đất phèn lạo
xạo, mũi ngửi mùi mặn của muối, lúc đầu rất thú, nhưng đi được
vài dặm thì đầu váng mắt hoa, chân tay bủn rún, mồ hôi ướt đầm
trong nách. Con dê trắng khỏe mạnh như lừa của tôi ngoan ngoãn
theo sau, nó rất hiểu ý người, không cần dùng đến thừng chạc.
Hôm ấy có gió bấc nhẹ nhưng buốt như cắt tai. Trên cánh đồng
mênh mông cuộn lên những làn bụi trắng. Đó là hỗn hợp của muối,
phèn và kiềm. Vào mắt, mắt chảy nước, vào da, da đau rát, ăn vào
miệng thì chẳng ngon lành gì? Mọi người ngược gió mà đi, mắt
nhíu lại. Những dân phu khiêng máy người ướt đẫm quần áo, nhất
loạt biến thành người trắng. Mẹ cũng đã thành người trắng, lông
mi lông mày trắng toát, tóc cũng trắng.
Khi tiến vào vùng trũng và ẩm ướt, bánh xe chuyển động khó khăn.
Chị Cả phía trước đánh vật với con đường, sợi dây kéo hằn sâu
vào thịt. Không trông thấy mặt chị, chỉ nhìn thấy lưng áo mồ hôi
từng mảng. Tiếng thở của chị khiến người ta phát hoảng. Còn mẹ
thì sao? Nói rằng đẩy xe, thực ra mẹ chẳng khác Chúa Giêsu chịu
cực hình.
Cặp mắt u buồn của mẹ đẫm nước mắt. Nước mắt trộn mồ hôi chảy
từng vệt dài trên mặt mẹ. Chị Tám đeo sau mẹ như một cái bị.
Chúng tôi để lại phía sau vết hằn rất sâu của bánh xe, nhưng nó
lại bị xóa hoặc mờ đi bởi những bánh xe, chân người và gia súc
của những toán đi sau. Phía trước, phía sau, bên phải, bên trái
chúng tôi đều là những người tị nạn. Những khuôn mặt quen và
không quen đều trở nên mơ hồ. Tất cả đều vất vả, người vất vả
ngựa vất vả, lừa vất vả. Tương đối dễ chịu là con gà mái trong
bọc bà lão, và con dê của tôi. Nó nhanh nhẹn, trên đường đi nó
tranh thủ ăn được một ít lá khô.
Mặt trời rọi những tia nắng xuống mặt đất nhiễm phèn, ánh phản
quang làm lóa mắt, làn sáng trắng đi động trên mặt đất từng mảng
màu bạc. Cánh đồng hoang mênh mông làm cho phía trước giống như
biển bắc trong truyền thuyết.
Đến trưa, y như bệnh hay lây, mọi người không ai bảo ai mà cũng
chẳng hiệu lệnh nào cả, nhất loạt ngồi xuống nghỉ. Không có
nước, cổ họng khô bỏng, lưỡi rát như bị dao cứa, đưa đẩy trong
miệng rất khó khăn. Mũi phả hơi nóng nhưng lưng và bụng thì lạnh
toát, gió thổi khô mồ hôi, quấn áo cứng như tôn lá. Mẹ ngồi trên
một càng xe, lấy trong sọt một cái bánh bột ngô, bẻ đôi chia cho
chúng tôi. Chị Cả cắn một miếng, đôi môi khô nẻ của chị tóe máu,
vài giọt thấm vào bánh. Ba sinh vật nhỏ trên xe mặt mày xanh tái
chẳng khác lũ quỉ trong đền, chẳng còn ra hình người. Chúng
không chịu ăn, cau có. Chị Tám nhe hàm răng trắng, đều dặn, nhấm
từng tí một chiếc bánh khô cứng.
Mẹ thở dài, nói:
- Đây là những chủ trương tốt đẹp của các ông bố bà mẹ yêu quí
của các cháu?
Sa Tảo Hoa sụt sịt:
- Ngoại ơi, mình về nhà đi! Mẹ nhìn đoàn người đông như kiến cỏ
mà thở dài, không nói gì. Mẹ bảo tôi:
- Kim Đồng, từ nay phải thay đổi cách ăn.
Mẹ lấy trong bọc ra chiếc bình gốm có in ngôi sao năm cánh đi
đến phía sau con dê, dùng tay phủi sạch cát bụi trên vú nó. Con
dê không chịu, mẹ bảo tôi ôm lấy đầu nó. Tôi ôm lấy cái đầu lạnh
như đá của nó, xem mẹ vắt sữa. Sữa rỏ tưng giọt vào bình. Con dê
chắc là không thoải mái, nó đã quen với việc cho tôi nằm ngửa
dưới bầu vú nó mà bú. Cái đầu nó lắc lắc trong tay tôi, lưng nó
cong lên, cựa quậy như con rắn. Mẹ nhắc lại câu nói mà tôi rất
sợ:
- Kim Đồng, khi nào thì con có thể ăn cơm?
Những năm tháng qua tôi đã từng ăn thử, nhưng dù tôi ăn những
thức ngon đến mấy, dạ dày tôi vẫn không chịu, ăn vào là nôn ọe,
nôn ra mật xanh mật vàng. Tôi xấu hổ nhìn mẹ, tự kiểm điểm
nghiêm khắc bản thân, vì cái tật này mà thêm biết bao phiền toái
cho mẹ, đồng thời cho tôi. Tư Mã Lương đã từng hứa chữa khỏi tật
này cho tôi, nhưng từ khi nó bỏ trốn, tôi không gặp lại nó. Bộ
mặt láu cá và đáng yêu của nó ẩn hiện trước mặt tôi. Lổ đạn có
vết gỉ đồng xanh trên trán Tư Mã Thượng và Tư Mã Hoàng phát ra
những tia đáng sợ. Tôi nhớ lại khung cảnh hai đứa nằm chung
trong một quan tài nhỏ bằng gỗ liễu. Mẹ lấy miếng giấy hồng điều
dán vào lỗ đạn, biến vết đạn thành nốt ruồi trang điểm của
người.
Mẹ đã vắt được nửa bình sữa, đứng dậy tìm cái chai mà ngày trước
cô Đường cho Sa Tảo Hoa bú, mở nút, đổ sữa vào chai. Mẹ đưa chai
sữa cho tôi. Để khỏi phụ lòng mong mỏi của mẹ, vì tự do và hạnh
phúc của tôi, tôi kiên quyết nhét đầu vú cao su màu vàng nhạt
vào miệng. Chiếc đầu vú cao su không súc sống làm sao sánh được
bầu vú màu phấn hồng đẹp tuyệt của mẹ tôi, đó là sự yêu thương,
là thơ ca, là bầu trời cao vời vợi, là mảnh đất thuần hậu dập
dềnh sóng lúa; cũng không sánh được bầu vú to tướng, căng phồng,
đầy những vết tàn nhang của con dê. Bầu vú cao su là một vật
chết, tuy bóng loáng nhưng không mịn màng. Cái đáng sợ nhất là
nó là không mùi vị. Một cảm giác lạnh tanh và lờm lợm trong
miệng. Vì mẹ và vì bản thân, tôi cố nén cảm giác ngán ngẩm, cắn
nó một cái, nó hăng hái rít lên một tiếng khe khẽ, một ít sữa
mằn mặn rỉ ra một cách khó khăn thấm trên khoang miệng và đầu
lưỡi tôi. Tôi lại ti một ngụm nữa. Tôi nhủ thầm: ngụm này cho
mẹ, ngụm này cho Kim Đồng. Tôi tiếp tục ti, vì Lai Đệ này, vì
Lãnh Đệ này, vì Tưởng Đệ này, vì tất cả những người trong nhà
Thượng Quan đã yêu tôi, đã thương tôi, đã giúp đỡ tôi vì Tư Mã
Lương, thằng nhỏ thông minh nhanh này, cũng có quan hệ máu mủ gì
với nhà Thượng Quan chúng tôi. Tôi nín thở, dùng công cụ đưa
chất nuôi sống vào cơ thể. Khi tôi đưa trả mẹ cái chai, nước mắt
ràn rụa trên mặt mẹ. Chị Lai Đệ cười sung sướng. Sa Tảo Hoa nói:
- Cậu lớn rồi!
Tôi cố gắng kiềm chế cảm giác buồn nôn và cái đau âm ỉ ở dạ dày,
coi như không có chuyện gì xảy ra, tiến lên vài bước như một
trang tu mi nam tử và đứng đái theo chiều gió, và hứng lên, tôi
bơm chất nước màu vàng đó đi thật xa. Tôi trông thấy con đê:
trên sông Thuồng Luồng nằm vắt ngang, cái nóc nhọn của nhà thờ
và cây bạch dương chọc trời của nhà Tư Phạm. Chúng tôi vất vả cả
một buổi sáng, vậy mà chỉ mới đi được một đoạn đường ngắn đến
thảm hại.
Bị giáng xuống làm Chủ nhiệm Hội phụ nữ cứu quốc khu, chị Phán
Đệ cưỡi con ngựa chột mắt trái, trên mông phải có đóng đấu bằng
chữ số ả rập, từ phía tây đi đến. Con ngựa của chị vẹo cổ một
cách quái gở, vụng về cất bước với những bộ vó lóng ngóng phát
ra những tiếng lạch cạch, khập khiễng đi lại chỗ chúng tôi. Nó
là con ngựa ô đực, sau khi bị thiến, nó trở thành con ngựa thái
giám, giọng the thé, tính tình quái đản. Bốn chân và cái bụng
của nó dính một lớp đất phèn màu trắng, yên cương thấm đẫm mồ
hôi bốc lên mùi chua loét. Trong một thời gian dài, con ngựa rất
nhu mì, nhu mì đến nỗi bọn trẻ tinh nghịch có thể vặt lông đuôi
của nó. Nhưng một khi nó đã nổi máu thì có thể làm những chuyện
động trời.
Mùa hè năm ngoái, khi ấy là thời đại của Tư Mã Khố, nó cắn một
miếng vào đầu Phùng Lan Chi, con gái ông lái ngựa Phùng Quí, cô
bé đã tưởng không sống được, trán và sau gáy để lại những vết
sẹo khủng khiếp. Loại ngựa như vậy lẽ ra phải giết quách, nhưng
nghe nói nó từng lập chiến công nên ân xá. Nó đứng trước cỗ xe
nhà tôi, giương con mắt độc nhỡn nhìn con dê của tôi. Con dê của
tôi cảnh giác lùi lại chỗ có đất phèn dày nhất, liếm những phấn
trắng trên mặt đất. Chị Phán Đệ vẫn tỏ ra nhanh nhẹn dù rằng cái
bụng của chị đã lùm lùm. Chị xuống ngựa. Tôi nhìn bụng chị, đoán
thử hình dáng đứa trẻ trong đó, nhưng không đoán nổi, chỉ nhìn
thấy những vết ố trên bộ quân phục màu xám của chị.
- Không nên dừng lại ở đây. Mẹ ơi, chúng con đã chuẩn bị nước
nóng, cơm trưa ở thôn trước mặt, ta phải đến đó - Phán Đệ nói.
Mẹ nói:
- Phán Đệ, mẹ bảo này, mẹ không muốn rút với các con nữa!
Phán Đệ cuống quít lên:
- Mẹ, dứt khoát không được, quân địch trở lại lần này hoàn toàn
khác với những lần trước, một ngày giết bảy ngàn người ở khu vực
Bột Hải. Bọn Hoàn Hương Đoàn hiếu sát, giết cả mẹ đẻ.
Mẹ nói:
- Tao không tin lại có người giết cả mẹ đẻ.
Chị Phán Đệ nói:
- Mẹ, dù thế nào chăng nữa cũng không thể để mẹ quay lại, quay
lại là tự đâm đầu vào lưới, chắc chắn là chết! Mẹ không lo cho
mẹ thì thôi, nhưng phải nghĩ đến những đứa này chứ?
Chị lấy trong xắc cốt cái lọ nhỏ mở nút đổ ra mấy viên thuốc màu
trắng đưa cho mẹ, nói:
- Đây là vitamin, một viên bằng một cây cải bẹ và hai quả trứng,
mẹ, khi nào mệt mỏi chịu không nổi thì mẹ uống một viên, chia
cho bọn trẻ một viên. Ra khỏi vùng đất phèn là đường dễ đi, bà
con Bắc Hải sẽ nhiệt tình đón tiếp chúng ta. Mẹ, đi ngay đi,
đừng ngồi ở đây nữa!
Chị túm lấy bờm ngựa, lồng chân vào bàn đạp nhảy lên yên vội vã
chạy đi, vừa chạy vừa nói to:
- Bà con ơi, dậy mà đi, trước mặt là Vương Gia Khưu, có nước
nóng có dầu mỡ, có củ cải có hành tây, chuẩn bị sẵn cả rồi!...
Được khuyến khích, mọi người đứng dậy, tiếp tục cuộc hành trình.
Mẹ lấy khăn tay gói mấy viên thuốc chị Phán Đệ cho, bỏ vào túi,
rồi vớ lấy hai càng xe:
- Nào, ta đi các con.
Đội quân rút lui ngày càng dài ra, nhìn trước không thấy đầu,
nhìn sau không thấy cuối. Chúng tôi đã tới Vương Gia Khưu. Vương
Gia Khưu không có nước nóng cũng không có dầu, càng không có củ
cải hành tây! Đội la của huyện đã rời đây trước khi chúng tôi
đến, cỏ khô và phân la vung vãi là vết tích của họ để lại. Dân
chúng đốt đống lửa ở giữa sân để nướng lương khô. Mấy đứa con
trai dùng cành cây đào hành dại ở ngoài đồng. Khi chúng tôi rời
Vương Gia Khưu thì bắt gặp Thằng Câm dẫn hơn chục đội viên đi
vào. Hắn không xuống ngựa, móc trong túi hai củ khoai lang chín
dở và một củ cải đỏ ném vào sọt trên xe, suýt bươu đầu Thằng Câm
em.
Tôi đặc biệt chú ý cái cười nhe cả lợi của hắn với chị Cả, cái
cười của sài lang hổ báo? Gì thì chị Cả từng đính hôn với hắn.
Những người có mặt không bao giờ quên màn trình diễn kinh hồn
giữa hắn với chị bên bờ đầm. Các đội viên đều đeo súng tiểu
liên, Thằng Câm đeo lủng lẳng trước ngực bốn quả địa lôi đen
bóng.
Khi mặt trời gác núi, chúng tôi kéo theo cái bóng dài lê thê,
lần tới một thôn nhỏ. Trong sân tiếng người ồn ào tất cả các ống
khói của các gia đình đều tuôn khói trắng. Nhân dân nằm đầy
đương, ngổn ngang như củi. Một số cán bộ mặc quần áo xám len lỏi
giữa đám đông. Bên giếng nước đầu thôn, người xếp hàng dài chờ
lấy nước, người len vào đã đành, súc vật cũng len vào. Mùi nước
giếng trong lành khiến mọi người phấn chấn, con dê của tôi cũng
hếch mũi lên, hắt hơi rõ to. Chị Lai Đệ cầm cái bát rạn vừng men
xanh, nghe nói cái bát này là đồ cổ có giá len vào lấy nước. Mấy
bận đã tưởng chị len vào được lại bị người ta dẩy bật ra. Một
dân phu làm cấp dưỡng cho huyện nhận ra chúng tôi, bèn xách đến
một thùng nước. Sa Tảo Hoa và chị Cả là những người đầu tiên
chạy tới quì xuống vục đầu vào trong thùng uống nước, vội đến
nỗi cụng đầu vào nhau. Mẹ không bằng lòng, trách chị Cả:
- Cho bọn nhỏ uống trước chứ!
Chị Cả sững lại, Sa Tảo Hoa đã uống ừng ực như con bê, chỉ khác
con bê ở chỗ hai tay bám lấy mép thùng.
- Thôi cháu, uống ít thôi kẻo đau bụng - Mẹ khuyên, nắm vai nó
đẩy ra.
Nó liếm môi như vẫn còn thèm, nước reo ùng ục trong bụng nó. Chị
Cả uống một trận, lúc đứng lên, bụng chị lớn hơn nhiều. Mẹ múc
nước bằng bát cho Câm anh, Câm em và Sa Tảo Hoa uống. Sau đó là
chị Tám, chị đánh hơi lần đến chỗ thùng nước, quì xuống, vục đầu
mà uống. Mẹ hỏi:
- Kim Đồng, con có uống không?
Tôi lắc đầu. Mẹ múc một bát nước. Tôi thả con dê, nó rất muốn
xông tới, nhưng bị tôi ôm chặt cổ. Con dê của tôi khát nước là
đúng vì nó ăn rất nhiều đất phèn, nó cắm đầu uống, nước trong
thùng cạn rất nhanh, bụng nó thì phình dần lên. Ông già cấp
dưỡng vô cùng cảm khái, nhưng ông chỉ thở dài không nói gì. Mẹ
cảm ơn ông ta, ông thở dài càng dữ.
- Mẹ, sao mẹ đến muộn thế? Chị Phán Đệ phê bình mẹ.
Mẹ không giải thích. Chúng tôi đẩy xe, dắt dê đi theo chị, quanh
co luồn lách giữa đám đông, nghe đủ những lời nguyền rủa và oán
trách, cuối cùng vào trong một cái sân có tường vây bằng đất,
cổng gỗ. Phán Đệ giúp mẹ bế mấy đứa trẻ ra khỏi sọt. Chị định
đưa cái xe và con dê ra ngoài, nơi có mười mấy con lừa và ngựa,
rơm cỏ chẳng có, thức ăn thì không, lũ lừa ngựa đành gặm vỏ cây.
Chúng tôi để xe trong ngõ, con dê theo tôi vào trong sân. Phán
Đệ nhìn tôi không nói gì, chị biết con dê là nguồn sống của tôi.
Gian giữa ánh đèn sáng trưng, một bóng người to lớn dưới ánh
đèn. Các cán bộ huyện đang tranh cãi điều gì đó, trong đó có
tiếng khàn khàn của Lỗ Lập Nhân. Ngoài sân, mấy chú lính bồng
súng đứng gác, không chú nào đứng thẳng vì chân bị đau. Trời đầy
sao, màn đêm nặng trĩu. Phán Đệ dẫn chúng tôi vào một gian chái,
trên tường treo ngọn đèn leo lét. Một bà già nằm ngay ngắn trong
chiếc quan tài mở nắp, thấy chúng tôi vào, bà mở mắt bảo:
- Làm ơn đậy nắp lại hộ tôi, tôi phải chiếm cái nhà này của tôi!
Mẹ nói:
- Bà ơi, sao bà lại làm vậy?
Bà già nói:
- Hôm nay là ngày lành tháng tốt của tôi, làm ơn đậy cái nắp lên
hộ tôi một tí.
Phán Đệ nói:
- Phiên phiến thôi mẹ, so với ngủ ngoài đường còn tốt chán!
Đêm ấy chúng tôi ngủ không ngon giấc. Cuộc tranh cãi ngoài gian
giữa đến nửa đêm mới chấm dứt. Tranh cãi vừa dứt thì ngoài đường
có tiếng súng nổ, cảnh nhốn nháo vừa tạm yên thì giữa thôn có
đám cháy, ngọn lửa phần phật như những dải lụa đỏ, soi rõ mặt
mọi người, soi rõ cả khuôn mặt bà già nằm trong quan tài. Lúc
trời sáng, bà già không động cựa gì cả, mẹ gọi, bà không mở mắt,
bắt mạch thì thấy bà lão đã chết. Mẹ nói:
- Số như vậy là số tiên!
Mẹ và chị Cả đậy nắp quan tài cho bà lão.
Mấy ngày tiếp theo lại càng gian khổ. Khi tới chân núi Đại
Trạch, mẹ và chị Cả đã phồng rộp cả hai bàn chân. Câm anh và Câm
em đều bị ho. Lỗ Thắng Lợi bị sốt và đi ỉa chảy. Mẹ nhớ tới mấy
viên thuốc của chị Năm, liền nhét một viên vào miệng nó. Chỉ có
chị Tám tội nghiệp là chẳng ốm đau gì. Đã hai ngày nay chúng tôi
không trông thấy bóng dáng của chị Phán Đệ. Cán bộ huyện, khu
cũng không thấy một ai. Một bận trông thấy Thằng Câm, hắn cõng
một đội viên bị thương từ phía sau chạy lên. Người đó gãy cả hai
chân, máu rỏ giọt xuống đường qua hai ống quần rỗng, khóc mếu
nài nỉ Thằng Câm:
- Đội trưởng giúp tôi một tí cho thanh thản, đau chết mất, mẹ
ơi!
Khoảng ngày thứ năm kể từ khi chạy nạn, chúng tôi trông thấy dãy
núi lớn phía bắc, trên núi có những lùm cây, đỉnh núi hình như
có một cái miếu nhỏ. Từ con đê Thuồng Luồng sau nhà, vào những
hôm đẹp trời, tôi có thể nhìn thấy quả núi này, nhưng khi đó nó
có màu xanh đen. Ngọn núi đã ở trước mặt, hình thế của núi, khí
hậu mát mẻ của núi khiến chúng tôi hiểu rằng mình đã rời quê rất
xa. Chúng tôi đi trên con đường rải đá rất rộng, trúc mặt có một
chi đội người ngựa đi ngược chiều, các binh sĩ ăn mặc như binh
sĩ của trung đoàn 17. Bộ đội đi ngược chiều chứng tỏ ở quê chúng
tôi đã trở thành chiến trường. Sau đội kỵ mã là bộ binh, sau bộ
binh là những con la kéo pháo, đầu nòng cắm một bó hoa, các pháo
thủ vênh váo ngồi trên nòng pháo. Sau pháo là đội cứu thương.
Sau đội cứu thương là những xe nhỏ xếp hàng hai, trên xe là
những bao bột mì hoặc bao gạo, ngoài ra còn có một số bao cỏ.
Những người dân tị nạn vùng Cao Mật sợ hãi đứng nép hai bên
nhường đường cho đại quân. Trong đoàn bộ binh, có mấy người đeo
súng pạc-hoọc tách ra khỏi đội ngũ, đến hỏi thăm tình hình trong
đám dân tị nạn. Anh thợ cắt tóc Vương Siêu đẩy cỗ xe bánh cao su
rất thời thượng, dọc đường đã trải qua ung dung, nhưng đến đoạn
đường này thì anh ta gặp vận xui. Một chiếc xe trong đội vận
chuyển Lương thảo bị gãy trục, người đàn ông đẩy xe tuổi trung
niên lật nghiêng xe, tháo cái trục ra ngắm nghía mãi, hai bàn
tay đen sì dầu mỡ. Làm bò kéo xe là một thiếu niên khoảng mười
lăm tuổi trên đầu có cái nhọt mạch lươn, hai khóe mép lở loét,
mình mặc chiếc áo cộc không có cúc, thắt lưng băng sợi dây
thừng.
Chú hỏi:
- Sao vậy, bố?
Thì ra đó là hai bố con. Người bố mặt mày rầu rĩ, nói:
- Trục gãy rồi, con ạ!
Hai cha con hè nhau lôi cái bánh xe nặng chịch ra.
- Bố ơi làm thế nào bây giờ - chú hỏi.
Người bố ra chỗ cây bạch dương bên đường, chùi tay vào vỏ cây:
- Chẳng còn cách nào? Lúc này, một người đeo tiểu liên, cụt một
tay, mặc quân phục mỏng đã cũ nhưng trên đầu lại đội một chiếc
mũ da chó, người nghiêng nghiêng đi tới.
- Vương Kim, Vương Kim! - Người cụt tay giận dữ quát - sao tụt
lại đằng sau hả? Có phải anh định làm mất mặt đại đội gang thép
của chúng tôi?
- Thưa chỉ đạo viên - Vương Kim nhăn nhó - Xe tôi gãy trục
rồi?...
Chỉ đạo viên cụt tay giận điên lên:
- Đ. mẹ, không gãy vào lúc khác mà lại nhằm vào lúc ra mặt trận?
Đã bảo anh phải kiểm tra xe cho kỹ?
Chỉ đạo viên cụt tay càng nói càng cáu, khuôn mặt xám ngoét của
anh ta khiến tôi lại nhớ tới Sạ nguyệt Lượng. Anh ta giơ cánh
tay đặc biệt phát triển đánh Vương Kim một bạt tai. Vương Kim ối
lên một tiếng, gục đầu xuống, máu chảy ra từ hai lỗ mũi.
- Ông là ai mà đánh bố tôi? - Chú bé chất vấn chỉ đạo viên. Chỉ
đạo viên nói.
- Sao, không chịu hả? Giao Lương không đúng kỳ hạn thì tao bắn
chết cả hai bố con!
Chú thiếu niên nói:
- Ai muốn gãy trục xe làm gì? Nhà cháu nghèo, chiếc xe này cháu
mượn của cô cháu.
Vương Kim moi một ít bông trong tay áo đứt nút lỗ mũi, lầu bầu:
- Chỉ đạo viên, ông bất chấp cả lẽ phải!
- Lẽ phải nào? - chỉ đạo viên nghiêm mặt hỏi - đưa được lương
thực ra mặt trận là lẽ phải, không đưa được lương thực ra mặt
trận là không có lẽ phải. Các người đừng có ca cẩm nữa, dù phải
cõng phải vác, cũng phải đưa hai trăm bốn mươi cân kê này tới
trấn Đào Quan trong ngày hôm nay!
Vương Kim nói:
- Chỉ đạo viên, ông thường hay nói phải thực tế hai trăm bốn
mươi cân... cháu lại nhỏ... tôi van ông đấy
Chỉ đạo viên ngẩng lên nhìn mặt trời, cúi xuống xem đồng hồ,
ngoảnh nhìn ra tứ phía, bất chợt trông thấy cỗ xe nhà tôi, nhìn
tiếp thấy cỗ xe bánh cao su của Vương Siêu. Vương Siêu có nghề
cắt tóc kiếm tiền cũng khá, lại độc thân, có tiền mua thịt mua
cá, dinh dưỡng tốt nên mặt mũi đầy đặn, nước da hồng hào chẳng
ra dáng người làm ruộng. Chiếc xe nhỏ bánh cao su của anh ta,
một bên là cái hòm đựng đồ nghề cắt tóc, bên kia là chiếc chăn
hoa, bên ngoài chiếc chăn còn được bọc một tấm da chó. Chiếc xe
được đóng bằng gỗ hòe gai; đánh một lớp véc ni, gỗ hòe nhẵn
bóng, không những đẹp mắt mà còn rất thơm. Trước khi lên đường,
anh ta còn bơm bánh xe thật căng đi trên đường rải đá, chiếc xe
nhảy tâng tâng, xe nhẹ người khỏe, trong bọc giắt bình rượu, đi
vài dặm lại gác càng xe mở nút làm vài ngụm, chân nhẹ tênh,
miệng nghêu ngao dăm câu hát, anh ta là quí tộc trong đám dân tị
nạn. Cặp mắt đen của chỉ đạo viên đảo như chớp, vừa mỉm cười vừa
bước tới tỏ vẻ thân thiện:
- Các vị từ đâu tới?
Không ai trả lời anh ta, vì rằng khi hỏi câu ấy, anh ta nhìn vào
cây bạch dương, thân cây có vết dầu mỡ mà anh dân phu vừa bôi
lên. Những cây bạch dương màu xám, cây nọ tiếp cây kia, các cành
vươn lên cao trong tư thế chọc trời. Nhưng ánh mắt anh ta nhanh
chóng chuyển sang Vương Siêu, nét thân thiện trên mặt biến mất,
thay vào đó là thái dộ nghiêm nghị như tượng trong đền.
- Anh thành phần gì? - Anh ta nhìn khuôn mặt bóng nhẫy của Vương
Siêu hỏi.
Vương Siêu choáng váng, không hiểu đầu đuôi ra sao.
- Trông bộ anh - Anh cụt tay nói như đinh đóng cột - không địa
chủ thì cũng là phú nông, không phú nông thì tiểu chủ, nghĩa là
cái loại người ngồi mát ăn bát vàng chứ không sống bằng sức lao
động của mình.
- Thưa trưởng quan - Vương Siêu nói - Oan cho tôi, tôi là thợ
cắt tóc, sống bằng tay nghề, nhà chỉ có hai gian, ruộng không
có, vợ con cũng không, một người ăn, no cả nhà, ăn hôm nay không
biết có ngày mai. Nơi tôi vừa vạch xong thành phần, trên khu qui
tôi là thợ thủ công, tương đương trung nông lớp dưới, thành phần
cơ bản mà!
- Nói láo - Anh cụt tay nói - anh bẻm mép như vẹt cũng không qua
được mắt tôi. Chúng tôi trưng dụng cái xe của anh!
Anh ta quay lại gọi cha con Vương Kim:
- Mau dỡ hàng xuống, chất lên xe này!
- Thưa trưởng quan - Vương Siêu nói - Chiếc xe này tôi tích cóp
nửa đời người mới có, ông không được tước đoạt người nghèo.
Anh cụt tay nổi giận nói:
- Vì thắng lợi, ông đã hiến cả cánh tay. Cái xe rách của anh
đáng mấy đồng? Các chiến sĩ ngoài tiền tuyến đang chờ lương thực
mà anh dám chống lệnh hả?
- Thưa trưởng quan - Vương Siêu nói - Ông với tôi không cùng
khu, cũng không cùng huyện, ông quyền gì mà trung dụng xe của
tôi?
Anh cụt tay nói:
- Huyện nào khu nào cũng phải phục vụ tiền tuyến!
Vương Siêu nói:
- Không được, tôi không đồng ý!
Anh cụt tay quì một chân xuống đất, rút bút máy ra, dùng miệng
mở nắp bút, lại lấy ra một mảnh giấy bằng bàn tay đặt lên đùi,
nguệch ngoạc viết mấy chữ, hỏi:
- Anh tên gì? Huyện nào, khu nào?
Vuông Siêu trả lời từng điểm một.
Anh cụt tay nói:
- Tôi với Huyện trưởng Lỗ Lập Nhân là chiến hữu. Thế này nhé,
xong trận này anh đưa giấy này cho ông ta, ông ta sẽ đền cho anh
một chiếc xe.
Vương Siêu chỉ vào chúng tôi, nói:
- Thưa ông, đây là mẹ vợ Lỗ huyện trưởng, đây là cả gia đình!
Anh cụt nói:
- Bác ơi, nhờ bác làm chúng hộ, nói rằng tình hình khẩn cấp, chỉ
đạo viên Quách Mạt Phúc của Đoàn dân công chi viện tiền tuyến
khu Bột Hải có trưng dụng một chiếc xe của Vương Siêu, đề nghị
anh Lỗ giải quyết chuyện đền bù cho thỏa đáng!
- Tốt rồi - Anh cụt nhét mảnh giấy vào tay Vương Siêu rồi giận
dữ quát cha con Vương Kim - Còn chần chừ gì nữa? Mẹ kiếp! Giao
lương không đúng hẹn, cha con anh thì ăn roi, còn tôi thì ăn
đạn!
Quách Mạt Phúc chỉ vào mũi của Vương Siêu, nói:
- Mau dỡ đồ đạc của anh xuống!
Vương Siêu nói: - Thưa ông, ông bảo tôi làm thế nào bây giờ?
Quách Mạt Phúc vỗ tay vào báng súng lục, sầm mặt lại nói:
- Cứ phải lẩy cho anh một phát vào đầu mới xong phải không? Dỡ
xuống! Mẹ kiếp, sao mà giác ngộ thấp thế! Tôi từng uống rượu
tiết gà, kết bạn sinh tử với huyện trưởng nhà anh, anh xấu hay
tốt tôi chỉ cần đá lưỡi một cái là xong!
Vương Siêu nhăn nhó nhìn mẹ:
- Bác ơi, bác làm chứng cho tôi nhé?
Mẹ gật đầu.
Cha con Vương Kim đẩy chiếc xe của Vương Siêu, vui như mở cờ
trong bụng.
Anh cụt lịch sự gật đầu chào mẹ, không thèm ngó Vương Siêu -
người đã hiến chiếc xe, rảo bước chạy theo đội ngũ.
Vương Siêu ngồi phịch xuống bó chăn, mặt dài như mặt khỉ, lẩm
bẩm một mình: Sao mà mình xui thế không biết? Người khác chẳng
sao, lại rơi đúng vào đầu mình? Mình có chơi xấu ai đâu mà đến
nông nỗi này! Nước mắt chảy dài theo cặp má phúng phính, anh ta
khóc như đứa trẻ lên ba.
Chúng tôi đã tới dưới chân quả núi lớn, con đường rải đá tẽ
thành hơn chục con đường nhỏ ngoằn ngoèo bò lên núi. Buổi tối,
những người tị nạn tụm năm tụm ba bàn luận những tin tức trái
ngược nhau bằng đủ các giọng. Đêm ấy, mọi người ngủ qua đêm
trong các bụi quán mộc. Từ mạn nam và mạn bắc vọng tới những
tiếng nổ nặng nề, những tia chớp đầu nòng xé rách màn đêm. Vào
lúc nửa đêm, không khí quánh lại và ẩm ướt, gần như có thé quơ
tay mà nắm như nắm những sợi bông. Gió như những con rắn, luồn
theo khe núi trơn tới, rung những lá vàng còn dính trên cây xào
xạc. Tiếng cáo kêu thê tham trong hang. Tiếng hú của những con
sói trong khe núi. Những đứa trẻ sắp chết rên như tiếng mèo hen.
Ông già ho như gõ thanh la. Đúng là một đêm kinh khủng. Lúc trời
sáng đã thấy mấy xác chết vứt trong khe núi, trẻ con có, người
già có có cả trung niên. Cả nhà tôi sống sót là do chúng tôi đã
chiếm được một bụi cây khá đặc biệt: những cây khác rụng hết lá,
riêng nó thì còn nguyên, lại còn có một đống cỏ khô rất dày.
Chúng tôi ôm chặt lấy nhau, chiếc chăn duy nhất trùm lên dấu,
con dê nằm sát sau lưng thành một bức tường che gió cho tôi. Cơ
cục nhất là lúc nửa đêm về sáng, pháo nổ đùng đoàng phía nam
càng tăng thêm cảnh tĩnh mịch trong những bụi cây, tiếng rên như
cứa vào tim, khiến người nổi gai ốc, tai ong ong như có tiếng
hát bội trong đó. Thực ra, đó là tiếng khóc ti tỉ của một phụ
nữ.
Sương mù bám lấy chiếc chăn lạnh giá trên đầu. Trời mưa, mưa
đông, những hạt mưa rơi trên chăn, mưa rơi loạt soạt trên những
lá vàng khô của bụi quán mộc, rơi trên sườn núi, trên đầu dân tị
nạn, rơi trên bộ lông vàng rộm và dày của những con sói đang hú.
Hạt mưa rơi giữa chừng biến thành bột xốp, đến mặt đất lập tức
đóng thành băng, hạt mưa tí tách, bóng đêm chứa ẩn bao điều
huyền bí. Tôi chợt nhớ lại cái đêm ông ba Phàn giơ cao ngọn đuốc
dẫn đắt chúng tôi ra khỏi cõi chết. Ngọn đuốc như con ngựa hồng
nhảy nhót trong đêm tối. Đêm ấy tôi chìm trong hơi ấm của sữa,
ôm bầu vú vĩ đại mà tưởng mình bay lên thiên đàng. Giờ đây ảo
mộng đáng sợ lại bắt đầu. Luồng sáng màu vàng xuyên qua màn đêm
như luồng ánh sáng trên máy chiếu phim của. Bác-bít, côn trùng
bay trong luồng sáng như những chám trắng, một phụ nữ tóc dài
tha thướt, áo màu mây hồng đính hàng ngàn vạn viên ngọc lấp
lánh, lúc thì giống chị Lai Đệ, lúc giống Tiên Chim, lúc lại
gíông Kim-Một-Vú, đột nhiên lại biến thành bà người Mỹ. Bà ta
mỉm cười dịu dàng, ánh mắt sao mà đẹp, duyên dáng, mê hoặc, như
đớp lấy hồn người ta, những giọt nước mắt lấp ló bên bờ mi, hàng
lông mày cong vút, hàm răng trắng bóng cắn nhẹ môi dưới, đôi môi
đỏ hồng. Sau đó bà lần lượt cắn nhẹ các ngón tay tôi, cắn nhẹ
các ngón chân tôi. Thấp thoáng cái eo nhỏ, cái rốn xinh xinh như
hạt anh đào. Tôi nhìn ngọc lên và bất giác nước mắt đâm đìa, nức
nở thành tiếng: Hai bầu vú như đúc bằng vàng khối nạm hai viên
ngọc thấp thoáng sau làn áo mỏng. Tiếng nói của người dẹp từ
trên cao dội xuống, lạy đi, thằng nhỏ nhà Thượng Quan, đây là
Thượng đế của nhà ngươi. Thì ra Thượng đế là hai bầu vú. Thượng
đế có thể biến hóa, biến hóa đến vô cùng, anh mê say cái gì,
Thượng đế sẽ biến thành nó để anh xem, nếu không, sao gọi là
Thượng đế? Tôi không vươn tới được Người, Người cao quá!
Thế là bà ta sà thấp xuống, vén làn áo mỏng trước mặt tôi, mỏng
như nước, vấn vương quanh núi. Thân hình bà chập chờn bất định,
cặp vú Thượng đế của tôi có lúc chạm vào trán tôi, có lúc quệt
ngang má tôi, nhưng không bao giờ chạm vào môi tôi. Tôi máy lần
dưới lên như con cá vọt lên mặt nước, miệng há to nhưng toàn đớp
hụt. Tôi giận dỗi, tôi sốt ruột, nhưng là giận dỗi trong hạnh
phúc, sốt ruột trong hy vọng tràn trề. Bà mỉm cười, nụ cười ranh
mãnh và đầy quyến rũ. Tôi không ghét sự ranh mãnh đó, vì sự ranh
mãnh đó là mật ong, là búp sen hình bầu vú, là quả thảo mai ngậm
sương có hình búp sen, là bầu vú có hình quả thảo mai bôi mật
ong. Cái lúm đồng tiền của bà làm tôi mê mấn, chỉ một tiếng cười
khiến tôi cảm động tới mức quì xuống ăn phân chó. Vì bà, tôi có
thể ăn phân chó, dù rằng tôi là thằng con trai sống toàn bằng
sữa. Bà không nên dập dờn như thế, tôi xin bà cho tôi cắn vào
bà, tôi nguyện cùng bà bay lên chín tầng mây xem những con Ô
Thước bắc cầu. Vì bà tôi có thể nắn miệng thành mỏ, khuôn mặt
trở nên gớm ghiếc, trên người mọc lông tơ, hai vai mọc đôi cánh,
hai chân mọc thêm vuốt, bọn trẻ nhà Thượng Quan chúng tôi, ai
cũng có cảm tình với loài chim. Vậy thì người hãy mọc lông mọc
cánh đi! Thế là toàn thân tôi đau đớn một cách kỳ lạ và sốt cao
vì mọc lông mọc cánh.
- Kim Đồng, Kim Đồng!
Mẹ đang gọi tôi. Mẹ kéo tôi ra khỏi ảo giác. Mẹ và chị Cả xoa
bóp chân tay tôi trong bóng tối, kéo tôi trở về từ chỗ ranh giới
giữa cái sống và cái chết.
Trời mờ sáng. Tiếng khóc vang lên trong các bụi cây. Mọi người
dùng tiếng khóc để biểu thị sự xót thương đối với người chết.
Dưới tán lá khô vàng của bụi quán mộc và cái chăn có phủ lớp vải
dầu, trái tim của bảy người trong gia dình tôi đang đập. Số
thuốc của chị Phán Đệ cho, mẹ chia cho mỗi người một viên. Tôi
không uống, mẹ nhét viên thuốc vào miệng con dê. Nó nuốt viên
thuốc rồi ăn những lá khô trên bụi quán mộc. Băng bám đầy trên
lá, trên cành cây, phủ một lớp trong suốt lên những hòn đá quạ
dưới khe núi, tất cả đều phủ một lớp băng mỏng. Không có gió,
mưa lạnh tiếp tục rơi, cành cây loạt soạt đường trên núi bóng
loáng có thể soi gương.
Một người tị nạn dắt con lừa, trên lưng con lừa là cái xác của
một phụ nữ, định men theo một lối mòn lên núi. Con lừa của anh
ta ngã lên ngã xuống vì trượt chân.
Anh ta giúp con lừa, nhưng dùng súc quá mạnh nên ngã theo. Người
và lừa trở nên lóng ngóng, cái xác của người phụ nữ lăn xuống
khe. Trong thung lũng, một con báo gấm đang ngậm một cái xác trẻ
con, đầu nặng đít nhẹ nên con báo ngất ngưỡng nhảy trên những
tảng đá, nó nhảy liên tiếp cho khỏi ngã xuống nước. Người phụ nữ
tóc xõa vừa gào khóc vừa đuổi theo con báo. Chị vừa lăn vừa bò
trên tảng đá đóng băng, cằm rách, răng cửa gãy, gáy rỉ máu, móng
tay gãy, cổ chân bị trẹo gân, tay trật khớp, lục phủ ngũ tạng
lộn tùng phèo, nhưng chị không cho con báo được thở, đuổi đến
cùng cuối cùng, chị tóm được đuôi con báo.
Mọi người rơi vào cảnh khó khăn, cử động là ngã, không cử động
thì chết cóng. Không ai muốn chết, vậy là cái ngã đã làm mất mục
tiêu của cuộc rút chạy. Ngôi miếu nhỏ trên đỉnh núi đã biến
thành một đốm trắng lấp lánh, cây cối trên sườn núi cũng biến
thành màu trắng. Trên độ cao ấy, mưa lạnh đã biến thành tuyết.
Mọi người không dám trèo lên, chỉ loay hoay dưới chân núi. Chúng
tôi nhìn thấy thi thể anh thợ cắt tóc Vương Siêu dưới gốc cây
tượng thụ, anh ta dùng thắt lưng treo cổ dưới cành thấp nhất,
cành cây cong như cánh cung, có thể gãy bất cứ lúc nào. Ngón
chân anh ta chớm mặt đất chiếc quần dài tụt xuống đầu gối, chiếc
áo khoác ngoài phủ kín mông nên không đến nỗi khó coi. Tôi chỉ
nhìn thoáng qua khuôn mặt to bè tím ngắt và cái lưỡi lè ra như
một mẩu vải rách rồi vội quay mặt đi. Vậy mà những hình ảnh ấy
cứ ám ảnh tôi trong giấc ngủ. Không ai để ý đến anh ta. Mấy
người có vẻ hiền lành đang tranh nhau cái chăn và tấm da chó của
anh ta. Giằng đi kéo lại cuối cùng cắn xé nhau. Người to con đột
nhiên hét tướng lên, cái tai vểnh của anh ta đã bị người bé nhỏ
cắn đứt. Người bé nhỏ nhổ cái vành tai vào lòng bàn tay, cầm lên
ngắm nghía, quăng trả người to con, rồi anh ta ôm bọc chăn và
tấm da chó bỏ chạy, khéo léo tìm chỗ đặt anh sao cho khỏi ngã.
Anh ta chạy đến bên một ông già, ông già giơ cây chống càng xe
vụt cho anh ta một cái vào đầu. Anh ta ngã lăn ra như một bao
tải gạo. Ông già tựa lưng vào thân cây, tay cầm cây gậy ba chạc
bảo vệ cái chăn. Mấy kẻ liều mạng định đến cướp nhưng bị ông già
chọc nhẹ một cái là ngã chổng bốn vó. Ông già mặc chiếc áo bông
dài, thắt quanh người sợi thừng to bự, đầu thừng lủng lẳng cái
tẩu và túi đựng thuốc hút. Ông có chòm râu bạc trắng bám đầy
băng.
- Không sợ chết thì cứ xông vào!
Ông già thét chói tai, mặt dài ra, mắt đổi màu xanh lục. Mọi
người hoang mang dãn ra.
Mẹ quyết định dứt khoát:
- Quay về, về nhà! Mẹ dựng xe lên rồi chập choạng đẩy đi. Trục
xe sau khi bị nước mưa rít lên chói tai khi lăn bánh. Chúng tôi
ra những người đầu têu. Nhiều người, cứ lặng lẽ đi theo chúng
tôi, có người nhanh chóng vượt cả chúng tôi, lại rong ruổi trên
con đường trở về quê cũ.
Băng vỡ dưới bánh xe, băng bắn sang hai bên, trời bổ sung bằng
mưa lất phất, rồi đột nhiên trong mưa có những cục đá đánh rát
vành tai và da mặt, cuối cùng là mưa đá. Cánh đồng hoang mênh
mông rào rào như xay lúa. Chúng tôi giữ nguyên cung cách như khi
đi, mẹ đẩy xe, chị Cả làm bò, gót chân chị nút nẻ gần như trông
thấy xương. Chị kéo xe mà như múa ương ca. Mỗi khi xe bị chao
nghiêng, chị cũng chao nghiêng, lần nào cũng như lần nào. Lục
phản hồi của sợi thừng kéo căng làm chị ngã liền mấy bận. Chị
vừa kéo vừa khóc hu hu. Tôi và Sa Tảo Hoa cũng khóc. Mẹ không
khóc, hai mắt thâm quầng, mẹ mắm môi mắm lợi dồn hết tinh lục,
vừa thận trọng vừa kiên quyết biến hai bàn chân tí xíu như hai
bàn xẻng nhỏ tí bám mặt đất tiến lên từng bước chắc chắn. Chị
Tám lặng lẽ đi sau mẹ, tay túm vạt áo, lon ton như một quả cà
ủng trôi theo dòng nước.
Con dê của tôi là một con dê sáng giá. Nó theo tôi không rời nửa
bước. Nó cũng ngã xoành xoạch, nhưng mỗi lần ngã lại bật dậy
ngay lập tức. Để bảo vệ bầu vú cho nó, mẹ lấy miếng vải trắng
trùm ngược vú, thắt hai nút trên lưng, lại còn lồng vào giữa hai
miếng da thỏ để giữ hơi ấm. Tấm da thỏ khiến người ta nhớ lại
thời kỳ yêu như điên như cuồng của Sa Nguyệt Lượng. Con dê ứa
nước mắt, mũi phát ra những tiếng rên rỉ, đó là ngôn ngữ của nó.
Hai tai nó nứt nẻ vì băng giá, bốn chân màu phấn hồng. Từ khi
bầu vú được che ấm, nó trở thành con dê hạnh phúc nhất. Miếng
vải và tấm da thỏ, ngoài tác~ dụng giữ hơi ấm, còn là vật để đỡ
vú. Đó là một sáng tạo. Sau này, khi tôi là chuyên gia về nịt
vú, tôi đã thiết kế kiểu nịt vú da thỏ cho phụ nữ vùng cao rét
buốt.
Chúng tôi trở về với những bước chân vội vã, dự kiến giữa trưa
thì về tới chỗ đường rải đá có ca bạch dương. ánh nắng chưa chọc
thủng mây, nhưng đất trời đã hửng sáng. Con đường rải đá long
lanh như ngọc lưu ly. Sau đó, băng mỏng bị những bông tuyết thay
thế. Mặt đường, ngọn cây, đồng ruộng hai bên đường, rất nhanh
chuyển sang màu trắng. Thường xuyên gặp những xác chết trên
đường, xác người và xác súc vật, đôi khi có cả xác chim sẻ, chim
thước, gà rừng. Chỉ có chim quạ là không chết, trên nền tuyết
trắng, bộ lông con quạ càng đen nhánh. Chúng mổ xác chết, mỏ bị
đau nên cất tiếng kêu than thở.
Vận may đã đến. Đầu tiên là tôi nhặt được nửa bao thức ăn gia
súc, bã đậu trộn với cám mạch. Con dê ăn một bữa căng bụng, chỗ
còn thừa để trên chân Câm anh, Câm em, che gió và tuyết cho
chúng. Con dê ăn xong, liếm tuyết, nhìn tôi gật đầu. Tôi hiểu nó
định nói gì.
- Tiếp tục tiến lên?
Sa Tảo Hoa nói nó ngửi thấy mùi lúa mạch cháy. Mẹ động viên nó
lần theo mùi đó mà tìm, trong một căn nhà nhỏ dùng để trông phần
mộ, chúng tôi lượm được hai bao lương khô trên người một binh sĩ
đã chết. Thấy người chết nhiều nên không còn cảm giác sợ. Chúng
tôi quyết định ngủ lại trong căn nhà đó. Mẹ và chị Cả kéo cái
xác anh lính trẻ ra ngoài. Anh ta tự sát. Anh ta ôm súng trong
lòng, miệng ngậm đầu nòng, dùng ngón chân cái lòi ra ngoài bít
tất đẩy cò cho súng nổ. Viên đạn phá vỡ xương chẩm phía sau gáy.
Chuột gặm hết tai của anh ta, gặm cả mũi, xương ngón tay trắng
hếu như cành liễu bị bóc vỏ. Khi mẹ và chị Cả kéo cái xác ra
ngoài, lũ chuột vằn mắt chạy theo. Để cảm ơn anh lính đã cho
lương khô, mẹ dùng lưỡi lê của anh ta đào một cái huyệt nông
choèn trên mặt đất băng giá chôn phần đầu của anh ta xuống đấy.
Nấm đất nhỏ đối với vua đào hang là lũ chuột chỉ là trò đùa,
nhưng lòng mẹ cũng đôi phần thanh thản.
Căn nhà chỉ chứa nổi cả nhà tôi và con dê. Chúng tôi dùng xe
chặn cửa. Mẹ ôm khẩu súng trường dính óc của anh lính ngồi ngoài
cùng. Lúc trời sắp tối, từng tốp dân tị nạn định chen vào trong
đó không ít người có máu đạo tặc nhưng nhìn thây cây súng lăm
lăm trong tay mẹ, họ đều sợ hãi bỏ đi. Một người đàn ông miệng
rộng, mắt gườm gườm nhìn mẹ vẻ khinh miệt, hỏi:
- Biết bắn không? - Anh ta vừa hỏi vừa xông vào nhà. Mẹ giơ súng
cản lại, mẹ không biết bắn. Chị Lai Đệ giăng lấy khẩu súng trong
tay mẹ, giật cơ bẩm, cái vỏ đạn văng ra; đẩy cơ bẩm một viên đạn
lên nòng, bẻ gập qui lát xuống, chĩa súng phía trên đầu hói đàn
ông nổ một phát. Viên đạn cùng với tia lửa vút lên trời. Động
tác thành thạo khiến tôi nhớ lại trang sử vẻ vang của chị trong
những năm tháng cùng Sa Nguyệt Lượng nam chinh bắc chiến. Người
đàn ông miệng rộng bỏ chạy như chó ăn đòn. Mẹ nhìn chị Lai Đệ
băng ánh mắt cảm kích rồi nhích vào phía trong, nhường vị trí
canh gác cho chị.
Đêm ấy tôi ngủ rất ngon, mãi khi mặt tròi tỏa nắng trên đại lục
tuyết mới tỉnh dậy. Tôi muốn quì xuống van nài mẹ không nên rời
căn nhà này, căn nhà mà phía trước có ngôi mộ sùng sững, không
nên rời rừng tùng đen đội mũ bằng tuyết trắng. Đây là nơi đất
lành, là phúc địa. Nhưng mẹ đã lên đường, khẩu súng có nước thép
xanh dựng bên Lỗ Thắng Lợi, dưới tấm chăn rách. Trên đường,
tuyết đầy đến nửa thước, lạo xạo dưới mỗi bước chân của chúng
tôi và dưới bánh xe. Vấp ngã giảm hẳn, chúng tôi đi nhanh hơn.
Tuyết chói mắt dưới nắng, người trông càng đen hơn, bất luận mặc
quần áo màu gì cũng trở thành đen. Có thể, vì khẩu súng trong
sọt và tài bắn súng của chị Lai Đệ khiến mẹ trở nên cứng cổ.
Buổi trưa, bọn tàn quân bỏ chạy từ hướng nam định lục soát xe
của chúng tôi, mẹ dang thẳng cánh cho tên lính giả vờ cụt tay
một cái tát nẩy lửa, bay cả mũ xuống đất. Tên lính bỏ chạy,
không kịp nhặt mũ. Mẹ tiện tay nhặt cái mũ còn mới, chụp lên đầu
con dê của toi. Nó chạy nhảy tung tăng với chiếc mũ lính trên
đầu. Dân tị nạn đứng xung quanh mặc dù đói rét mụ cả người, cũng
há cái miệng đen ngòm ra mà cười, tiếng cười thê thảm như tiếng
khóc.
Lúc trời rạng sáng tôi uống no sữa dê, tinh thần sảng khoái, trí
tuệ minh mẫn. Tôi phát hiện ra máy in và hòm công văn giấy tờ
của huyện bỏ lại bên đường. Những người phu đi đâu cả rồi? Không
rõ. Đội la đi đâu? Không rõ.
Mặt đường bắt đầu nhộn nhịp. Từng đội cứu thương từ phía nam rút
về, trên cáng là những thương binh luôn miệng rên rỉ. Những dân
công tải thương mồ hôi đầm đìa trên mặt, thở như kéo bễ, bước đi
loạng choạng trên tuyết
Một số nhân viên áo bơ lu trắng, mũ trắng chạy theo đội tải
thương. Một phu khiêng ngã bệt xuống đất, cái cáng lật sang bên,
người bị thương ngã lăn ra. Người này băng kín mặt, chỉ hở hai
con mắt và cái miệng tê tái. Anh ta vừa khóc vừa chửi:
- Đ. mẹ chúng mày, chết tao rồi?...
Anh ta khóc rồi chửi, chửi rồi khóc. Một nữ quân nhân có khuôn
mặt trái xoan đeo túi cứu thương chạy tới. Thoạt nhìn tôi đã
nhận ra đó là cô Đường, bạn chiến đấu của chị Phán Đệ. Cô chửi
bới người phu khiêng thậm tệ, dịu dàng khuyên nhủ người thương
binh. Những nếp nhăn đã xuất hiện rất nhiều trên trán, trên khóe
mắt, cô nữ binh tươi tắn xưa kia, giờ đây đã trở thành một bà
già khô héo. Cô hoàn toàn không nhận ra chúng tôi, mẹ cũng không
nhận ra cô.
Những đội cứu thương kéo đi nườm nượp như không bao giờ hết.
Chúng tôi đứng nép bên vệ đường để khỏi làm vướng họ. Cuối cùng,
họ cũng đi hết, mặt đường phủ tuyết trắng tinh khiết giờ đây bẩn
tới mức khó mà hình dung nổi, toàn là bùn và nước bẩn. Những chỗ
tuyết còn nguyên trông chẳng khác làn da bị bỏng vì có những
giọt máu rơi vào. Mũi chỉ ngửi thấy mùi tuyết tan và mùi máu,
mùi mồ hôi chua loét. Chúng tôi đi tiếp, cứ phấp phỏng trong
bụng, ngay cả con dê của tôi khi nãy nhảy tâng tâng vì được đội
mũ lính, giờ đây cũng lấm lét chẳng khác lính mới lần đầu ra
trận. Những người tị nạn tỏ ra do dự, tiến thoái lưỡng nan.
Không nghi ngờ gì nữa, trước mặt là chiến trường, đi về phía nam
có nghĩa là ra mặt trận, vào nơi rừng tên mũi đạn, mà đạn thì
không có mắt, nó không nể gì anh, còn lính tráng thì như một lũ
hổ, có kiêng dè ai. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai muốn
cho người khác biết ý tứ của mình. Mẹ không nhìn ai, kiên quyết
đẩy xe theo hướng về nhà. Tôi nhìn lại, thấy dân tị nạn có người
đi ngược lên hướng đông bắc, có người đi theo chúng tôi.
Chương 4
1
Trận tuyết đầu tiên của những năm hòa bình đã che lấp những xác
chết. Những con bồ câu đói đi lại vụng về trên tuyết, tiếng kêu
buồn bã của chúng chẳng khác tiếng núc nở của người đàn bà góa.
Buổi sáng có tuyết, bầu trời trong suốt như nhìn qua lớp băng,
trông vừa cao nhã vừa mới mẻ. Phương đông đỏ rục, mặt trời lên,
bầu trời như ngọc lưu ly cao vạn trượng. Tuyết phủ kín mặt đất.
Người ra khỏi nhà, hơi thở ra màu phấn hồng, đi trên tuyết lạo
xạo, tay dắt bò dê, lưng địu hàng hóa, men theo cánh đồng phía
đông của thôn đi về hướng nam, vượt con sông Mục đầy cua ốc và
ếch nhái, đến khoảnh đất cao không có tên rộng chừng năm mươi
mẫu để họp chợ, phiên chợ kỳ lạ của vùng Cao Mật: Chợ Tuyết, chợ
họp trên tuyết, giao dịch mua bán trên tuyết và cử hành những lễ
nghi trên tuyết. Đây là một nghi thức im lặng tuyệt đối, bất kể
tình huống nào cũng không được nói, mở miệng nói là chuốc lấy
tai họa. ở chợ tuyết, mọi người chỉ được nhìn thấy, được ngủi,
được sờ mó, cảm thụ bằng trái tim, mà không được phép nói thành
lời. Còn như nếu lỡ miệng nói một câu thì hậu quả như thế nào?
Không ai hỏi, cũng không ai giải thích, làm như ai cũng biết, ai
cũng hiểu, có điều không nói ra miệng đấy thôi.
Những người Cao Mật còn sống sót, phần lớn là phụ nữ và trẻ con,
đều mặc quần áo ngày tết, lội tuyết đến chợ. Mùi tuyết lạnh xộc
vào mũi như kim châm, phụ nữ đều lấy tay áo rộng che mũi và
miệng, tuồng như để che hơi lạnh của tuyết, nhưng tôi thì cho
rằng để không cho lời buột ra khỏi miệng. Trên đồng tuyết mênh
mông chỉ có tiếng lạo xạo, người không nói nhưng súc vật thì
không ai cấm đoán. Dê be be, bò ẩm bò, những con lừa ngựa sống
sót sau chiến tranh hí hí, Những con chó điên cào bới xác chết,
ngửa nhìn mặt trời tru lên như chó sói.
Trong thôn chỉ còn mỗi con chó mù của lão đạo sĩ Môn Thánh Vũ là
không điên, chệnh choạng đi theo chủ. Trên khu đất cao có một
ngọn tháp xây bằng gạch xanh, phía trước có ngôi nhà tranh ba
gian, người chủ ngôi nhà là Môn Thánh Vũ, năm nay một trăm hai
mươi tuổi. Ông cụ luyện phép tịch cốc, không ăn lương thực đã
hai mươi năm nay. Người gầy như con ve sầu, ông cụ chỉ sống bằng
những hạt sương. Sau này đi học, được biết con ve sống bằng nhựa
cây, tôi suy ra rằng ông cụ không thể sống bằng những hạt suông.
Một mình sống trên đồi cao, trước mặt là hàng vạn mẫu hoa màu,
sau lưng là dòng sông đầy tôm cá và cái đầm mùa xuân và mùa hạ
có bao nhiêu trứng chim, ông cụ thích ăn cái gì thì ăn. Nghiên
cứu sự thần kỳ đã biến thành trần tục như thế nào thì có ý nghĩa
gì? Thêm một ông thánh không ăn lương thực thì có gì xấu? Chiến
tranh đã làm tổn thương ghê gớm trí tưởng tượng của người dân
Cao Mật. Giờ đây đã hòa bình, là lúc nên khôi phục lại trí tưởng
tượng đó. Nhóm lại Chợ Tuyết là một việc được mọi người hoan
nghênh.
Trong con mắt người dân, lão đạo sĩ là một cao sĩ nửa người nửa
tiên. Hành tung bí ẩn, bước đi nhẹ nhàng, đầu trọc như bóng đèn,
chòm râu bạc rậm như bụi tơ hồng, đôi môi dày như môi la con mới
đẻ, răng có màu như mặt trong của vỏ sò, mặt đỏ mũi đỏ, lông mày
trắng và dài như cánh chim, mỗi năm đạo sĩ xuống thôn một lần,
vào ngày đông chí. Cụ có một nhiệm vụ đặc biệt: Chọn Công tử
Tuyết cho phiên chợ Tuyết, mỗi năm họp một lần. Nói được chọn là
Công tử Tuyết có một chức trách thiêng liêng và được thù lao vật
chất, vì vậy thôn dân ai cũng mong con trai mình được chọn. Công
tử Tuyết năm nay là tôi, Thượng Quan Kim Đồng. Lão đạo sĩ đi
khắp mười tám thôn vùng Cao Mật, cuối cùng chọn tôi. Điều này
chứng tỏ tôi không giống mọi người. Mẹ tôi khóc vì sung sướng!
Đôi khi ra phố, đám phụ nữ nhìn tôi bằng con mắt kính nể. Họ
ngọt ngào hỏi:
- Công tử Tuyết ơi, khi nào thì có tuyết?
- Tôi cũng không rõ, không biết khi nào thì tuyết rơi!
- Công tử Tuyết mà không biết khi nào thì có tuyết?
- Hừm, không thể tiết lộ thiên cơ!
Mọi người mong có tuyết, riêng tôi lại càng mong. Chiều tối hôm
trước mây hồng dầy đặc, chiều hôm qua tuyết bắt đầu rơi, lúc đầu
nhỏ, về sau thì to, như những chiếc lông ngỗng, như những quả
cầu nhưng. Tuyết bay đầy trời, che lấp tất cả. Vì có tuyết nên
trời tối rất sớm. Cáo kêu ngoài đầm, những oan hồn đi vật vờ
trên đường to ngõ hẻm, kêu khóc ầm ĩ. Tuyết rơi trên cửa sổ hồ
giấy. Những đã thú trắng toát ngồi chục dưới bậu cửa, cái đuôi
to tướng quật vào khung cửa bồm bộp. Đêm hôm ấy bụng tôi cứ phấp
phỏng không yên, tôi trông thấy nhiều cảnh tượng kỳ lạ không
hiểu thực hư ra sao. Nói ra thì thấy nó thường quá, chẳng thà
không nói là hơn.
Trời chưa sáng hẳn mẹ đã đun nước cho tôi rửa mặt, rửa tay. Mẹ
rửa rất kỹ hai bàn tay tôi, nói rằng rửa sạch tay cho con cún
của mẹ. Mẹ còn lấy kéo sửa móng tay cho tôi. Cuối cùng, in vân
tay màu đỏ lên trán tôi như cái nhãn hàng hóa. Mẹ mở cổng, thấy
lão đạo sĩ đang đứng đợi. Cụ đem đến một chiếc áo dài màu trắng,
một chiếc mũ màu trắng, đều may bằng lụa trơn bóng, sờ mát tay.
Cụ còn đem cho tôi một chiếc phất trần bằng lông đuôi ngựa
trắng. Cụ đích thân mặc quần áo cho tôi, bảo tôi đi vài bước
trong sân
- Thiện tai - Cụ nói - Thế mới là Công tử Tuyết đích thực!
Tôi rất vênh váo, mẹ và chị Cả cũng rất vui. Sa Tảo Hoa nhìn tôi
bằng con mắt ngưỡng mộ. Chị Tám nở một nụ cười mê hồn. Tư Mã
Lương cười nhạt.
Hai người đàn ông khiêng chiếc kiệu bên trái vẽ rồng, bên phải
vẽ phượng đến kiệu tôi đi. Người đi trước là phu kiệu chuyên
nghiệp Vương Thái Bình, người đi sau là anh trai Vương Công
Bình. Hai anh em đều có tật nói lắp. Mấy năm trước, để trốn quân
dịch, Vương Thái Bình chặt đứt ngón tay trỏ, Vương Công Bình lấy
bã đậu bôi vào dái, giả vờ bị bệnh sa dì. Trò bịp bị bóc trần,
chủ nhiệm thôn Đỗ Bảo Thuyền chĩa súng trường vào mặt, cho hai
anh em chọn lấy một trong hai con đường: một là bị xử bắn, hai
là làm dân công thường trực, ra mặt trận cáng thương, vận tải
đạn được. Hai người lắp bắp, không bao giờ nói được một câu hoàn
chỉnh. Ông bố là Vương Đại Hải bị thọt chân vì ngã thang khi xây
dựng nhà thờ, chọn giúp hai con trai con đường thứ hai. Phu kiệu
chuyên nghiệp mà cáng thương thì còn phải nói, êm và nhanh, ai
cũng ca ngợi. Hai anh em đều lập công. Khi phục viên, đoàn
trưởng đoàn cứu thương Lục Thiên Lý tự tay viết giấy chúng nhận
công lao của hai anh em. Cùng đi dân công với anh em Vương Thái
Bình, có em trai của Đỗ Bảo Thuyền là Đỗ Kim Thuyền bị bạo bệnh
mà chết. Hai anh em không quản đường xa ngàn dặm, khiêng thi thể
Đỗ Kim Thuyền về quê, dọc đường trải qua bao gian khổ mới về tới
nhà Đỗ Bảo Thuyền. Hai anh em vì nói lắp nên không nói rõ được
đầu đuôi câu chuyện, mỗi người ăn hai cái tát của Đỗ Bảo Thuyền.
Đỗ Bảo Thuyền cho rằng hai anh em mưu sát Đỗ Kim Thuyền. Hai anh
em chìa giấy xác nhận của đoàn trưởng ra, Đỗ Bảo Thuyền giật lấy
xé tan ra từng mảnh, khoát tay:
- Đào ngũ thì lúc nào cũng là đào ngũ!
Hai anh em oan ức quá mà không thể nói cho người khác hiểu nỗi
khổ tâm của mình. Đôi vai được rèn luyện rắn như thép, chân bước
rất có bài bản, ngồi trên cáng của họ êm như ngồi trên con
thuyền trôi xuôi dòng nước. Cánh đồng tuyết trắng vang lên tiếng
chó sủa xen kẽ tiếng thanh la.
Trên sông Mục cũng có một cây cầu đá, dầm cầu bằng gỗ thông. Chủ
nhiệm phụ nữ thôn Sa Lương là Cao Trường Anh đang đứng trên cầu.
Chị ta để tóc ngắn, cặp tóc dính con bướm nhựa, môi cong hở lợi
màu tím. Chị ta có khuôn mặt thô như đẽo bằng rìu, cằm có râu.
Chị ta nhìn tôi bằng ánh mắt nóng bỏng. Tôi biết chị đang ở góa,
chồng chị bị xe tăng nghiền nát. Cây cầu rung rinh, những phiến
đá lát cầu chạm vào nhau lạch cạch. Tôi qua cầu, ngoảnh lại
nhìn, thấy từng hàng dọc dấu chân trên cánh đồng tuyết. Rất
nhiều người vẫn cố đi về phía bên này. Tôi trông thấy mẹ và chị
Cả cùng lũ trẻ nhà tôi, và cả con dê nữa. Mẹ không quên che bầu
vú cho nó. Quên thì nó sẽ khổ. Tuyết dầy lút gối, chắc chắn bầu
vú nó lết trên tuyết. Từ nhà tôi đến chợ Tuyết gần mười dặm, nó
chịu sao nổi?
Anh em phu kiệu khênh kiệu lên đồi. Những người đến sớm mắt sáng
lên chào đón tôi. Đàn ông, đàn bà, trẻ con mím chặt miệng để
không nói, người lớn tỏ vẻ trang nghiêm, trẻ con nhăn nhó như
khỉ.
Dưới sự hướng dẫn của lão đạo sĩ, họ khiêng tôi đến chỗ bệ đất
hình vuông ở chính giữa cao điểm, trên bệ kê hai chiếc ghế băng,
phía trước hai ghế băng là một cái lư trong có ba thẻ hương. Họ
gác đòn kiệu lên ghế, tôi vẫn ngồi trong tư thế lơ lửng dưới đòn
kiệu. Cái rét lặng lẽ cắn các ngón chân tôi như mèo đen, cắn tai
tôi như mèo trắng. Hương cháy phát ra những tiếng động mơ hồ
nghe như tiếng giun, từng đám tàn rơi xuống như nhà bi cháy sập.
Khói hương chui vào lỗ mũi trái, chui ra lô mũi phải. Phía dưới
bệ có chiếc lò đốt vàng mã, lão đạo sĩ đang đốt một thếp tiền
giấy, ngọn lửa như những con bướm vàng, tàn giấy như những con
bướm đen nhẹ nhàng bay lên, bay mệt thì rơi xuống tuyết và chết.
Lão đạo sĩ cúi lạy trước đàn rồi đưa mắt ra hiệu cho hai người
phu kiệu. Họ khiêng tôi lên, lão đạo sĩ trao cho tôi một cái gậy
bọc giấy trang kim, đầu gậy treo chiếc bát bằng thiếc. Đây là
quyền trượng của công tử Tuyết. Tôi vung cây gậy này là có tuyết
rơi hay sao? Chỉ định tôi là Công tử Tuyết xong, lão đạo sĩ giới
thiệu với tôi về người đã sáng lập ra chợ Tuyết. Đó là lão đạo
sĩ Trần, sư phụ của lão đạo sĩ. Theo chỉ thị của Thái Thượng Lão
Quân, lão đạo sĩ Trần sáng lập ra Chợ Tuyết, công đức viên mãn
rồi, cụ hóa thành tiên, cư ngụ trên ngọn núi chọc trời, ăn quả
thông, uống nước suối, từ cây tùng bay sang cây bách, từ cây
bách bay vào trong động. Lão đạo sĩ giảng giải cặn kẽ cho tôi về
nhiệm vụ của Công tử Tuyết. Bước thứ nhất là lập đàn thụ phong,
việc này vừa làm xong; bước thứ hai là tuần du trong chợ, bước
này đang tiến hành.
Đây là giờ phút oai vệ nhất của Công tử Tuyết, mười mấy tiểu
hiệu mặc quần áo xanh đỏ, trong tay không cầm vật gì, nhưng giữ
tay ở tư thế cầm loa, kèn, trống, thanh la, phùng mang trợn mắt
như đang tấu nhạc, tay trái giơ cao ngang tầm vai, tay phải giơ
chiếc dùi tưởng tượng, cứ ba bước lại gõ một tiếng y như thật.
Anh em họ Vương chân như lò xo, mỗi bước lại nhún nhảy. Những
người đi chợ tạm ngùng công việc giao dịch thầm lặng, trố mắt mà
ngắm Công tử Tuyết. Những khuôn mặt quen và những khuôn mặt
không quen trên nền tuyết trắng, đỏ như táo chín, đen như than
củi, vàng như sáp ong, xanh như lá rau. Tôi khua quyền trượng
trước mặt mọi người. Họ có vẻ hốt hoảng, giơ tay lên như để che
chắn, miệng há to như chực kêu lên, nhưng không một ai dám kêu
lên một tiếng. Một trong những nhiệm vụ thiêng liêng mà lão đạo
sĩ yêu cầu ở tôi là, nêu có kẻ nào dám kêu lên một tiếng thì
dùng cái bát bằng thiếc treo ở đầu quyền trượng úp vào miệng
hoặc vào cằm của kẻ vi phạm bẩy ra một cái là người đó đứt lưỡi.
Tôi nhìn thấy mẹ, chị Cả, chị Tám, Sa Tảo Hoa, Tư Mã Lương trong
đám đông câm lặng. Con dê của tôi không chỉ đeo nịt vú mà còn
đeo khẩu trang hình chóp nón chụp kín cả miệng của nó, có hai
dây bằng vải buộc lên sau tai. Những người nhà của Công tử Tuyết
tuân thủ lệnh cấm nói đã đành, ngay cả con dê cũng im hơi lặng
tiếng như người. Tôi huơ gậy về phía những người thân của tôi,
họ cũng giơ tay lên chào lại. Thằng quỉ Tư Mã Lương khum bàn tay
làm thành ống nhòm, nhìn về phía tôi. Sa Tảo Hoa mặt mũi tươi
tắn như con cá biển vừa lên khỏi mặt nước.
Hàng hóa trong Chợ Tuyết có đủ các loại, chia theo nhóm hàng.
Theo sự hướng dẫn ngầm của đội nghi trượng, tôi bước vào gian
hàng giày dép. Gian này toàn là dép bện bằng cỏ bồ, nhân dân
vùng Cao Mật đi giày này suốt mùa đông. Ông Hoàng Thiên Quí có
năm con trai thì bốn người bị xử bắn, một người bị khổ sai. Lão
chống cây gậy bằng cành liễu, râu bám đầy tuyết, trùm đầu bằng
vuông vải trắng, chiếc bao tải rách khoác trên người. Lão cúi
xuống giơ hai ngón tay để mặc cả với chủ quầy Cầu Hoàng Tản một
đôi dép cỏ bồ. Lão Cầu giơ ba ngón tay đè hai ngón tay của lão
Quí. Lão Quí khăng khăng giữ ý, lật hai ngón tay lên đè trên ba
ngón tay của lão Cầu, lão Cầu lại lật ba ngón tay đè lên hai
ngón tay của lão Quí. Bốn năm lần như vậy, lão Cầu tỏ vẻ bất
lực, chọn trong xâu dép lấy ra một đôi đã mốc xanh. Hoàng Thiên
Quí nghiến răng lại để biểu thị sự tức giận. Lão vỗ ngực chỉ lên
trời, chỉ xuống đất, không hiểu nghĩa là gì hoặc không có nghĩa
gì cả. Lão giơ gậy chỉ vào một đôi thật tốt, bện bằng phần gốc
cỏ bồ. Lão Cầu gạt chiếc gậy của lão Quí, giơ bốn ngón tay kiên
quyết đòi đúng giá. Lão Quí chỉ trời, vạch đất, lộn trái chiếc
túi gai đeo bên mình. Lão cúi xuống tháo lấy đôi dép mà lão ưng
ý, tụt chân khỏi đôi giày da há mõm, rồi lập cập xỏ chân vào
dép. Sau đó, lão moi trong chiếc túi may thêm vào quần lấy ra
một tờ giấy bạc nhàu nát ném xuống trước mặt lão Cầu. Lão Cầu
mặt giận bừng bừng, chửi nhưng không dám chửi thành tiếng, chỉ
giẫm bành bạch. Nhưng rồi lão cũng nhặt tờ giấy bạc lên, vuốt
mép cho phẳng giơ cho mọi người xem. Những người xung quanh, kẻ
đồng tình thì lắc đầu, kẻ hồ đồ thì cười mỉm. Lão Quí chống gậy
đi ra, bước chân lệt sệt, chỉ cách nhau một tấc, hai chân lão
cứng đờ như que củi. Tôi không có cảm tình với lão Cầu. Lão ta
đã nói là miệng cứ như tép nhảy. Tôi thầm mong lão trong cơn tức
giận buột miệng nói thành lời là tôi dùng cái bát thiếc kẹp lưỡi
lão. Nhưng lão rất tinh, hình như đoán ra ý đồ của tôi. Lão nhét
tờ giấy bạc vào chiếc dép rõ ràng là đã chuẩn bị từ trước, treo
ở đầu đòn gánh. Hắn lấy cả đôi dép xuống, chỉ tay vào từng người
thợ bện dép xung quanh đang trố mắt ra nhìn tôi, rồi lại chỉ vào
những đồng tiền lẻ trong dép, rồi bằng một thái độ cung kính,
lão lẳng đôi dép về phía tôi. Đôi dép rơi trúng bụng, lăn xuống
chân tôi, mấy tờ giấy bạc lẻ văng ra, trên mỗi tờ đều có những
con cừu béo tốt, đứng ngơ ngẩn như đang đợi cắt lông hoặc đem
giết thịt. Tiếp tục tiến lên, lại có mấy đôi dép ném tới, trong
dép có tiền lẻ.
Đến gian hàng bán cơm, người vợ góa của Triệu Giáp là Phương Mai
Hoa đang rán bột mì trong một cái chảo đáy bằng. Hai đứa con của
chị ta, một trai một gái ngồi trên chiếu, quấn quanh người bằng
một chiếc chăn. Bốn con mắt mở thao láo. Bên cạnh bếp bày mấy
chiếc bàn long chân, sáu người đàn ông bán chiếu đang ngồi ăn
nhồm nhoàm. Bánh bột mì hai mặt rán vàng, ăn với súp rau, cắn
một miếng bánh lại húp một miếng súp. Súp nóng, những người đàn
ông miệng nhờn mỡ. Những gian hàng bên cạnh không có khách, chủ
hàng đứng suông, gõ xoong nồi cho đõ buồn, nhìn sang gian hàng
chị góa bằng ánh mắt ghen tỵ.
Khi chiếc cáng của tôi đi qua, chị góa Phương Mai dán đồng tiền
vào chiếc bánh bao, nhẹ nhàng liệng về phía tôi. Tôi vội cúi đầu
xuống, chiếc bánh rơi trúng ngực Vương Công Bình. Chị góa tỏ vẻ
xin lỗi, lau tay bằng mảnh khăn đầy mỡ. Trên khuôn mặt tái xanh
của chị là đôi mắt hõm sâu, xung quanh có quầng đen. Một người
đàn ông cao và gầy đi tắt qua quầy bán gà, bước tới. Những con
gà mái hoảng hốt kêu cục cục, bà bán gà nhìn ông ta gật đầu.
Dáng đi của ông ta rất lạ, người thẳng đuỗn, cứ mỗi bước đi lại
rướn lên một cái. Tôi nhận ra ông ta. Ông ta là Trương Thiên Tứ,
môn đồ của đạo Hoạt nạn. Mọi người đặt cho ông ta cái biệt hiệu
là Ông trời. Ông ta theo đuổi một nghề kỳ quặc: dẫn độ người
chết về quê. Ông ta dùng tà thuật khiến người chết đi lại được.
Vùng Cao Mật có rất nhiều người chết nơi đất khách quê người,
nhờ ông ta dẫn về. Rất nhiều người nơi khác chết ở Cao Mật, nhờ
ông ta dẫn về quê cũ của họ. Ai mà không kính nể một con người
có khả năng dẫn người chết vượt trăm núi nghìn sông. Trên người
ông ta lúc nào cũng phảng phất mùi tử khí. Những con chó dữ nhất
trông thấy ông ta cũng cụp đuôi lỉnh mất. Ông ta ngồi xuống ghế
băng trong gian hàng của chị góa, giơ hai ngón tay lên, chị góa
cũng ra hiệu đáp lại, chị hiểu rằng ông ta định ăn hai mẻ năm
mươi cái, chứ không phải hai hoặc hai mươi cái. Chị góa vội vàng
chuẩn bị bánh bao cho ông ta vì ông thực khách to bụng này khiến
chị mừng rơn, mắt sáng lên, còn những gian hàng bên cạnh thì mắt
tối sầm. Tôi rất mong họ mở miệng, nhưng ghen tức mấy thì ghen
tức, họ không chịu hé răng. Trương Thiên Tứ im lặng ngồi nhìn
chị góa chuẩn bị, hai tay đặt trên đầu gối, một cái túi bằng vải
đen lủng lẳng ở thắt lưng.
Không ai biết rằng, hồi cuối thu ông ta vừa có chuyện làm ăn
lớn, dẫn độ một vong hồn khách thương Quan Đông làm nghề buôn
bán tranh niên họa chết ở thôn Ngải Khưu vùng Cao Mật. Con trai
người khách thương sau khi ngã giá với ông ta liền về trước để
chuẩn bị. Đường đi trăm núi ngàn sông, ai cũng nghĩ ông ta không
về được. Vậy mà ông ta đã trở về, xem ra thì mới về, cái túi vải
kia chắc là túi tiền. Ông ta đi đôi giày cỏ rách tả tơi, để lộ
những ngón chân sưng tấy bằng quả bí đỏ mới rụng rốn, gót chân
to như khuỷu chân trâu. Em gái thằng Gật ôm một cây cải bẹ lớn
đi ngang qua cáng, cặp mắt đa tình của cô ta liếc xéo tôi. Cánh
tay ôm cây cái đỏ tía lên vì lạnh. Khi cô ta đi qua chỗ bếp của
chị góa, tôi thấy tay chị góa run bắn. Kẻ thù gặp nhau. Nhưng
cái thù giết chồng cũng không làm chị góa vi phạm qui ước của
Chợ Tuyết, chị không nói thành lời nhưng tôi trông thấy máu đang
sôi lên trong huyết quản chị. Căm thù nhưng không để lỡ chuyện
kinh doanh, đó là cái giỏi của chị góa. Chị hốt trọn cả mẻ bánh
vào cái liễn sứ, bê đến trước mặt Trương Thiên Tứ. Trương Thiên
Tứ chìa tay ra, chị góa hơi ngạc nhiên nhưng lập tức chị hiểu
ra. Chị vỗ vỗ trán tự trách mình sơ ý. Chị dốc trong lọ lấy ra
hai củ dưa hành vỏ tím đưa tận tay Trương Thiên Tứ và lấy cái
bát nhỏ đổ đầy tương ớt coi như ưu đãi đặc biệt, đặt trước mặt
Trương Thiên Tứ. Những người đàn ông bán chiếu bất mãn nhìn chị
góa, lườm nguýt chị về thái độ ưu ái này. Trương Thiên Tứ thoải
mái ngồi nhấm nháp một cách chậm rãi củ dưa hành, đợi bánh
nguội. Ông ta kiên nhẫn tách từng nhánh hành, xếp chúng lên bàn
ăn thành một hàng dọc theo thứ tự lớn nhỏ, thỉnh thoảng lại đổi
vị trí của các nhánh cho phù hợp với trình tự đã định. Sau đó,
lúc tôi đi sang gian hàng rau, từ xa tôi trông thấy Trương Thiên
Tứ bắt đầu ăn bánh bao, ăn nhanh kinh khủng, không phải là ăn mà
y như bỏ bánh vào chum!
Về chuyện Trương Thiên Tứ gọi hồn, đối với tôi, nó như một cái
xương cá mắc trong họng, chừng nào chưa lấy ra thì tôi còn khó
chịu. Đó là một buổi trưa gió rét căm căm, con trai của người
khách thương Quan Đông thuê một cỗ xe ngựa và bốn người khỏe
mạnh, chở thi thể bố anh ta từ thôn Ngải Khưu đến thôn tôi, hỏi
thăm nhà Trương Thiên Tứ. Lúc đó, tôi cùng Tư Mã Lương đang chơi
đùa trên phố. Tư Mã Lương dẫn đường cho họ. Ngôi nhà của Trương
Thiên Tứ tọa lạc ở góc tây nam của thôn, tách hắn với những nhà
khác. Tường vây rất cao, cổng đóng im ỉm, cánh cổng dán hai đạo
bùa vẽ trên giấy vàng. Tư Mã Lương trỏ cái cổng cho con trai
người khách thương rồi né sang một bên. Con trai người khách
thương móc túi lấy ra một tờ giấy bạc nhét vào tay Tư Mã Lương
rồi bước tới trước cổng, chần chừ một thoáng, cuối cùng cầm lấy
cái vòng đập vào cánh cổng. Đập lần thứ hai, cánh cổng hé mở, ló
ra khuôn mặt Trương Thiên Tứ bôi đầy chu sa.
- Đến rồi hả? - Ông ta hỏi.
Con trai người khách thương mặc chiếc áo dài cổ lông chồn, hất
đầu về phía cỗ xe ngựa, không trả lời. Trương Thiên Tứ chìa tay
ra, nói:
- Đưa đây!
Con trai người khách thương lôi trong bọc ra một gói giấy, nói:
- Đây là tiền đặt cọc. Nếu ông đưa đến ngày mồng Bốn tháng Chạp
thì tôi thưởng cho ông thêm một khoản nữa, khoản này là...
Trương Thiên Tứ nói:
- Không phải khoan kim cương thì khoan sao nổi vật rắn! Ông yên
tâm đi, chuẩn bị ngày mồng Bốn tháng Chạp đón hỉ thần!
Con trai người khách thương nói:
- Nếu lỡ hẹn...
Trương Thiên Tứ nói:
- Lỡ hẹn thì tôi không lấy một xu.
Con trai người khách thương nói:
- Nếu như thiếu chân thiếu tay thì...
Trương Thiên Tứ nói:
- Thiếu gì trên người ông già thì cứ xẻo lấy trên người tôi mà
bù vào?
Con trai người khách thương nói:
- Tôi vẫn cứ phấp phỏng thế nào ấy, từ đây đến quê tôi chí ít
cũng nghìn dặm, trèo đèo vượt suối, qua sông qua đò...
Trương Thiên Tứ nói:
- Ông có gọi hồn hay không thì bảo? Không gọi nữa thì cuốn xéo!
Đạo Hoạt nạn chúng tôi ba nghìn thầy trò, gọi hồn khắp cái đất
nước Trung Quốc này chưa hề sai sót điều gì?
Con trai người khách thương nói:
- Xin ông đừng nóng, sao tôi lại không tin ông. Không tin ông
thì tôi chở đến đây làm gì?
- Thôi được, thỏa thuận như vậy nhé, ngày mồng Bốn tháng Chạp
tôi bày cơm rượu đón hỉ thần, anh em, khênh vào đi!
Bốn người đàn ông mặc áo chẽn, thận trọng chuyển cái xác sang
một cái cáng tạm bợ. Xác chết to bằng con trâu, bụng bằng cái
chum đựng nước, đầu hói quá nửa, trên mặt đậy tờ giấy vàng. Ông
ta dễ nặng đến hai tạ, khi còn sống chắc là đi đứng khá vất vả,
nay chết rồi thì làm sao vượt hàng nghìn dặm để về quê ở Quan
Đông? Nhân tiện xin nói thêm, vùng đông bắc Cao Mật, kề một bên
thôn lớn thuộc châu Bình Độ, đó là thôn Ngải Khưu. Bắt đầu từ
đời Minh, họ sáng tác tranh niên họa vẽ trên giấy điệp, bán khắp
ba tỉnh Quan Đông.
Hàng năm cứ vào đầu mùa đông, các lái tranh vùng đông bắc đều về
đây trong khi đợi lấy hàng thì uống rượu chơi gái vì họ rất
nhiều tiền. Thôi, không nói dông dài nữa. Cái xác của ông chủ
thương nặng trĩu bên phải, hai người khiêng bên phải mồ hôi đầm
đìa, hai người khiêng bên trái thì lại tương đối nhẹ nhàng. Đây
chính là hiện tượng người chết nặng một bên. Bốn trai tráng
khênh cáng vào trong cổng liền đặt xuống theo lệnh của Trương
Thiên Tứ, đặt trên một chiếc chiếu cói đã chuẩn bị sẵn. Trương
Thiên Tứ không lịch sự gì cả, nói luôn:
- Các vị ra ngay để tôi tiếp linh khí.
Con trai người khách thương còn định nói gì nữa, nhưng Trương
Thiên Tứ đẩy tất cả ra ngoài cổng rồi đóng sập cổng lại. Bốn
trai tráng như bị trúng tà khí, đứng ngây ra như phỗng. Con trai
người khách thương rút tiền trả bốn người. Anh ta lại bước tới
bên cổng ghé mắt nhìn vào trong. Không nhìn thấy gì, vì cổng nhà
Trương Thiên Tứ không một kẽ hở. Lại áp tai vào cánh cổng nghe
động tĩnh, nhưng bên trong im ắng như nghĩa địa. Tường vây xây
bằng gạch cao hơn mái nhà, trên tường chăng dây thép gai, ngôi
nhà của Trương Thiên Tứ khiến người ta kính nể, ngay cả Lỗ Lập
Nhân và chị Phán Đệ khi phát động phong trào Bần Nông Đoàn cũng
không dám vào nhà, mặc dù rất biết mức sinh hoạt của Trương
Thiên Tứ hơn hẳn trung nông. Nhân vật bự thích nghịch nghiên mực
từng tặng Bần Nông Đoàn một câu như sau: Đấu một trung nông hơn
đập chết mười con thỏ đồng. Con trai người khách thương không
biết làm thế nào, đành phải ra về cùng với bốn trai tráng. Mười
mấy đứa trẻ chúng tôi nhìn những phù chú quái gở trên cánh cổng
mà rợn tóc gáy, lặng lẽ rút lui. Không biết ai đã kêu lên: Ma
đấy? Thế là chúng tôi co giò chạy, để đối phó với quỉ nhập
tràng, chúng tôi chạy thẳng vào gốc cây cổ thụ, sắp chạm gốc thì
rẽ đột ngột. Chạy ngay sau lưng tôi là Tư Mã Lương né không kịp,
vêu cả môi lên khi dập vào gốc cây liễu.
Cái hôm Trương Thiên Tứ dẫn người chết ra đi, người trong thôn
đã đến đợi sẵn ngoài cổng. Trời chưa sáng hẳn, vầng trăng tròn
vành vạnh vẫn chưa lặn, chân trời phía đông lảng vảng mấy đám
mây mỏng màu hồng, mặt trời chua mọc. Chúng tôi đứng im, cố nén
cả tiếng hắt hơi. Không có gió, chỉ có hơi lạnh thấu quang,
người khác thì tôi không rõ, riêng tôi run cầm cập. Phía đầm xa
xa là màu kim nhũ. Mấy con ngỗng trời vươn cổ cong cong trên
băng mỏng rúc mỏ vào trong cánh. Khói trắng cuồn cuộn trên ống
khói nhà Trương Thiên Tứ, từng đám tàn giấy theo khói bay lên
cao, một mùi lạ khiến người lộn mửa tỏa ra khắp nơi. Rồi lửa
tắt, khói trắng cũng không bốc lên nữa, trong sân sáng mờ mờ,
không một tiếng động, có thể nghe rõ tiếng đánh rắm của con
ngỗng trời ngoài đầm. Cái mùi lạ càng đậm đặc khiến người ta
phải lấy tay áo bịt mũi. Đợi rất lâu, cuối cùng cánh cổng mở ra,
kẹt lên một tiếng như tiếng xé vải. Trương Thiên Tứ mình mặc áo
chẽn màu đen, phía dưới mặc quần hẹp ống cũng màu đen, chân đi
giày gai, đầu đội mũ dạ đen giống như cái nón, bước ra cổng. Ông
ta khoác trên tay trái một chiếc làn, tay phải xách chiếc đèn
lồng phết bằng giấy bồi. Trong đèn có ánh sáng leo lét ông ta
đứng nghiêng bên cổng, nói nhỏ vào trong bằng một giọng cực kỳ
nghiêm trang:
- Xin mời hỉ thần đi ra?
Dưới ánh trăng, cái xác chết to béo đứng trước bức tường ngăn
làm bình phong, mặc chiếc áo dài đen rộng thùng thình không tay,
cái đầu hói tròn xoay được quấn bằng một chiếc khăn đen, chụp
lên khăn là một chiếc mũ cói. Phần dưới của áo choàng quét đất,
do vậy không nhìn thấy chân. Các xác như một cây tháp biết đi.
Chúng tôi không tin vào mắt mình. Cái xác cứng đơ nhưng rõ ràng
là biết đi. Nó đi động theo ánh trăng, ra đến cổng thì dừng lại,
thân hình to lớn chao đi một cái như sắp ngã. Nó có vẻ đầu nặng
chân nhẹ, cái mùi rất gắt là từ trong áo choàng tỏa ra. Trương
Thiên Tứ khóa cổng lại bằng một chiếc khóa to tướng bằng đồng.
Ông ta đến trước mặt hỉ thần, ngồi xuống đốt một thếp tiền giấy.
Chiếc áo dài của người chết phất phơ trong ánh lửa. Đốt vàng mã
xong, Trương Thiên Tứ cúi lạy một lạy rồi đứng lên niệm thần
chú. Niệm chú xong, ông ta đi trước, mặt xoay nghiêng, nói nhỏ:
Hỉ thần, hỉ thần, xin hãy lên đường, trở về cố hương, chôn cùng
tổ tiên. Con hiền cháu thảo, đêm ngày ngóng trông. Hỉ thần, hỉ
thần, lên đường may mắn?. |