|
gầy
như que củi xuống vệ đường. Nấm mồ được đắp bằng đất vụn.
Về đến nhà, phát hiện đầu tiên của chúng tôi là chị Ba ôm một
cái bọc mà vỏ ngoài là cái áo da báo, đi đi lại lại trong sân.
Mẹ vịn mép cổng, gần như khuỵu xuống.
Chị Ba bước tới dưa cái bọc cho mẹ. Mẹ hỏi:
- Bọc gì đây? Chị nói bằng tiếng người tương đối chuẩn:
- Cháu bé.
Mẹ ra vẻ hiểu nhưng vẫn hỏi:
- Con ai?
Chị Ba nói:
- Còn ai vào đây nữa!
Chiếc áo da báo của Lai Đệ chỉ có thể bọc con của Lai Đệ
Đó là một đứa con gái đen như một cục than, hai con mắt phảng
phất mắt gà chọi, cặp môi mỏng dính, hai vành tai to và trắng,
rất không hòa hợp với da mặt. Đặc trưng này xác nhận không thể
chối cãi nguồn gốc con bé. Nó là con của Sa Nguyệt Lượng với chị
Cả, đứa cháu ngoại đầu tiên của gia đình tôi.
Mẹ tỏ ra ghét cay ghét đắng con bé. Nó, trái lại, mỉm cười như
con mèo con, đáp lại thái độ của mẹ. Mẹ tức điên lên, quên cả
chị Ba có phép thần thông, đạp cho chị Ba một cái vào chân.
Chị Ba ối lên một tiếng ngã chúi về phía trước. Khi chị ngoảnh
lại, trên mặt lộ rõ sự tức giận của loài chim. Chị dẩu mỏ ra như
sắp mổ, hai tay giơ cao như sắp sửa bay lên. Mẹ không đếm xỉa
đến chị là người hay chim, chửi:
- Đồ khốn, ai cho mày nhận con của nó?
Chị Ba ngọ ngoạy đầu, như tìm kiếm sâu bọ trên cây ngô đồng. Mẹ
lại chửi:
- Lai Đệ, mày là đồ thối thây không biết xấu hổ! Sa Hòa thượng,
mi là đồ thổ phỉ lòng lang dạ sói? Chúng mày chỉ biết đẻ mà
không nuôi! Chúng mày tưởng cứ quẳng cho ta là ta nuôi hộ? Có mà
nằm mơ? Ta thì quẳng cái đồ con hoang này xuống sông cho ba ba
nó ăn, ném ra đường cho chó nó xé xác, quẳng xuống đầm cho quạ
nó rỉa. Hãy đợi đấy.
Mẹ bế con bé, miệng cứ lặp đi lặp lại cho ba ba ăn, cho chó xé
xác, cho quạ na, vừa chạy như bay trong ngõ, chạy lên đê rồi
chạy trở lại đường phố, từ đồng phố chạy trở lại đê... càng chạy
càng chậm dần, tiếng gào ngày càng nhỏ như một chiếc máy kéo đã
cạn đầu, mẹ ngồi phịch xuống đất, chỗ mục sư Malôa từ gác chuông
rơi xuống. Mẹ ngước nhìn gác chuông, miệng lẩm bẩm:
- Người thì chết, người bỏ đi, để tôi chơ vơ một mình, tôi sẽ
sống như thế nào, cả một lũ đang há miệng chờ ăn? Chúa ơi, ông
trời ơi, xin hãy cho tôi biết, tôi sẽ sống như thế nào?
Tôi khóc, nước mắt rơi trên gáy mẹ. Con bé cũng khóc, nước mắt
chảy vào tai. Mẹ dỗ tôi:
- Kim Đồng, con là hòn máu của mẹ, nín đi con.
Mẹ dỗ con bé:
- Tội nghiệp cháu, lẽ ra cháu không nên sinh ra ở đời này! Sữa
của ngoại chỉ vừa đủ cho cậu của cháu. Thêm một nữa, cả hai đều
chết đói. Không phải ngoại nhẫn tâm mà vì ngoại không còn cách
nào khác...
Mẹ bỏ lại con bé bọc trong chiếc áo da báo ở cổng nhà thờ, rồi
chạy về nhà như bị ma đuổi. Nhưng chỉ chạy được hơn chục buộc,
chân mẹ đã cất không nổi nữa. Con bé khóc như lợn bị chọc tiết,
tiếng khóc như sợi dây vô hình giữ chân mẹ lại...
Ba hôm sau, cả nhà tôi gồm chín người xuất hiện ở Chợ Người
trong khu vực Chợ Lớn trên huyện. Mẹ địu tôi trên lưng, tay bế
con súc sình nhà họ Sa, chị Tư cõng thằng lưu manh nhà họ Tư Mã.
Chị Năm cõng chị Tám. Chị Sáu chị Bảy tự đi lấy.
Chúng tôi bới đống rác kiếm ít lá rau thừa để ăn, cố gắng đi cho
đến Chợ Người. Mẹ cắm cây cao lương trên gáy chị Năm, chị Sáu,
chị Bảy, đợi người đến mua. Trước mặt chúng tôi là những dãy nhà
đơn giản bằng gỗ ván, tường và mái quét vôi trắng. Khói bốc cuồn
cuộn từ ống khói nhô ra ở đầu thang. Làn khói bay lên không
trung thay hình đổi dạng trước làn gió. Chốc chốc lại có những
cô gái làm tiền, tóc xõa, hở ngực, môi đỏ chót, mắt ngái ngủ từ
trong căn nhà gỗ chạy ra, hoặc bê chậu hoặc xách thùng, đến lấy
nước ở giếng lộ thiên, trên giếng đặt ròng rọc, hơi nước nhẹ
nhàng bốc lên. Họ kéo ròng rọc bằng hai cánh tay ẻo lả trắng
nhợt. Sợi thừng miết trên con lăn rít lên khe khẽ. Khi chiếc
thùng thô và nặng lên đến miệng giếng, họ dùng chân đi guốc móc
lấy quai thùng rê ngang đặt lên tang giếng lổn nhổn những cục
băng có hình bánh bao hoặc bầu vú. Đám phụ nữ bê nước chạy ra
chạy vào, tiếng guốc cốp cốp ròn rã: Những bầu vú tỏa ra mùi
khét của lưu huỳnh. Qua vai mẹ, tôi nhìn từ xa những người đàn
bà kỳ quái đó, nhốn nháo những vú là vú như hoa thuốc phiện trên
nương, như đàn bướm trong thung lũng. Họ rất hấp dẫn chị tôi.
Tôi nghe chị Tư khẽ hỏi mẹ, nhưng mẹ không trả lời. Chúng tôi
đứng trước bức tường cao, dầy và dài. Nó chắn gió tây bắc, chúng
tôi cảm thấy dễ chịu. Mặt trời đỏ rực nhô khỏi đường chân trời
màu xám nhạt khiến tôi nghĩ tới hình ảnh lá cờ đang bay trên mặt
thành. Bên trái bên phải chúng tôi, một số người mặt xanh nanh
vàng, đói khát như chúng tôi, đứng co ro, đàn ông và đàn bà, phụ
nữ và trẻ con, có đủ. Đàn ông nhăn nheo như cây khô, quá nửa là
bị mù, không mù thì toét mắt. Người nào cũng có một đứa nhỏ đứng
bên cạnh, hoặc con gái hoặc con trai, thật ra rất khó phân biệt
trai hay gái. Chúng đen nhẻm như từ ống khói chui ra, đen như
một cục than. Sau gáy đứa nào cũng cắm một nhánh cỏ, phần lớn là
cây cao lương với những lá khô vàng khiến người ta nghĩ đến mùa
thu, nghĩ đến mùi rơm rạ ngựa nhai trong đêm tối, nghĩ đến tiếng
động khiến người và ngựa đều vui thích. Cũng có trường hợp cắm
đại một nhánh cỏ dại, cỏ đuôi chó, cỏ đuôi lừa: Phụ nữ thì quá
nửa như mẹ, con cái vây xung quanh, nhưng không nhiều con như
mẹ. Những nhóm trẻ ấy, có nhóm tất cả đều cắm cỏ sau gáy, có
nhóm đứa cắm đứa không. Phía trên đầu đám trẻ là những cái đầu
nặng nề của những con ngựa to lớn, những con lừa đại, với cặp
mắt như những quả lục lạc cặp môi dày dâm đãng mọc tua tủa những
lông cứng, hàm rằng đều và khỏe lấp lóa giữa đôi môi, cũng cắm
đại lên đầu một nhánh cỏ dại, cỏ đuôi chó hoặc đuôi lừa. Chỉ
riêng một phụ nữ thì khác. Chị này mặc bộ đồ trắng, sợi dây buộc
tóc cũng trắng, mặt trắng nhọt, hốc mắt và môi tím tái. Chị
không có trẻ con đứng bên cạnh. Chị đứng một mình dưới chân
tường. Chị cầm trên tay - không phải, cài sau gáy - một nhánh cỏ
đuôi chó hoàn chỉnh còn nguyên cả lá, tuy lá đã khô, nhưng đó là
một nhánh cỏ đẹp, phát dục đầy đủ, lá còn giữ được màu xanh, tuy
là xanh héo nhưng vẫn còn sức sống: chùm lông phất phơ mềm mại,
vàng rực lên dưới nắng. Rất lâu, ánh mắt tôi như bị hút chặt vào
bông cỏ đuôi chó, trái tim tôi như chìm trong cái đẹp thê thảm
của bông cỏ đuổi chó, vì rằng tôi trông thấy những núm vú tí xíu
trên thân và giữa những kẽ lá của bông có đuôi chó.
Phía dãy nhà quét vôi trắng nhốn nháo, tiếng chửi the thé chói
tai, như lưỡi dao rạch vào không khí. Hai cô gái đang ẩu đả ở
chỗ giếng nước. Một cô mặc quần màu hồng, một cô mặc quần màu
xanh. Cô quần hồng cào vào mặt cô quần xanh. Cô quần xanh thụi
cho cô quần hồng một quả vào ngực. Rồi, cả hai đều lùi lại nhìn
nhau trong một phút. Tuy không nhìn thấy, nhưng tôi đoán được
ánh mắt hai người như thế nào, chắc rất giống cái nhìn của chị
cả Lai Đệ và chị hai Chiêu Đệ. Bỗng cả hai xông vào nhau như gà
chọi, những thân hình nhấp nhô như chó chạy trong ruộng lúa
mạch, tay vung, vú lắc, nước bọt bắn tung tóe, lấp loáng như
những con thiêu thân dưới ánh đèn. Cô quần hồng túm được tóc cô
quần xanh. Cô quần xanh theo đà ngoạm một miếng vào vai trái cô
quần hồng, cô quần hồng cũng ngoạm luôn một miếng vào vai trái
cô quần xanh. Hai bên đồng cân đồng lạng, tài sức ngang nhau,
quần nhau bên giếng nước. Những cô khác, người thì tựa cửa hút
thuốc, người đánh răng súc miệng nhổ bọt phì phì, người lại vỗ
tay cười ngặt nghẽo, người phơi tất mỏng dính trên dây thép.
Trên phiến đá hình tròn trước dãy nhà, một người đứng thẳng
đuỗn, chân đi ủng đen bóng lộn, tay cầm roi mây, vụt trái đánh
vút một cái, vụt phải đánh vút một cái. Hắn dùng roi thay đao để
luyện đao thuật. Một đám đàn ông từ một rừng cờ phía tây nam đi
tới, những người bụng lép vây quanh vài người thấp lùn bụng phệ,
nung núc những mỡ. Người bụng phệ cười khùng khục như gà cục tác
Tiếng cười quái gở đó cứ ám ảnh tôi, khiến tôi nhớ lại quang
cảnh bên giếng nước. Những người bụng phệ cùng đám tùy tùng tiến
đến ngôi nhà gỗ ván, tiếng cục tác nghe càng rõ. Người đang
luyện đao thuật trên phiến đá nhảy vội xuống, lỉnh vào trong
nhà. Một mụ béo lùn tịt lạch bạch chạy ra chỗ giếng nước, bàn
chân nhỏ đến nỗi gần như không có, bắp chân cắm thẳng xuống đất.
Qua hai cánh tay ngắn ngủn và mập như ngó sen vung vấy, có thể
kết luận mụ đang chạy gằn, tốc độ thì như thế nhưng quãng đường
đi thì không được bao nhiêu. Có bao nhiêu sức đều dồn cho những
cái lắc của cơ thể và co rút của bắp thịt. Khoảng cách chừng một
trăm thước, có lẽ hơn, chúng tôi đã nghe rõ tiếng thở của mụ,
hơi nước thở ra trùm lên người giống như mụ đang ở trong nhà
tắm. Cuối cùng thì mụ cũng đã tới giếng nước.
Tiếng chửi của mụ bị hơi thở làm đứt quãng, không rõ ý, chỉ nghe
câu được câu chăng. Chúng tôi đoán mụ là chủ của hai cô đang
đánh nhau, mụ đến để gỡ hai cô ra. Nhưng hai cô quyết không nhả
miếng cắn, cuộc đấu của diều hâu với chim ưng, vuốt quặp lấy
vuốt, khó mà gỡ. Họ đẩy nhau kẻ tiến người lui, kẻ lui người
tiến, mấy bận suýt lăn xuống giếng nhưng không lăn vì vướng cái
khung treo ròng rọc. Mụ béo đến gỡ họ ra cũng suýt bị rơi xuống
giếng, sở dĩ không rơi cũng là nhờ cái khung ròng rọc giữ lại.
Mụ nằm sấp trên cái khung, tìm cách đặt chân xuống đất. Chúng
tôi trông thấy mụ bị trẹo chân khi nhảy ra dẫm phải cục băng
tròn như cái bánh bao, ngã ngồi xuống đất, nghe thấy tiếng nheo
nhéo từ miệng mụ phát ra. Chẳng lẽ mụ khóc? Mụ đứng dậy bê lấy
chậu nước hắt lên người hai cô kia. Hai cô giật mình la lên rồi
buông nhau ra. Cả hai đầu tóc rối bù, cả hai mặt mày xây xước,
cả hai quần áo rách toạc, cả hai đều bị thương lốm đốm ở bầu vú.
Người nọ nhổ máu của người kia ra, cơn giận vẫn chưa nguôi. Mụ
béo lại bê chậu nước khác hắt lên người họ, làn nước uốn mình
trong không trung như cánh chim, trong suốt. Mụ mất đà, ngã lần
nữa, chiếc chậu sành văng đi, suýt rơi trúng đẩu những người đàn
ông bụng phệ. Họ rất quen nhau, đùa bỡn chọc ghẹo sờ soạng cấu
véo, cuối cùng cả hai vào trong căn nhà gỗ.
Tôi nghe thấy xung quanh thở dài, mới biết họ đều xem màn kịch
bên giếng nước.
Giữa trưa, một cỗ xe ngựa từ hướng đông nam theo đường cái quan
đi tới. Ngựa là ngựa trắng, ngẩng cao đầu, một lọn bờm màu bạc
rủ trước trán, đôi mắt hiền lành, mũi màu phấn hồng môi đỏ tía,
cổ đeo nhạc đồng. Vì vậy khi con ngựa kéo cỗ xe rẽ xuống đường
cái quan, chúng tôi nghe thấy tiếng nhạc ngựa kêu ròn tan. Chúng
tôi trông thấy cọc yên - ở đây phải gọi là mỏm yên, dưới cao lên
rất quí phái. Chúng tôi chưa bao giờ trông thấy một cái yên đẹp
như thế. Dóng xe cũng không phải thanh dóng bình thường, mà là
bọc đồng sáng loáng. Bánh xe cao cao, trục xe mạ kền, mui xe
bằng vải trắng sơn nhiều lớp đầu ngô đồng. Chúng tôi chưa bao
giờ trông thấy một cỗ xe sang trọng đến như vậy và nghĩ rằng,
nguôi ngồi trên cỗ xe này còn sang trọng hơn người đàn bà ngồi
xe du lịch đến gặp Nàng Tiên Chim. Chúng tôi cho rằng người ngồi
bên ngoài mui có hàng ria vênh trên môi cũng không phải con
người bình thường. Hắn vênh mặt lên, cặp mắt tóe lửa. Hắn thâm
trầm hơn Sa Nguyệt Lượng, nghiêm túc hơn Tư Mã Khố, có lẽ Hàn
Chim ăn mặc quần áo như hắn mới so được với hắn.
Xe từ từ dừng lại. Bà ta khoác áo lông điêu màu mận chín, cổ
quàng khăn lông chồn. Tôi rất mong bà ta chính là Chị cả Lai Đệ.
Nhưng bà ta không phải chị Lai Đệ. Đây là một phụ nữ nước ngoài,
mũi cao, mắt xanh, tóc bạch kim. Tuổi ư? Chỉ có cha mẹ bà ta mới
biết bà ta bao nhiêu tuổi! Xuống xe cùng với bà ta, là một thanh
niên tuấn tú, mặc bộ đồng phục học sinh màu xanh, áo khoác bên
ngoài cũng màu xanh, tóc đen như mun. Nhìn phong thái anh ta có
vẻ là con trai bà kia, nhưng về dung mạo thì anh ta chẳng giống
chút nào.
Những người xung quanh chúng tôi tranh nhau ùa tới, làm như định
giành lấy bà ngoại quốc, nhưng chưa tới gần họ đã dừng lại, vẻ
ngần ngại. Thưa bà, thưa quí bà, bà mua đứa cháu của tôi! Thưa
bà, thưa bà lớn, xin bà hãy nhìn thằng con tôi, nó trung thành
hơn con chó, việc gì cũng làm được... Đàn ông và đàn bà rụt rè
rao bán con cái với người đàn bà ngoại quốc. Riêng mẹ vẫn đứng
yên tại chỗ. Mắt mẹ như dại đi, nhìn chăm chằm chiếc áo lông
điêu và chiếc khăn quàng lông cáo. Rõ ràng mẹ đang nhớ chị Lai
Đệ. Mẹ đang bế đứa con gái của chị, trong lòng ngổn ngang, nước
mắt lã chã. Bà đầm quí phái dùng khăn tay nửa che nửa bịt miệng,
đi một vòng chợ người, người bà sực núc mùi nước hoa, khiến tôi
và thằng lỏi nhà Tư Mã hắt hơi liên tục. Bà ta ngồi xổm trước
ông lão mù, ngắm nghía con nhỏ cháu lão. Nó nhiều nhất cũng chỉ
lên bốn. Nó khiếp đảm vì con cáo trên cổ bà ta, hai tay ôm chặt
chân ông lão. Cặp mắt hốt hoảng của con bé khiến tôi nhớ mãi.
Ông lão mù đã đánh hơi thấy quí nhân, giơ tay ra phía trước,
nói:
- Thưa bà, thưa bà, xin bà hãy cứu cháu, ở với lão thì nó chết
mất, thưa bà, lão một xu cũng không lấy, thưa bà...
Bà đầm đứng dậy, xì xô câu gì đó với người thanh niên mặc đồng
phục học sinh, anh ta cao giọng hỏi ông lão:
- Lão là thế nào với con bé?
Ông già mù nói:
- Lão là ông nó, người ông vô dụng, người ông chết tiệt!...
Người thanh niên lại hỏi:
- Cha mẹ nó đâu?
Ông lão mù nói:
- Chết rồi, chết cả rồi. Người đáng chết thì chẳng chết, người
không đáng chết thì lại chết, thưa ông, xin ông làm ơn đem cháu
đi, lão không lấy xu nào đâu, chỉ xin ông cho cháu con đường
sống!...
Người thanh niên quay sang xì xồ với bà đầm, bà đầm gật đầu,
người thanh niên cúi xuống định kéo tay con bé, nhưng khi bàn
tay vừa chạm vai thì con bé cắn ngay một miếng vào cổ tay anh
ta. Anh ta rú lên, nhảy lùi lại. Bà đầm trọn mắt nhún vai, rồi
dùng chiếc khăn tay bịt miệng, băng cổ tay cho anh ta.
Với tâm trạng không rõ là sợ hay là mừng, chúng tôi chờ như đến
một nghìn năm, bà ngoại quốc vàng ngọc đầy người, nước hoa điếc
mũi cùng với người thanh mến bị thương ở cổ tay, rốt cuộc đã
dừng trước gia đình tôi. Và, sau lưng chúng tôi, ông lão mù đang
vung gậy trúc đánh đứa cháu gái cắn nó. Con bé nhanh nhẹn chơi
trò ú tim với ông nó, khiến cây gậy lúc thì vụt xuống đất, lúc
vụt vào tường.
- Mi là cái số ăn mày! - Ông lão mù than thở.
Tôi hít lấy hít để mùi nước hoa, từ mùi hoa hòe nhận ra mùi hoa
hồng, rồi từ mùi hoa hồng nhận ra mùi thoang thoảng của hoa cúc.
Nhưng làm tôi mê mẩn chính là mùi tỏa ra từ cặp vú của bà ta,
cái mùi hăng hăng khiến tôi lợm giọng, nhưng tôi vẫn hếch mũi
hít lấy hít để. Không còn khăn tay, miệng bà lộ rõ hoàn toàn,
một cái miệng rộng như của chị Lai Đệ, với đôi môi mọng như của
chị Lai Đệ. Môi to son, mũi có những điểm tương đồng như mũi của
các con gái nhà Thượng Quan: mũi dọc dừa. Chỗ không giống nhau
là chóp mũi con gái nhà Thượng Quan có hình củ hành, ngây thơ mà
dáng yêu, còn chóp mũi của người đàn bà ngoại quốc này thì khoằm
xuống như mỏ diều, một loài chim ăn thịt. Trán ngắn, mỗi khi
nhường mắt lên, trên trán hằn sâu những nếp nhăn. Tôi biết mọi
người đang chăm chú nhìn người đàn bà ngoại quốc, nhưng tôi có
thể tự hào mà nói rằng, không ai quan sát tinh tế hơn tôi, không
ai thu hoạch nhiều hơn tôi. ánh mắt tôi xuyên qua lớp lông dày
trên cơ thể bà ta, nhìn thấy cặp vú to bằng vú mẹ tôi mà vẻ đẹp
của chúng khiến tôi quên cả đói rét.
- Vì sao bà phải bán con? - Người thanh niên giơ cánh tay quấn
băng, chỉ vào các chị của tôi có cài cọng cỏ sau gáy
Mẹ không trả lời câu hỏi của anh ta. Chẳng lẽ trả lời một câu
hỏi ngu xuẩn như vậy. Anh ta ngoảnh lại xì xồ với người đàn bà
ngoại quốc, có thể là bà chủ cũng có thể là không của anh ta. Bà
ta chú ý ngay chiếc áo lông điêu ủ cho con gái Lai Đệ. Bà ta sờ
mặt áo, bắt gặp cặp mắt man dại và u sầu của con bé, bà ta vội
quay đi.
Tôi rất muốn mẹ cho bà ta đứa con gái của Lai Đệ.
Chúng tôi cũng không lấy một xu, còn tặng thêm bà ta chiếc áo
lông điêu. Tôi ghét con bé. Nó không có lý gì để ăn chia sữa mẹ
với tôi. Ngay cả chị Tám cũng không đủ tư cách ăn chia, huống hồ
nó! Hai bầu vú của chị Lai Đệ để làm gì? Sa Nguyệt Lương nhả đầu
vú chị Lai Đệ, nhố máu cục ra, súc miệng bằng nước lã. Anh ta
nói:
- Phải vậy thôi! Em bị chốc vú!
Chị Lai Đệ nước mắt ràn rụa, hỏi:
- Anh Lượng, chúng mình như con thỏ bị chó săn dồn đuổi, bao giờ
mới kết thúc những chuyện này?
Sa Nguyệt Lượng ngồi hút thuốc, suy nghĩ rất lung nét mặt trở
nên hung hãn, nói:
- Mẹ kiếp, ai có sữa người ấy là mẹ. Hãy chạy theo Nhật, hay thì
ở dở thì xéo!
Bà ngoại quốc ngắm nghía các chị tôi một lượt, đầu tiên là chị
Năm, chị Sáu, vì sau gáy có cắm cỏ, sau đó xem chị Tư, chị Bảy,
chị Tám không có cỏ sau gáy, không thèm ngó thằng mất dạy nhà Tư
Mã. Hình như bà có vẻ thích tôi. Tôi cho rằng ưu thế của tôi là
cái đầu tóc vàng mềm mại. Cách thức xem xét của họ cũng rất lạ.
Người thanh niên ra lệnh cho các chị tôi lần lượt thực hiện các
động tác sau: cúi đầu, cúi gập người, hất chân, tay nọ nắm tay
kia rồi giơ cao quá đầu, dưa hai vai ra trúc, ra sau, há to
miệng kêu a...a..., cười một tiếng, đi vài bước, chạy vài bước.
Các chị ngoan ngoãn thực hiện mệnh lệnh của anh ta. Bà ngoại
quốc nhìn chăm chú, lúc gật gật, lúc lại lắc đầu. Cuối cùng bà
chỉ vào chị Bảy, xì xồ với người thanh niên.
Người thanh niên chỉ vào bà ngoại quốc, bảo mẹ:
- Đây là bá tước phu nhân Roxtov, bà là một nhà từ thiện lớn. Bà
muốn nhận một bé gái Trung Quốc làm con nuôi. Ưng đứa này, phúc
cho gia đình bác!
Mẹ bỗng ứa nước mắt, chuyển con bé của Lai Đệ cho chị Tư, đang
tay ôm lấy đầu chị Bảy:
- Bảy ơi, Cầu Đệ ơi, con yêu của mẹ, con gặp may rồi!
Nước mắt mẹ tôi như mưa xuống đầu chị Bảy. Chị sụt sịt khóc:
- Mẹ ơi, con không đi với bà đâu, người bà ấy khó ngửi lắm...
Mẹ nói:
- Con ngốc nghếch của mẹ, người ta thơm đấy con ạ!
Người thanh niên sốt ruột, nói:
- Thôi bác bàn chuyện giá cả đi!
Mẹ nói:
- Thưa ông, được làm con nuôi của bà đây thì chuột sa chĩnh gạo,
tôi không lấy tiền đâu... Chỉ xin đối xử tốt với cháu!
Anh thanh niên dịch lại cho bà ngoại quốc nghe, bà ngọng nghịu
nói bằng tiếng Trung Quốc:
- Không, vẫn cứ cho tiền.
Mẹ hỏi: - Thưa ông, ông hỏi bà phu nhân xem có thể nhận một đứa
nữa không? Cho chúng có chị có em!
Người thanh niên dịch lại. Phu nhân Roxtov dứt khoát lắc đầu.
Người thanh niêndúi vào tay mẹ hơn chục tờ tiền giấy màu phấn
hồng, rồi vẫy vẫy người đánh xe. Người đánh xe chạy tới, cúi
chào anh thanh niên.
Người đánh xe bế chị Bảy ra xa. Lúc này chị mới khóc òa lên và
giơ cánh tay khẳng khiu về phía mẹ. Các chị khóc òa theo, ngay
cả thằng nhóc đáng thương nhà Tư Mã cũng nhếch miệng òa lên một
tiếng, lát sau lại òa tiếng nữa. Người đánh xe đùn chị Bảy vào
trong xe. Bà ngoại quốc cũng vào theo, lúc người thanh niên sắp
lên xe, mẹ đuổi kịp, kéo tay anh ta, hỏi:
- Thưa ông, phu nhân ở đâu?
Anh ta trả lời lạnh nhạt:
- Cáp Nhĩ Tân.
Xe chạy lên đường cái quan, mất hút rất nhanh sau khu rừng.
Nhưng tiếng gào khóc của chị Bảy, tiếng leng keng của nhạc ngựa,
mùi hương trên vú của Bá tước phu nhân đọng mãi trong ký ức tôi.
Mẹ đã biến thành tượng đất, tay vẫn giơ cao nắm tiền, tôi cũng
biến thành một bộ phận của tượng.
Đêm ấy chúng tôi không ngủ ngoài đường mà trọ trong một quán
trọ. Mẹ sai chị Tư chạy đi mua hơn chục cái bánh mì. Chị lại mua
về bốn mươi cái bánh bao, một gói thịt thủ lợn. Mẹ giận, nói:
- Con Tư, đây là tiền bán em mày đấy!
Chị Tư vừa khóc vừa nói:
- Mẹ, để các em ăn một bữa cho no, mẹ cũng phải ăn một bữa ho.
Mẹ vừa khóc vừa nói:
- Tưởng Đệ, mẹ làm sao nuốt nổi bánh này, thịt này...
Chị Tư nói:
- Mẹ không ăn gì thì Kim Đồng chết mất!
Lời khuyên của chị Tư rất có kết quả, mẹ kìm nước mắt ăn lấy
được chỗ bánh bao và thịt để có sữa cho tôi, và cũng là có sữa
cho con gái chị Lai Đệ và Sa Nguyệt Lượng, cái đồ cường đạo ấy,
tối tối dùng bữa với bọn Nhật!
Mẹ ốm rồi.
Mẹ nóng như lò than, đến nỗi Kim Đồng không lúc nào rời lưng mẹ
cũng phải bỏ cuộc. Chúng tôi ngồi vậy quanh mẹ, chỉ biết giương
mắt nhìn nhau. Mẹ nhắm mắt, bọt rãi trong suốt đùn ra hai bên
mép, mẹ lắp bắp những câu ghê người, lúc thì gào toáng lên, lúc
lại lẩm bẩm một mình. Có lúc nói oang oang phấn khởi, lúc lại
đau xót kể lể. Thượng đế, Đức Mẹ đồng trinh, thiên sứ, ma quỉ,
Thượng Quan Thọ Hỉ, mục sư Malôa, ông Ba Phàn, Tư Vu, dì lớn,
cậu Hai, ông ngoại, bà ngoại... ma quỉ Trung Quốc và thần linh
nước ngoài, người còn sống và người đã chết, những chuyện chúng
tôi biết và những chuyện chúng tôi chưa biết, tuôn ra như suối
từ miệng mẹ, lắc lư, uốn éo, làm diệu làm bộ, biến ảo trước mắt
chúng tôi.
Tìm hiểu những câu nói mê của mẹ chồng khác tìm hiểu vũ trụ, ghi
lại những điều nói mê của mẹ thì cầm bằng ghi lại toàn bộ lịch
sử vùng Cao Mật.
Chủ quán, một người đàn ông trung niên da bèo nhèo, mặt đầy nốt
ruồi, bị đánh thức vì tiếng rên la của mẹ. Ông ta vào buồng, sờ
trán mẹ, lập tức rụt tay lại, nói:
- Đi mời thầy thuốc mau, khéo chết mất!
Ông nhìn chúng tôi hỏi chị Tư:
- Cô là chị Cả phải không?
Chị Tư gật đầu, ông hỏi:
- Tại sao không mời thầy thuốc? Này, sao cô không nói gì thế!
Chị Tư khóc òa lên, quì sụp trước mặt chủ quán, nói:
- Bác ơi, bác cứu mẹ cháu với?
Ông chủ quán nói:
- Tôi hỏi cô nhé, cô có bao nhiêu tiền?
Chị Tư lục túi mẹ, lấy ra mấy tờ tiền giấy đưa cho ông chủ quán:
- Bác ơi, đây là tiền bán em Bảy cháu?
Chủ quán cầm tiền, nói:
- Cô đi theo tôi. Đi mời thầy thuốc? -
Tiêu hết số tiền bán chị Bảy, mẹ mới mở được mắt. Mẹ mở mắt rồi,
mẹ mở được mắt rồi? Chúng tôi rưng rung nước mắt, reo ầm lên. Mẹ
giơ tay sờ mặt từng đứa.
- Mẹ, mẹ, mẹ, mẹ?... - chúng tôi gọi.
- Bà ngoại ơi, bà ngoại!...
Thằng nhóc đáng thương nhà Tư Mã cũng lắp bắp.
- Nó đâu? Nó... Mẹ chìa một tay ra, hỏi.
Chị Tư bế con bé được bọc trong cái áo lông điêu tới trước mặt
để mẹ xoa đầu nó. Khi mẹ xoa đầu, nó nhắm mắt lại. Hai giọt nước
mắt của mẹ ứa ra.
Ông chủ quán với bộ mặt rầu rĩ bước vào, bảo chị Tư:
Này cô, không phải tôi nhẫn tâm, nhà tôi cũng nhiều miệng ăn!
Mười mấy ngày nay, nào tiền trọ, tiền cơm, tiền đầu đèn...
Chị Tư nói:
- Bác ơi, bác là ân nhân của gia đình cháu. Cháu nhất định sẽ
trả bác đầy đủ, chỉ xin bác đừng đuổi mẹ cháu đi, mẹ cháu!...
Buổi sáng ngày Mười tám tháng Hai năm Một nghìn chín trăm bốn
mươi mốt, Thượng Quan Tưởng Đệ đưa cho mẹ vừa khỏi bệnh một xấp
tiền. Chị nói:
- Mẹ, con đã trả đủ nợ của bác chủ quán, chỗ này là tiền thừa...
Mẹ ngạc nhiên, hỏi: - Tưởng Đệ, con lấy đâu ra tiền thế này?
Chị Tư cười như mếu, nói:
- Mẹ cho các em về đi, nơi này không phải là nhà của ta!...
Mặt mẹ trắng nhợt, túm tay chị Tư, hỏi:
- Tưởng Đệ, cho mẹ biết...
Chị Tư nói:
- Mẹ, con đã bán mình rồi, bác chủ quán giúp con mặc cả đến nửa
ngày trời...
Mụ chủ chứa kiểm tra toàn thân chị Tư như kiểm tra gia súc, nói:
- Gầy quá.
Ông chủ quán nói:
- Bà chủ ơi, chỉ một bao gạo là béo lên ngay đấy mà! Mụ chủ giơ
lên hai ngón tay, nói:
- Hai trăm đồng! Tôi làm phúc để lấy đức!
Chủ quán nói:
- Bà chủ ơi, cô này có mẹ đang đau nặng, lại còn một đàn em, trả
thêm cho cô ấy đi!
Bà chủ nói:
- Thời buổi này làm việc thiện khó quá!
Chủ quán nài nỉ, chị Tư quì sụp xuống. Bà chủ nói:
- Thôi được, tôi hay thương người, thêm một trăm nữa, kịch giá
rồi đấy.
Mẹ lảo đảo rồi ngã sóng soài ra nhà. Khi ấy, chúng tôi nghe một
giọng khàn khàn ngoài cửa:
- Đi nào cô bé. Ta không có nhiều thì giờ đợi cô đâu!
Chị Tư quì xuống, dập đầu lạy mẹ một lạy. Rồi chị đứng dậy xoa
đầu chị Năm, vuốt má chị Sáu, kéo tai chị Tám, vội vàng nâng cằm
tôi thơm một cái. Chị bóp nhẹ hai vai tôi, nỗi xúc động khiến
khuôn mặt chị như hoa mai trong gió tuyết.
- Kim Đồng ơi, Kim Đồng - chị nói - em lớn mau lên, lớn nhanh
lên, nhà Thượng Quan ta trông vào mỗi mình em!
Nói xong, chị nhìn quanh căn buồng, yết hầu nhô ra ở cổ như cổ
gà. Chị bung miệng như buồn nôn, chạy vụt ra rồi mất hút không
thấy nữa.
7
Chúng tôi cho rằng, về đến nhà là trông thấy thi thể của chị Lãnh Đệ
và bà nội, nhưng quang cảnh trước mắt hoàn toàn khác với dự đoán.
Trong sân cực kỳ ồn ào. Hai người đàn ông đầu cạo trọc, ngồi tựa
lưng vào tường của gian chính, căm cúi vá quần áo đường khâu rất
thành thạo. Hai người nữa, ngồi liền kề hai người vá quần áo, cũng
đầu cạo trọc bóng loáng, cũng thái độ nghiêm chỉnh như thế, lúi húi
lau hai khẩu súng đen bóng. Lại còn hai người nữa, một người đứng
dưới cây ngô đồng, tay cầm lưỡi lê sáng loáng, người kia ngồi trên
ghế đẩu, đầu cúi xuống, trên đầu đầy bọt xà phòng. Người cầm lưỡi lê
nhún chân, liếc lưỡi lê vào quần mấy cái, rồi một tay giữ lấy cái
đầu đầy xà phòng, tay kia giơ lưỡi lê ướm thử như tìm vị trí mở đầu.
Rồi anh ta đặt lưỡi lê vào giữa đỉnh đầu, cạo một nhát từ đỉnh xuống
gáy. Một mảng tóc đẫm bọt xà phòng rơi xuống, một mảng da đầu trắng
hếu lộ ra. Còn một người nữa, tay cầm chiếc búa có cán dài ở chỗ nhà
tôi vẫn cất lạc, trước mặt anh ta là một gốc cây du. Sau lưng là một
đống củi đã bổ. Anh ta dạng chân, giơ cao chiếc búa, dừng lại trên
không một thoáng rồi bổ mạnh xuống cùng với tiếng hự thốt ra từ
miệng. Lưỡi búa cắm ngập vào gốc cây. Anh ta dùng một chân chặn gốc
cây cố súc rút lum búa, lùi lại hai bước, chuẩn bị tư thế, nhổ nước
bọt vào lòng bàn tay rồi lại giơ búa lên. Cái gốc cây du nút toác
một mảnh gỗ văng ra như vỏ đạn pháo, bắn trúng ngực Phán Đệ khiến
chị hét toáng lên. Những người đang may vá và lau súng đều ngẩng đầu
lên. Những người cạo đầu và bổ củi đều quay lại. Người ngồi cạo đầu
ngẩng đầu lên nhưng bị người cạo đầu hộ dùng tay ấn xuống.
- Đừng cựa? - anh ta nói.
Người bổ củi nói:
- Ăn mày đến kìa! ăn mày đến kìa? Anh Trường ơi, những người đi ăn
xin đây này!
Một người mặc tạp dề trắng, đội mũ xám, mặt đầy vết nhăn từ trong
nhà chạy ra. Tay áo anh ta xắn rất cao, tay dính đầy bột, vẻ thân
thiện:
- Chào bác Bác đi cửa khác mà xin, bộ đội chúng tôi ăn theo định
suất, không bớt ra để cho được!
Mẹ điềm nhiên nói: - Đây là nhà của tôi!
Những người trong sân đứng ngẩn ra. Người đầy bọt xà phòng trên đầu
nhảy dựng lên, kéo vạt áo lau những vết bẩn trên mặt, ú a ú ớ với
chúng tôi. Anh ta là Tôn câm, con cả nhà họ Tôn.
Tôn câm chạy đến trước mặt chúng tôi, miệng ú ớ, tay làm hiệu rất
nhiều điều mà chúng tôi không hiểu. Chúng tôi ngượng ngập nhìn khuôn
mặt thô kệch như đẽo bằng rìu, trong lòng vẩn lên một nỗi lo. Tôn
câm chớp chớp con người màu vàng xỉn, cằm dưới bạnh ra, miệng lập
bập liên hồi. Anh ta chạy vào chái phía đông, cầm chiếc bát sứ men
xanh và bức họa con chim ra khoe với chúng tôi. Người cạo đầu cho
anh ta, cầm lưỡi lê đi tới, vỗ vai Tôn câm hỏi:
- Tôn câm, anh quen họ hả? Tôn câm đặt chiếc bát xuống, cầm mẩu củi
viết nguệch ngoạc trên mặt đất hàng chữ xiên xẹo, thiếu cả nét:
- Bà ấy là mẹ vợ tôi!
- Thì ra bác đã trở về!
Người cạo đầu nhiệt tình nói:
- Chúng tôi là tiểu đội Năm, trung đội Một, đại đội phá đường sắt.
Tôi là tiểu đội trưởng, họ Vương. Đại đội tôi về chỉnh quân ở đây,
chiếm dụng nhà của bác, thật không phải quá. Con rể bác, chính ủy
chúng tôi đã đặt cho một cái tên: Tôn Bất Ngôn. Anh là một chiến sĩ
giỏi, anh dũng chiến dấu không sợ chết, là tấm gương cho chúng tôi
học tập. Bác ơi, chúng tôi dọn khỏi buồng chính ngay bây giờ. Lão
Lã, Tiểu Đỗ, Triệu Đại Ngưu, Tôn Bất Ngôn, Tần Tiểu Thất, dọn đồ đạc
mau, để cho bác thu xếp giường chiếu!
Binh lính bỏ dở việc đang làm, đi vào gian chính. Họ đeo trên lưng
những chiếc chăn gập vuông vức, quấn xà cạp vào chân, xỏ giày - loại
giày vải đế nhiều lớp, khoác súng trường lên vai, cổ đeo mìn, xếp
hàng ngay ngắn ngoài sân. Tiểu đội trưởng nói với mẹ:
- Mời bác vào nhà. Mọi người đợi ở đây, tôi đi thỉnh thị chính ủy.
Các chiến sĩ rất có kỷ luật, ngay cả anh chàng Tôn câm mà bây giờ
gọi là Tôn Bất Ngôn cũng đứng thẳng đơ như một cây thông. Tiểu đội
trưởng xách súng chạy đi. Chúng tôi vào trong nhà. Trong chảo đã bắc
thêm hai ngăn bằng tre và cây sậy. Củi trong lò cháy rừng rục. Nước
trong chảo sôi ùng ục, hơi nước bốc lên mờ mịt. Chúng tôi ngủi thấy
mùi thơm của bánh bao. Bác cấp dưỡng gật đầu chào mẹ với vẻ biết
lỗi. Bác rất hiền. Bác cho củi vào lò.
- Tha lỗi cho chúng tôi về việc đã tự tiện cải tạo cái bếp.
Bác chỉ cái rãnh sâu trước cửa lò, nói:
- Hàng chục cái quạt cũng không bằng một cái rãnh này! Ngọn lửa phần
phật, chỉ e trôn chảo bị nung chảy.
Chị Lãnh Đệ mặt đỏ hồng ngồi trên ngưỡng cửa, mắt lim dim, chăm chú
nhìn hơi nước phụt qua kẽ nắp cuồn cuộn bay lên, càng nhìn càng thấy
đẹp
- Lãnh Đệ! - Mẹ thử gọi.
- Chị Ba ơi, chị Ba! - Chị Năm, chị Sáu gọi.
Chị Lãnh Đệ thờ ở nhìn chúng tôi, làm như chưa hề quen nhau, chưa hề
có đợt xa nhau vừa rồi.
Mẹ nhìn căn buồng thu dọn sạch sẽ, cảm thấy áy náy, lại kéo chúng
tôi ra sân.
Tôn câm đứng trong hàng, nhăn mặt làm trò với chúng tôi. Thằng nhóc
Tư Mã mạnh dạn sờ chân quấn xà cạp cứng như gỗ của các chú lính.
Tiểu đội trưởng dẫn về một người đàn ông tuổi trung niên, giới thiệu
với mẹ:
- Thưa bác, đây là chính ủy Tưởng.
Chính ủy có khuôn mặt trắng trẻo, không để râu, thân hình tầm thước,
thắt lưng da to bản, túi ngực cài chiếc bút máy. Ông lịch sự gật đầu
chào chúng tôi, lấy trong xắc cốt một nắm kẹo xanh đỏ, nói:
- Các cháu ăn kẹo đi.
Rồi ông chia kẹo cho chúng tôi, con bé bọc trong áo lông điêu cũng
được chia hai cái do mẹ nhận hộ. Đây là lần đầu tiên tôi được biết
mùi vị của kẹo. Chính ủy nói:
- Bác ơi, xin bác cho tiểu đội này ở nhờ hai chái đông và tây?
Mẹ gật đầu, đờ đẫn.
Chính ủy vén tay áo xem đồng hồ, hỏi to:
- Lão Trương, bánh bao được chưa?
Lão Trương chạy ra:
- Chín rồi ạ.
Chính ủy nói:
- Anh lấy bánh cho các cháu ăn. Cứ để các cháu ăn thỏa thích.
- Lát nữa tôi bảo Tư vụ trưởng bổ sung mức ăn cho các anh.
Lão Trương dạ luôn miệng.
Chính ủy bảo mẹ:
- Đại đội trưởng của chúng tôi muốn gặp bác. Mời bác đi cùng tôi.
Mẹ định trao con bé cho chị Năm. Chính ủy giơ tay ngăn lại, nói:
- Không, bác cứ bế cháu bé đi.
Chúng tôi, thực ra là chỉ mẹ tôi, đi theo chính ủy. Mẹ địu tôi trên
lưng, bế con bé đằng trước, đi dọc theo ngõ ra phố, đến nhà Phúc
Sinh Đường. Hai lính gác vội đứng nghiêm, bồng súng chào. Chúng tôi
đi qua các phòng thông nhau, cuối cùng vào đến đại sảnh, chính giữa
bày bàn bát tiên màu huyết dụ, trên bàn bày hai đĩa lớn, một đĩa là
thịt gà rừng, đĩa kia là thịt thỏ rừng, một làn đầy bánh bao. Một
người râu quai nón tươi cười ra đón, nó:
- Xin chào, xin chào!
Chính ủy giới thiệu:
- Thưa bác, đây là đại đội trưởng Lỗ!
Đại đội trưởng Lỗ nói:
- Nghe nói bác cũng họ Lỗ. Năm trăm năm trước chúng ta là một nhà!
Mẹ hỏi:
- Thưa quan lớn, chúng tôi phạm tội gì?
Đại đội trưởng ngớ ra, cuối sảng khoái, bảo mẹ:
- Bác hiểu lầm rồi? Mời bác đến đây chăng có ý gì khác. Mười năm
trước, tôi và Sa Nguyệt Lượng là bạn nối khố. Sa Nguyệt Lượng là con
rể bác. Vì vậy nghe tin bác trở về, cho đặt tiệc tây trần mời bác.
Mẹ nói:
- Anh ta không phải con rể tôi.
Chính ủy nói:
- Bác giấu làm gì? Bác đang bế con của Sa Nguyệt Lượng đấy thôi!
Mẹ nói:
- Đây là cháu tôi.
Đại đội trưởng Lỗ nói:
- Hãy ăn đã. Xem chừng bà cháu đói cả rồi.
Mẹ nói:
- Thưa quan lớn, chúng tôi về đây?
Đại đội trưởng Lỗ nói:
- Bác đừng vội đi, Sa Nguyệt Lượng có nhờ tôi giúp anh ta trong việc
nuôi cháu bé. Anh ta biết bác có khó khăn. Cô Đường đâu rồi?
Một nữ binh xinh đẹp nhanh nhẹn bước ra.
Đại đội trưởng Lỗ nói:
- Bế lấy em bé cho bác, để bác xơi cơm!
Cô nữ binh bước tới trước mặt mẹ, giơ hai tay ra. Mẹ kiên quyết:
- Đây không phải con gái Sa Nguyệt Lượng. Đây là cháu tôi!
Chúng tôi đi trở lại các phòng thông nhau, ra phố, rẽ vào ngõ trở về
nhà.
Liên tiếp mấy ngày sau, cô nữ binh có tên là Đường nhiều lần đem
thực phẩm, quần áo đến nhà tôi. Những thùng bánh bích qui, mà mỗi
cái bánh là một hình con vật: chó, mèo, hổ..., sữa bột đựng trong
bình thủy tinh, mật ong trong suốt đựng trong vò sành. Quần áo bằng
tơ lụa, vải bông viền dăng ten, mũ bằng lông thỏ còn nguyên cả hai
tai dài dài. Những thứ này cô nói, đều là của đại đội trưởng Lỗ và
chính ủy Tưởng gửi cho cháu gái. Cô chỉ vào con bé mẹ đang bế:
- Đương nhiên, em bé trai có thể cùng ăn - cô lại chỉ vào tôi nói
vậy.
Mẹ thản nhiên nhìn cô Đường quá nhiệt tình, mặt hồng hào như quả
táo, mắt như hai hạt hạnh. Mẹ nói:
- Cô đem những thứ này đi. Chúng tôi con nhà nghèo, không xài được
của tốt đến thế!
Mẹ cầm hai đầu vú, một đầu nhét vào miệng tôi, một đầu nhét vào
miệng con gái Sa Nguyệt Lượng. Nó đắc ý rên hừ hừ, tôi căm giận rên
lên hừ hừ. Nó đập tay vào đầu tôi, tôi đạp cho nó một cái vào mông,
nó ề à khóc. Tôi còn loáng thoáng nghe thấy tiếng khóc dai dẳng,
mảnh như sợi tơ của chị Ngọc Nữ, tiếng khóc mà mặt trời và mặt trăng
đều lắng nghe vì nó ngọt hơn ánh nắng và thơm như ánh trăng.
Cô Đường nói rằng, chính ủy Tưởng đã đặt cho cô bé một cái tên. Ông
ta là trí thức, tốt nghiệp đại học Triều Dương Bắc Bình, văn hay vẽ
giỏi, rất giỏi tiếng Anh. Tên là Sa Tảo Hoa được đấy chứ!
- Bác ơi, bác đừng nghi ngại gì hết. Đại đội trưởng Lỗ là con người
tốt. Nếu các ông ấy định cướp con bé thì dễ như trở bàn tay.
Cô Đường lấy trong bọc ra chiếc bình sữa bằng thủy tinh trên miệng
có núm cao su màu vàng nhạt. Cô đổ mật ong và sữa bột màu trắng vào
cái bát, đổ nước sôi vào, khuấy đều. Tôi đã có lần ngửi thấy mùi sữa
này, đó là mùi ở vú bà ngoại quốc hôm bà đem chị Tưởng Đệ đi. Cô đổ
sữa vào bình, nói với mẹ:
- Bác đừng cho nó bú chung với em trai, bác sẽ kiệt sức mất! Để cháu
cho nó ti chai. Cô vừa nói vừa bế lấy Sa Tảo Hoa. Sa Tảo Hoa mút dài
vú mẹ như cái dây cung của Hàn Chim. Cuối cùng núm vú tuột ra, co
lại từ từ y hệt con đỉa bị nước đái, rất lâu mới trở lại hình dáng
cũ. Tôi đau khổ là vì bầu vú, tôi căm giận Sa Tảo Hoa cũng là vì bầu
vú. Nhưng con tiểu yêu này đã ti như điên, uống ừng ực từ cái bầu vú
giả, ti ngon lành nhưng tôi không thèm. Một lần nữa, bầu vú của mẹ
lại thuộc về tôi. Đã lâu tôi chưa bao giờ ngủ yên và ngủ ngon đến
thế. Giấc mơ đã thay cho cái miệng của tôi, đắm đuối và hạnh phúc,
toàn một mùi thơm của sữa! Tôi ngủ liền một mạch ba ngày.
Do vậy, tôi vô cùng cảm kích cô Đường. Hai bầu vú đội ngực áo quân
phục khiến tôi cảm thấy cô vô cùng khả ái, tuy rằng vú của cô là
loại vú bánh dầy, nhưng hình dáng vẫn là vú. Cho Tảo Hoa ăn xong, cô
Đường mở cái bọc bằng áo lông điêu, một mùi khai như mùi lông chồn
xông lên. Tôi nhìn thấy là da Sa Tảo Hoa trắng như sữa. Không ngờ
con bé mặt đen như than mà da lại trắng đến thế. Cô Đường mặc quần
áo, đội mũ, trang điểm cho Sa Tảo Hoa thành một cô bé xinh xắn. Cô
Đường gạt cái áo lông điêu sang một bên, hai tay xốc nách Sa Tảo Hoa
tung lên trời rồi đón lấy. Sa Tảo Hoa cười khanh khách. Thật không
ngờ, tôi cảm thấy cô cháu ngoại này cũng có phần đáng yêu.
Cơ thể mẹ căng lên, chuẩn bị tư thế cướp lại Sa Tảo Hoa bất cứ lúc
nào. Cô Đường trao trả Sa Tảo Hoa cho mẹ, nói:
- Bác ơi, Tư lệnh Sa mà nhìn thấy con bé thì chắc là vui lắm.
- Tư lệnh Sa? Mẹ ngỡ ngàng nhìn cô Đường.
- Bác ơi, bác chưa biết đấy thôi. Con rể bác bây giờ là Tư lệnh cảnh
vệ thành phố Bột Hải, hơn ba trăm người dưới quyền, có cả một chiếc
xe Jeep Mỹ! - Cô Đường nói.
(đoạn đánh dấu dưới đây, không ăn nhập với bất kỳ tình tiết nào
trong bài, có thể người dịch đã bỏ sót một đoạn dài hoặc nhà xuất
bản có lỗi khi in- LENA)
Sa Nguyệt Lượng xé vụn bức thư, gầm lên:
- Lỗ-đại-bác, Tưởng-bốn-mắt, dùng tưởng bở!
Sứ giả của đại đội bộc phá từ tốn nói:
- Thưa ông Tư lệnh, thiên kim tiểu thư của ông, chúng tôi rất mến!
Giam giữ con tin, vậy bản lãnh ở đâu?
Sa Nguyệt Lượng nói:
- Bảo Lỗ-tướng có giỏi thì đem quân đến đánh Bột Hải?
Sứ giả nói:
- Ông Tư lệnh không nên quên quá khứ vẻ vang của mình?
Sa Nguyệt Lượng nói:
- Ta đây thích đánh Nhật thì đánh, thích hàng Nhật thì hàng, thằng
nào dám làm gì ta, còn lảm nhảm thì chớ trách!
Cô Đường lôi ra chiếc lược nhựa đỏ, chải đầu cho chị Năm, chị Sáu.
Khi chải đầu cho chị Sáu, chị Năm nhìn cô với vẻ say mê. ánh mắt chị
Năm như chiếc lược, chải tù đầu xuống chân, rồi chải từ chân lên đầu
cô Đường. Khi cô Đường chải đầu cho chị Năm, thì trên mặt trên cổ
chị Sáu nổi da gà. Chải xong, cô Đường ra về. Chị Năm bảo mẹ:
- Mẹ, con muốn đi bộ đội?
Hai hôm sau, chị Năm mặc quân phục, công tác chủ yếu của chị là cùng
cô Đường thay tã lót và cho Sa Tảo Hoa bú sữa.
Đây là thời kỳ đẹp nhất trong cuộc đời tôi, như bài hát lưu hành lúc
bấy giờ. Em ơi buồn làm chi, Hãy cùng đồng chí ra đi, Rau cải thìa
nấu cùng thịt lợn, Chảo bốc hơi đầy ắp màn thầu.... Rau cải thìa nấu
với thịt lợn không thường xuyên, màn thầu trắng cũng không thường
xuyên, nhưng củ cải om cá khô thì lúc nào cũng có, bánh bột ngô to
bự thì lúc nào cũng có. Hạn hán không thể chết đói, đói không đến
lính tráng!
Mẹ than thở:
- Tưởng Đệ ơi, Cầu Đệ ơi, các con tội nghiệp của mẹ...
Mẹ rơi nước mắt khi nghe tiếng hát của chị Năm và tiếng cười vui vẻ
của chị Sáu. Trong thời gian này, sữa của mẹ đặc biệt tốt và nhiều,
Kim Đồng từ trong túi vải nhảy ra ngoài, đã đi được hai mươi bước,
đi được năm mươi bước, đi được một trăm bước, không bò nữa. Miệng
tôi cũng không ngượng ngập nữa, chửi người như ranh. Khi Tôn câm nắm
lấy chim, tôi chửi liền:
- Đ. mẹ mày!
Chị Sáu theo học lớp xóa nạn mù chữ, hát: Mười tám, chị đi bộ đội,
đi bộ đội vẻ vang biết mấy! Cắt đánh soạt vứt bỏ đuổi sam, chải lật
tóc rẽ thành hai mái? Canh gác tuần tra khắp nẻo đường. Hán gian đặc
vụ chạy té đái.
Lớp học đặt trong nhà thờ. Những ghế băng được sửa chữa ngay ngắn,
những đống phân lừa được dọn sạch. Thiên sứ có cánh đã bay đi. Tượng
Chúa Giêsu bằng gỗ táo đã bị lấy cắp. Trên tường treo bảng đen, trên
bảng viết chữ trắng. Cô Đường gõ thước lên bảng cồm cộp, chống...
Nhật... chống... Nhật. Các bà phụ nữ vừa cho con bú vừa khâu đế giày
hoặc bện thừng. Chống Nhật... chống Nhật.... Tôi nhảy cà chớn giữa
các bà phụ nữ, len lỏi giữa bầy vú đủ các loại. Chị Năm nhảy lên
bục, nói:
- Nhân dân là nước, bộ đội con em của dân là cá, đúng không nào?
- Đúng. - Cá sợ nhất gì nào?...
- Cá sợ gì nhỉ? Cá sợ lưỡi câu? Cá sợ chim bói cá? Cá sợ rắn
nước?...
- Cá sợ lưới! Đúng rồi, cá sợ nhất là lưới? Sau gáy các bà các chị
là cái gì vậy?
- Là cái búi tó.
- Trên búi tó có gì vậy?
- Là cái lưới.
Đám phụ nữ chợt tỉnh ngộ, mặt đỏ ửng, ghé tai nhau thì thào, cười
rúc rích. Cắt phăng mái tóc, vút bỏ lưới, bảo vệ đại đội trưởng Lỗ
và chính ủy Tưởng, bảo vệ đội bộc phá do hai người chỉ huy.
- Ai xung phong nào?
Chị Phán Đệ giơ cao cái kéo, còn dùng những ngón tay búp măng mở
đóng kéo xoành xoạch như hàm con cá mập đang đói. Cô Đường nói:
- Thử nghĩ coi, các bà các bác, các cô các dì, các chị các em thử
nghĩ coi, phụ nữ chúng ta bị ba ngàn năm áp bức, giờ đây đã đến lúc
vùng lên! Hồ Tần Liên, chị cho biết, tên ma men Nhiếp-Nửa-Hũ chồng
chị, còn dám đánh chị nữa không?
Một nữ thanh niên mặt vàng như nghệ bế con đứng dậy ngó nữ binh
Đường và nữ binh Thượng Quan hiên ngang trên bục, rồi vội vàng cúi
xuống, nói:
- Không đánh nữa.
Nữ binh Đường vỗ tay:
- Các bà các chị nghe rõ chưa, ngay cả Nhiếp-Nửa-Hũ cũng không dám
đánh vợ nữa. Hội Phụ nữ cứu quốc là nhà của phụ nữ chúng ta, giải
trừ những nỗi bất bình cho chúng ta. Hỡi chị em phụ nữ, cuộc sống
bình đẳng hạnh phúc của ta hiện nay do đâu mà có? Từ trên trời rơi
xuống chăng? Từ dưới đất đùn lên chăng? Không phải, quyết không
phải. Nguyên nhân đích thực chỉ có một: Đó là từ khi đội bộc phá về
đây xây dựng căn cứ địa vững chắc như tường đông vách sắt ở thị trấn
Đại Lan, ở Cao Mật. Chúng ta đã tự lực cánh sinh, phấn đấu gian khổ
để cải thiện cuộc sống, nhất là cuộc sống của phụ nữ. Chúng ta không
mê tín kiểu phong kiến, nhưng chúng ta phải gỡ bỏ mọi trói buộc,
không chỉ vì đội bộc phá mà vì bản thân chúng ta. Chị em phụ nữ, hãy
cắt tóc ngắn, vút bỏ lưới bọc tóc, nhất loạt để tóc rẽ ngôi!
- Mẹ, mẹ xung phong đi! Chị Phán Đệ đưa kéo cho mẹ.
- Phải rồi, bà chị Thượng Quan cắt tóc ngắn thì chúng tôi cũng cắt
tóc ngắn. Đám phụ nữ đồng thanh kêu lên.
- Mẹ ơi, mẹ xung phong đi, cho con gái mẹ mở mày mở mặt! - Chị Năm
nói.
Mẹ đảo mắt, đưa đầu về phía chị, nói:
- Cắt đi, Phán Đệ! Miễn là có lợi cho đại đội bộc phá thì đừng nói
cắt bím tóc, ngay cả chặt đứt hai ngón tay, mẹ cũng dám chặt.
Chị Năm gỡ búi tóc của mẹ ra. Một cuộn lớn tóc đen thả dần trên cổ
trên lưng mẹ như một dòng suối. Mẹ có những nét giống hoàn toàn Đức
mẹ Ma ria trên tường, nghiêm trang, u sầu, lặng lẽ, dâng hiến với vẻ
cam chịu và tự nguyện. Đó chính là tôn giáo, một đứa trẻ bụ bẫm hồng
hào sinh trong máng cỏ. Ngôi nhà thờ mà tôi từng chịu lễ rửa tội có
mùi phân vừa mục, cảnh tượng tôi nằm trong bồn nước cùng chị Tám lại
hiện ra trước mắt. Đức mẹ chưa bao giờ giấu cặp vú, còn vú của mẹ
tôi thì lại nửa che nửa đậy.
- Phán Đệ, cắt đi con, còn chần chừ gì nữa? Mẹ nói.
Thế là chị Năm mở rộng lưỡi kéo ngoạm vào suối tóc của mẹ. Soạt
soạt, bím tóc rơi xuống. Mẹ ngẩng đầu lên, tóc mẹ trở thành hai mái
chấm đái tai, cái cổ thon dài của mẹ hoàn toàn lộ rõ. Đột nhiên mất
đi sức nặng của mái tóc dày, đầu mẹ trở nên linh hoạt, có phần nhanh
nhẹn như Tiên Chim, thoắt ngoảnh sang bên này, thoắt ngoảnh sang bên
kia. Mặt mẹ đỏ bừng, nữ binh Đường lấy ra chiếc gương nhỏ hình tròn
đưa tới trước mặt để mẹ soi, nhưng mẹ ngượng, quay mặt đi, chiếc
gương đưa theo, mẹ thẹn thùng khi nhìn thấy mái tóc của mình trong
gương thu nhỏ đến chục lần mái đầu cũ. Mẹ lại vội quay mặt đi.
- Đẹp không bác? - Cô Đường hỏi.
- Xấu chết đi được! - Mẹ trả lời khẽ.
- Ngay cả bác Thượng Quan còn cắt tóc ngắn, các vị còn chần chờ gì
nữa? - Nữ binh Đường nói to.
Cắt đi vậy thì cắt đi. Cắt đi cho hợp thời. Mỗi khi thay đổi triều
đại là lại thay đổi đầu tóc. Triều Thanh, nam giới đều để bím. Cách
mạng của ông Tôn Trung Sơn, trước tiên là cắt phăng cái bím. Tóc
ngắn rẽ ngôi là sản phẩm của thời đại. Sản phẩm thời đại chính là
mốt, mốt chính là cái đẹp. Cắt hộ tôi. Soạt soạt. Tiếng than. Tiếng
tặc lưỡi. Tôi cúi xuống nhặt lên một lọn tóc. Tóc rải rác trên mặt
đất, đen có, vàng có, thô có, mảnh có. Thô thì vừa cứng vừa đen,
mảnh thì vừa mềm vừa vàng. Tóc đầy dưới đất, nhưng chỉ tóc mẹ tôi là
đẹp nhất. Tóc mẹ tôi là một loại tóc tiết ra dầu.
Những ngày ấy vui nổ trời, ầm ĩ hơn những ngày Tư Mã Khố triển lãm
chiến lợi phẩm đánh cầu đường sắt. Đại đội đường sắt là nơi tập
trung nhân tài, hát hay, múa giỏi, thổi tiêu thổi sáo, chơi đàn, có
tất. Tất cả những bức tường trong thôn đều kẻ khẩu hiệu chữ to. Mỗi
sáng, đều có bốn thiếu sinh quân trèo lên vọng gác, ngoảnh về phía
mặt trời mà luyện kèn báo thức. Lúc đầu thổi như bò rống, dần dà
nghe như chó sủa óc ách, cuối cùng nghe khúc chiết, lên bổng xuống
trầm, làn diệu hẳn hoi. Các tiểu binh hít đầy lồng ngực, ngửa mặt,
cổ vươn dài, phồng miệng lấy hơi. Kèn vàng chóe, dải lụa điều, vừa
oai phong vừa đẹp mắt. Trong số bốn lính kèn, một chú đẹp trai nhất
tên là Mã Đồng, miệng chúm chím, má lúm đồng tiền, hai vành tai tròn
trịa. Chú nhanh nhẹn hoạt bát, môi ngọt như bôi mật ong. Chú triển
khai một đợt nhận hơn hai mươi mẹ nuôi. Những bà mẹ nuôi ấy trông
thấy chú là cặp vú rung động, chỉ hiềm nỗi không thể nhét núm vú vào
miệng chú để chú cắn chú xé. Mã Đồng từng đến nhà tôi, truyền đạt
mệnh lệnh gì đó cho tiểu đội trưởng. Hôm ấy tôi đang ngồi xổm dưới
gốc cây thạch lựu xem đàn kiến trèo lên cây. Vì tò mò, chú cũng ngồi
xuống xem. Chú còn chăm chú hơn tôi, giết kiến thành thạo hơn tôi,
chú còn dẫn tôi đến đái vào tổ kiến. Trên đầu chúng tôi là cây lựu
nở đầy hoa như những ngọn lửa. Lúc này là tiết đương xuân, tháng Tư,
trời xanh xanh, mây trắng như bông, én lượn từng đàn trong gió nam
lười nhác.
Mẹ linh cảm rằng, con trai mà đẹp và linh hoạt như Mã Đồng thì đa
phần là chết yểu, Thượng đế ban phát cho nó nhiều quá, nó chiếm hết
những thuận lợi của giống người, khó có thể đạt tới một kết cục thọ
tỉ Nam sơn con cháu đầy đàn. Quả như lời mẹ đoán, một đêm, trời đã
về khuya, sao dày đặc, ngoài phố bỗng có tiếng kêu của một thiếu
niên:
- Xin đại đội trưởng Lỗ, chính ủy Thắng tha cho cháu lần này... Nhà
cháu ba đời độc đinh, ông bà cháu chỉ có mỗi mình cháu là cháu nội,
bố mẹ cháu chỉ có mình cháu là con... Cháu bị bắn chết thì gia đình
cháu tuyệt tự?.. Mẹ Tôn ơi, mẹ Lý ơi, mẹ Thôi ơi, các mẹ nuôi ơi, ra
xin cho cố!... Mẹ Thôi ơi, mẹ là chỗ giao tình với đại đội trưởng,
mẹ hãy cứu con!...
Mã Đồng vừa kêu gào vừa đi ra khỏi thôn. Một tiếng nổ rất đanh, rồi
tất cả yên lặng. Chú lính kèn đẹp như tiên đồng từ đó mất tăm. Mẹ
nuôi nhiều như thế mà vẫn không thoát chết. Tội của chú là lấy trộm
đạn đem bán.
Hôm sau, trên đường phố xuất hiện một cỗ quan tài màu đỏ son, một cỗ
xe ngựa. Một đám binh sĩ khiêng quan tài lên xe. Cỗ quan tài rất
nặng, dày năm tấc bằng gỗ bách, phủ chín lần véc ni, lót chín lần
vải lót, ngâm nước mười năm không thấm, súng trường 3.8 bắn không
thủng, chôn dưới đất nghìn năm không mục. Mười mấy bình sĩ nâng đáy
quan tài, một tiểu đội trưởng hô khẩu lệnh, mới lẩy bẩy nâng lên
khỏi mặt đất đưa lên xe. Quan tài lên xe rồi, một không khí căng
thẳng trùm lên đại đội bộ, binh sĩ chạy ra chạy vào như mắc cửi,
người nào người ấy nét mặt căng thẳng. Sau đó, một ông già râu bạc
cưỡi lừa đi đến. Ông già xuống lừa, đến bên cỗ quan tài, vịn vào áo
quan mà khóc rống lên, nước mắt chảy như suối, ướt đầm cả chòm râu.
Đó là ông nội của Mã Đồng, đỗ cử nhân đời Thanh, trình độ văn hóa
rất cao.
Đại đội trưởng Lỗ và chính ủy Tưởng bước tới, ngượng nghịu đứng bên
cạnh ông già. Ông già khóc chán, quay lại nhìn như nuốt chủng Lỗ và
Tưởng. Tưởng nói:
- Thưa cụ Mã, cụ đọc làu kinh thư, hiểu sâu đạo nghĩa. Chúng toi
đành gạt nước mắt mà tử hình Mã Đồng.
Lỗ tiếp lời:
- Gạt nước mắt mà tử hình Mã Đồng.
Ông già nhổ bãi nước bọt đầy máu vào mặt Lỗ, nói:
- Mèo ăn vụng miếng mỡ thì giết, hổ bắt cả con lợn thì tha? Chống
Nhật mà rượu thịt chảy như suối!
Ông già ngửa mặt cả cười rồi bỏ đi, con lừa cúi đầu đi theo, cỗ xe
chở quan tài đi sau con lừa, lặng lẽ. Tiếng xà ích quát ngựa nghe
như tiếng ve sầu, như tiếng chuông bị bịt miệng không cho ngân. Sự
kiện Mã Đồng như một trận động đất, làm lưng lay nền móng của đại
đội bộc phá. Cái cảm giác giả tạo về hạnh phúc bị tiêu tan, tiếng
súng hành quyết Mã Đồng bảo chúng tôi rằng, thời buổi loạn lạc, tính
mạng con người như con sâu cái kiến! Sự kiện Mã Đồng thoạt nghe có
vẻ biết cách rèn quân, chấp pháp nghiêm minh, nhưng nó lại phát sinh
tiêu cực trong nội bộ đại đội bộc phá. Mấy ngày nay có đến mười mấy
binh sĩ say rượu, có những vụ ẩu đả, tiểu đội ở nhà tôi đã bộc lộ
dần tâm trạng bất mãn. Tiểu đội trưởng Vương nói công khai:
- Mã Đồng chẳng qua chỉ là vật hi sinh! Nó là thằng bé con, làm sao
biết bán trộm đạn? Ông nội người ta là cử nhân, ruộng tốt nghìn
khoảnh, lừa ngựa hàng đàn, thiếu gì mấy đồng tiền còm? Theo tôi, nó
chết là vì hai trâu húc nhau dập đầu con muỗi. Chả trách lão cử nhân
nói: Chống Nhật mà rượu thịt chảy như suối?
Tiểu đội trưởng nói câu này vào giữa trưa thì buổi chiều chính ủy
Tưởng dẫn hai vệ binh đến nhà tôi. Chính ủy mặt sa sầm, nói:
- Vương Mộc Căn, lên đại đội bộ với tôi!
Vương Mộc Căn tròn mắt nhìn các chiến sĩ của mình, chửi:
- Đ. mẹ thằng chó chết nào bán đứng ông?
Các binh sĩ nhìn nhau mặt tái nhợt, duy chỉ có Tôn Bất Ngôn là cười
khanh khách đi tới trước mặt chính ủy, hoa chân múa tay kể lại
chuyện Sa Nguyệt Lượng cướp vợ của mình.
Chính ủy nói:
- Tôn Bất Ngôn, chỉ định anh làm quyền tiểu đội trưởng.
Tôn Bất Ngôn ngoẹo đầu nhìn miệng chính ủy. Chính ủy túm tay anh ta,
rút bút máy viết mấy chữ to tướng. Tôn Bất Ngôn ngoẹo bàn tay lại,
ngây người ra nhìn, con người vàng sáng rục, hoa chân múa tay mùng
rỡ. Vương Mộc Căn cười nhạt nói:
- Cứ những trò này còn tiếp diễn, thằng câm sẽ mở miệng nói được.
Chính ủy vẫy tay, hai vệ binh hùng hổ tiến đến, áp sát hai bên Vương
Mộc Căn. Vương Mộc Căn nói to:
- Các người ăn cháo đá bát, không còn nhớ khi ta đánh đoàn tầu bọc
thép nữa rồi!
Chính ủy không thèm đếm xỉa những lời quát tháo của Vương Mộc Căn,
vỗ vai Tôn câm. Tôn câm được sủng ái giật mình, đứng nghiêm chào
chính ủy. Từ ngoài ngõ vọng lại tiếng gầm của Vương Mộc Căn:
- Trêu vào ông, ông sẽ cài mìn dưới gối chúng mày!
Công việc đầu tiên của Tôn câm sau khi được đề bạt làm tiểu đội
trưởng là đòi mẹ tôi trả người. Lúc này, mẹ tôi đang nghiền lưu
huỳnh cho đội bộc phá ở chỗ cối xay bột, nơi Tư Mã Khố ẩn nấp khi bị
thương. Cách cối xay khoảng trăm thước, chị Phán Đệ trông nom mấy
phụ nữ dùng búa nhỏ đập sắt vụn. Cách chỗ chị Phán Đệ khoảng trăm
thước, viên kỹ sư của đại đội bộc phá chỉ huy bốn đội viên khỏe mạnh
thụt cái bễ to tướng, đẩy gió vào lò nung. Bên cạnh họ, các khuôn đã
vùi trong cát. Mẹ bịt miệng bằng chiếc khăn mặt, đi vòng quanh cối
cùng với con lừa nhỏ. Mùi lưu huỳnh cay xé mũi, nước mắt mẹ chảy
ròng ròng. Con lừa hắt hơi liên tục. Tôi và thằng con trai Tư Mã Khố
ngồi trên bụi nhân trần, chị Phán Đệ giám sát chúng tôi nghiêm ngặt
theo lời dặn của mẹ, không cho chúng tôi lại gần cái cối xay. Tôn
câm khoác trên vai khẩu súng trường thô kệch do Hán Dương sản xuất,
tay cầm thanh đao của báu gia truyền, khệnh khạng bước tới chỗ cối
xay. Chúng tôi thấy hắn chặn con lừa lại, giơ đao chém vút một cái
vào không khí ngay trước mặt mẹ. Mẹ dừng lại sau con lừa, nhìn hắn
không chớp. Hắn chìa bàn tay có chữ ra, cười hô hố. Mẹ gật gật tỏ ý
chúc mừng hắn. Tiếp đó, nét mặt hắn thay đổi nhiều kiểu, mẹ lắc đầu
quầy quậy, hình như không chấp thuận yêu cầu gì đó của hắn. Hắn vung
tay đấm một quả vào đầu con lừa. Con lừa từ từ khuỵu hai chân trước
rồi gục xuống. Mẹ quát to: Đồ súc sinh? Hắn cười, miệng méo xệch rồi
khệnh khạng bỏ đi. Phía bên kia, cửa đáy đã chọc thủng, dòng thép
sáng chói chảy vào khuôn, từng cụm hoa lửa bắn tung tóe. Mẹ nắm hai
tai con lừa giúp nó đứng dậy. Rồi mẹ bước tới chỗ chúng tôi, bỏ khăn
bịt miệng vàng khè ra, vén áo nhét đầu vú bị lưu huỳnh hun trắng
nhợt vào miệng tôi. Tôi đang phân vân xem có nên nhả đầu vú đắng
ngắt ra không thì mẹ đẩy tôi ra, mạnh đến nỗi suýt nữa tôi bị gãy
răng cửa mới mọc. Tôi nghĩ đầu vú mẹ đau kinh khủng, nhưng không
phải, mẹ hoàn toàn không quan tâm tới đầu vú, mà chạy như bay về
nhà, chiếc khăn mặt phất phơ theo nhịp chạy. Tôi hình dung bầu vú
đầy bột lưu huỳnh của mẹ cọ xát dữ dội sau lần vải thô. Mẹ như mụ đi
trong một cảm giác quái gở. Nếu là hạnh phúc thì đây là thứ hạnh
phúc trong đau khổ tột cùng nên mẹ mới điên lên như vậy.
Băn khoăn của tôi được giải đáp ngay lập tức.
- Lãnh Đệ ơi, Lãnh Đệ! Con ở đâu? - Mẹ gọi to, từ gian chính chạy
sang gian chái.
Bà nội từ trong nhà bò ra, phục trên lối ngoài sân, đầu ngỏng lên
như con ếch ộp. Chái tây của bà nội đã bị các binh sĩ chiếm. ở đó,
năm chú lính chụm đầu vào nhau bên bàn xay, đang xem một cuốn sách
cũ đóng bằng giấy lề. Họ ngẩng lên, ngạc nhiên nhìn chúng tôi. Súng
treo trên tường, địa lôi treo dưới xà nhà, đen xỉn, tròn tròn như
những trứng nhện khổng lồ.
- Tôn câm đâu rồi? - Mẹ hỏi.
Các binh sĩ lắc đầu. Mẹ chạy vào chái đông. Bức tranh Nàng Tiên Chim
để trên mặt bàn gãy chân, chặn bằng miếng bánh bao ăn dở và nửa củ
hành đại, lá xanh biếc. Cái bát men xanh cũng ở trên bàn, trong bát
có một nhúm xương, không rõ là xương chim hay xương thú. Khẩu súng
của Tôn Câm treo trên tường, địa lôi treo dưới xà nhà.
Mẹ đứng giữa sân, gào lên một cách tuyệt vọng. Các binh sĩ từ gian
chái chạy ra, dồn dập hỏi mẹ đã xảy ra chuyện gì.
Tôn câm từ dưới hầm củ cải chui lên, người bám đầy đất và mốc trắng,
nét mặt hắn mệt mỏi nhưng đầy vẻ thỏa mãn.
Mẹ dậm chân, gào lên:
- Tôi lú lẫn mất rồi!
ở đoạn cuối hầm ngầm trong nhà, chỗ đống cỏ mục, thằng câm đã cưỡng
dâm chị ba Lãnh Đệ.
Chúng tôi lôi chị dưới hầm lên đặt nằm trên giường. Mẹ vừa khóc vừa
lấy khăn bám đầy bụi lưu huỳnh, thấm nước trong chậu, lau rửa từng
li từng tí trên người chị. Nước mắt mẹ rơi trên mình chị, trên những
vệt răng ở vú nhưng chị lại nở một nụ cười mê hồn, ánh mắt rạng rỡ
đầy quyến rũ.
Chị Năm nghe tin chạy về, trố mắt nhìn chị Ba. Chị chẳng nói chẳng
rằng chạy ra sân, móc quả lựu đạn ở thắt lưng, giật nụ xòe ném vào
chái đông. Quả lựu đạn bị thối, không nổ.
Nơi xử bắn thằng câm cũng chính là nơi xử bắn Mã Đồng: bên bờ hố
nước bẩn đầy rác rưởi, giữa hố mọc đầy cỏ bô, ở phía nam của thôn.
Thằng câm bị trói theo kiểu trói trọng phạm ngay bên hố nước, mấy
chục binh sĩ tay xách súng đứng thành hàng ngang, chính ủy diễn giải
bằng lời lẽ hùng hồn trước quần chúng. Diễn thuyết xong, các binh sĩ
lên cơ bẩm, đẩy đạn lên nòng... Chính ủy đích thân hô khẩu lệnh. Khi
những viên đạn sắp sửa bay khỏi nòng thì chị Lãnh Đệ quần áo trắng
tinh, phiêu diêu đi tới nhẹ nhàng như một Nàng Tiên. Nàng Tiên Chim
đến rồi? Có người kêu lên. Mọi người lập tức nhớ lại thân thế kỳ lạ
và những sự tích thần kỳ của Tiên Chim, quên bẵng thằng câm. Đây là
giờ phút đẹp đẽ nhất trong cuộc đời Tiên Chim, chị nhảy múa trước
mặt mọi người như một con tiên hạc, khuôn mặt tươi tắn như bông sen
hồng, sen bạch. Thân hình cân xứng, cặp môi mọng đầy quyến rũ. Chị
vừa múa vừa tiến lại gần thằng câm rồi đột nhiên dừng lại nghiêng
đầu ngắm khuôn mặt hắn. Thằng câm nở một nụ cười ngơ ngẩn. Chị đưa
tay vuốt nhe mái tóc dày như thảm, véo nhẹ cái mũi củ hành của thằng
câm. Cuối cùng, chị công khai nắm lấy bộ sậu giữa hai chân, cái bộ
sậu đã gây oan nghiệt, rồi nghiêng đầu nhìn quần chúng mà cười khúc
khích. Đám phụ nữ vội quay mặt đi, đám đàn ông thì nhìn mê mẩn,
nhếch mép cười hóm hỉnh. Chính ủy húng hắng ho, rất không tự nhiên,
ra lệnh:
- Lôi cô ta ra! Thi hành lệnh xử bắn!
Thằng câm ngửa mặt lên, kêu ú ớ, hình như muốn kháng nghị.
Nàng Tiên Chim ta, y vẫn nắm cái của ấy, cặp môi mọng đầy vẻ ham
muốn, phản ánh một dục vọng lành mạnh, tự nhiên. Không ai muốn chấp
hành mệnh lệnh của chính ủy.
Chính ủy hỏi to:
- Cô kia, hắn cuồng dâm cô hay cô thuận tình?
Nàng Tiên Chim không trả lời.
Chính ủy lại hỏi:
- Cô có thích hắn không?
Nàng Tiên Chim vẫn không trả lời.
Chính ủy tìm mẹ trong đám đông, vẻ khó xử:
- Bác xem nên thế nào!... Theo tôi nghĩ, hay là cho chúng nó lấy
nhau cho xong. Tôn Bất Ngôn tuy có sai lầm, nhưng không đáng tội
chết, đó là điều chắc chắn!
Mẹ không nói gì, rẽ đám đông đi về. Mẹ bước rất chậm, vẻ nặng nhọc
như cõng trên lưng một tấm bia. Mọi người nhìn theo, khi thấy mẹ kêu
gào, mới không để ý nữa.
- Cởi trói cho anh ta. - Chính ủy mệt mỏi buông ra câu này, rồi bỏ
đi.
8
Hôm ấy là ngày mồng Bảy tháng Bảy âm lịch, Ngưu Lang và Chúc Nữ gặp
nhau. Trong nhà ngột ngạt, muỗi nhiều tới mức có thể quơ được cả
nắm. Mẹ trải chiếu dưới gốc cây thạch lựu; lúc đầu chúng tôi ngồi,
sau đó là nằm trên chiếu nghe mẹ thủ thỉ kể chuyện. Lúc chạng vạng
tối, trời mưa nhẹ. Mẹ bảo đó là nước mắt Chúc Nữ. Không khí ẩm ướt,
gió mát thổi đến từng cơn. Dưới gốc cây lựu, những chiếc lá lấp
lánh. ở trong chái dông và chái tây, các binh sĩ thắp những ngọn nến
tự tạo. Muỗi cắn, mẹ xua chúng bằng lá bồ đề. Ngày hôm nay, tất cả
chim khách đều bay lên trời xanh, tầng tầng lớp lớp, cắn đuôi nhau,
bắc nhịp cầu Ô Thức trên sông Ngân phong ba cuồn cuộn. Chúc Nữ và
Ngưu Lang qua cầu Ô Thức đến với nhau, mưa và móc là những giọt lệ
nhớ thương của họ. Trong lời thủ thỉ của mẹ, tôi và Niệm Đệ, thằng
nhỏ nhà Tư Mã, ngước nhìn bầu trời đầy sao. Chị Tám tuy bị mù nhưng
cũng ngẩng mặt nhìn trời, mắt chị còn sáng hơn sao. Ngoài ngõ vang
lên tiếng chân nặng nề của những người đổi gác trở về. Cánh đồng xa
xa, ếch nhái đang hợp xướng. Trên dàn biển đậu chân tường, chim Thợ
Dệt cất tiếng hỏi: - Chiu chiu chiu... chiu chiu. Trong màn đêm mờ
ảo, một số chim lớn nặng nề bay qua, chúng tôi lờ mờ trông thấy bóng
trắng của chúng và tiếng vỗ cánh rào rào. Những con dơi kêu chít
chít, những giọt nước trên cành rơi tí tách. Sa Tảo Hoa nằm trong
lòng mẹ, ngáy đều đều. Chái đông vang lên tiếng kêu như mèo của Lãnh
Đệ, cái bóng đồ sộ của thằng câm lắc lư trước ánh đèn. Hai người đã
lấy nhau. Chính ủy Tưởng là người làm mối. Tịnh thất thờ Nàng Tiên
Chim trở thành phòng cô đâu với những cuộc truy hoan. Nàng Tiên Chim
thường xuyên mình trần chạy ra sân. Thằng câm đeo trên hai núm vú
chị hai quả lục lạc nhỏ, khi chạy kêu loong chong. Một binh sĩ nhìn
trộm vú chị, suýt bị thằng câm đánh gãy cổ. Khuya rối, vào nhà ngủ
đi, mẹ nói.
- Trong nhà nóng, lắm muỗi, cho chúng con ngủ ở đây. Chị Sáu nói.
Mẹ bảo, không được nhiễm sương là ốm, với lại, trên trời có...
Chúng tôi hình như nghe thấy có tiếng người đang trao đổi, bông hoa
đẹp quá, hái đi! Lúc về hãy hái. Đó là tiếng của những con nhện
thành tinh, chuyên cưỡng dâm những bông cúc vàng.
Chúng tôi nằm trên giường, không tài nào ngủ được. Điều kỳ lạ là chị
Tám lại ngủ rất ngon lành, khóe miệng có một tia nước bọt trong suốt
và thơm lựng. Cây ngải hun muỗi bốc khói cay cay. Cây nến trên cửa
sổ của các binh sĩ chiếu sáng cửa sổ chúng tôi, cảnh vật trong sân
mờ ảo. Những con cá biển chị Lai Đệ gửi cho đã ươn, đang bốc mùi
trong nhà xí. Chị còn gửi cho bao nhiêu của cải, vải vóc tơ lụa, đồ
dạc, đồ chơi, nhưng bị đại đội bộc phá tịch thu tất. Then cửa buồng
chính kêu khẽ.
- Ai đấy? - mẹ quát, thuận tay vớ con dao thái rau.
Không một chút động tĩnh. Có lẽ chúng tôi nghe lầm. Mẹ đặt con dao
vào chỗ cũ. Cây ngải hun muỗi khẽ lóe lên những tia sáng ngắn ngay
dưới chân giường.
Một bóng đen gầy gầy đột nhiên đứng ngay ở đầu giường. Mẹ kinh hoảng
kêu lên. Chị Sáu cũng hoảng hốt kêu lên. Bóng đen chồm lên giường
bịt miệng mẹ. Mẹ sờ soạng tìm con dao định chém thì bóng đen nói:
- Mẹ, con là Lai Đệ.
Con dao rơi xuống chiếu. Chị Cả về rồi! Chị Cả quì trên giường, khóc
nức nở. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn khuôn mặt lờ mờ của chị. Tôi trông
thấy có những gì lấp lánh trên đó.
- Lai Đệ, đúng là con đấy ư? Con là ma chăng? Con là ma mẹ cũng
không sợ, để mẹ xem mặt con một tí.
Mẹ tìm bao diêm trên đầu giường. Chị Cả giữ tay mẹ lại, hạ thấp
giọng, nói:
- Mẹ đừng thắp đèn.
- Lai Đệ, con nhẫn tâm lắm, những năm qua con với thằng Lượng đi
những đâu? Con làm khổ mẹ quá!
- Mẹ ơi, chuyện dài lắm. Chị Cả nói:
- Con gái con- Mẹ trao Sa Tảo Hoa đang ngủ say cho chị, nói: - Thế
mà cũng là mẹ, đẻ mà không nuôi, không bằng con vật.... Vì nó mà em
Tư và em Bảy...
- Mẹ ơi. Ân tình của mẹ thể nào cũng có lúc con đền đáp, cả em Tư và
em Bảy nữa
Lúc này chị Sáu bước tới gọi:
- Chị Cả?
Chị Cả ngửng lên, vỗ vỗ chị Sáu, nói:
- Em Sáu. Còn Kim Đồng đâu, Ngọc Nữ đâu? Kim Đồng Ngọc Nữ còn nhớ
chị không.
Mẹ nói:
- Nếu không có đại đội bộc phá thì cả nhà ta chết từ lâu rồi!
Chị Cả nói:
- Mẹ ạ, lão Tưởng và thằng tha Lỗ không phải con người!
Mẹ nói:
- Người ta không đối xử tệ với mình thì nói gì cũng phải có lương
tâm chứ?
Chị Cả nói:
- Mẹ, đó là âm mưu của họ, họ viết thư cho anh Lượng ép phải đầu
hàng, nếu không, sẽ bắt con gái của con làm con tin.
Mẹ hỏi:
- Lại có chuyện ấy hả? Họ đánh nhau thì việc gì đến con bé?
Chị Cả nói:
- Mẹ ơi, con về lần này là để cứu cháu. Mẹ ạ, con có đem theo mười
mấy người, chúng con đi ngay bây giờ, để cho bọn thằng Lỗ mừng hụt!
Mẹ ơi, công ơn của mẹ cao như núi, cho phép con được báo đáp sau
này. Con đi đây!
Chị Cả chưa nói dứt câu, mẹ đã giằng lại bé Tảo Hoa, giận dữ nói:
- Lai Đệ, mày đừng đánh lừa tao. Trước kia mày quẳng con mày cho tao
như quẳng một con chó. Tao không quản nguy hiểm nuôi nó đến bây giờ.
Khá nhỉ, lại về đây ăn sẵn! Nào là đội trưởng Lỗ, chính ủy Tưởng,
mày bịa ra tất! Mày muốn làm mẹ rồi hả? Đú đởn với thằng Lượng đủ
rồi hả?
- Mẹ, anh ấy bây giờ là Lữ trưởng bộ đội liên hiệp Thiên hoàng, cai
quản cả nghìn người?
- Tao không cần nó có bao nhiêu người, tao cũng chăng cần chức
Trưởng của nó! - Mẹ nói - Mày bảo nó đến mà bế đi. Mày bảo nó, những
con thỏ mà nó treo trên cây, tao vẫn để đó.
- Mẹ ơi, đây là chuyện lớn, liên quan đến hàng ngàn vạn người, mẹ
đừng lẩm cẩm!
- Tao lẩm cẩm cả đời người rồi, ngàn vạn người tao cũng thây kệ! Tao
chỉ biết con Hoa là do tao nuôi, tao chẳng cho ai hết!
Chị Cả vồ lấy Tảo Hoa nhảy xuống giường chạy ra ngoài.
Mẹ quát:
- Đồ mất dạy, dám cướp hả?
Tảo Hoa òa khóc.
Mẹ nhảy xuống giường, đuổi theo.
Ngoài sân rộ lên những tiếng súng, cảnh hỗn loạn trên nóc nhà, có
người rú lên thê thảm rồi lăn xuống sân.
Một bàn chân dẫm thủng nóc nhà chúng tôi, đất rơi xuống rào rào cùng
với những ánh sao.
Trong sân cực kỳ hỗn loạn tiếng súng, tiếng gươm chạm nhau, tiếng
quát tháo của đám binh sĩ:
- Không cho chúng nó thoát?
Binh lính của đại đội bộc phá cầm trong tay mười mấy cây được tẩm
dầu chạy tới, trong sân sáng như ban ngày. Ngoài ngõ, sau nhà đều có
tiếng đàn ông. Sau nhà có tiếng người thét:
- Trói nó lại, xem nó còn chạy nữa không?
Đại đội trưởng Lỗ bước vào sân, nói với chị Lai Đệ lúc này đang bế
Tảo Hoa đứng nép vào chân tường:
- Bà Sa, bà làm vậy có đẹp không?
Sa Tảo Hoa khóc to.
Mẹ bước ra sân.
Chúng tôi bám cửa sổ nhìn ra ngoài.
Một người đàn ông nằm bên lối đi, trên người thủng lỗ chỗ, máu chảy
thành vũng rồi bò ra tứ phía như rắn. Mùi máu tanh lợm, nóng hôi
hổi. Mùi dầu hỏa xộc lên mũi. Máu vẫn chảy ra từ các vết đạn, sủi
bọt. Anh ta chưa chết hẳn, một chân vẫn co giật. Miệng cạp đất, cổ
vổng lên, không trông thấy mặt anh ta. Lá cây như dát vàng. Thằng
câm tay cầm đao, vừa ú ớ vừa ra hiệu với Lỗ đại đội trưởng. Tiên
Chim chạy ra, rõ khéo, khoác chiếc áo rõ ràng là áo của thằng câm,
vạt áo dài đến đầu gối, cặp vú nửa kín nửa hở. Đôi chân thon dài,
trắng muốt. Người chắc lẳn, bắp chân trắng mịn. Miệng hé mở, mắt lim
dim, lúc nhìn cây đuốc này, lúc nhìn cây đuốc khác. Một tốp binh sĩ
dẫn về ba người mặc quân phục xanh, một ngoi bị thương ở tay, máu
đang chảy, mặt tái nhợt. Một người chân khập khiễng, một người bị
trói vít đầu xuống. Anh ta cố súc ngẩng đầu lên, nhưng một bàn tay
khỏe ấn đầu anh ta xuống. Chính ủy Tưởng cũng tới, trong tay cầm
chiếc đèn pin có buộc dải lụa dỏ.
Mẹ nhón gót chạy ra vì không kịp đi giày. Mùn giun đùn lên từng đống
trên mặt đất. Không hề sợ, mẹ mặt đối mặt với đại đội trưởng Lỗ:
- Có chuyện gì vậy?
Đại đội trưởng Lỗ nói:
- Chuyện này không liên quan gì đến bác!
Chính ủy Tưởng làm một động tác thừa là dùng miếng vải đỏ che mặt
đèn pin. Anh ta chiếu đèn vào mặt Lai Đệ.
Lai Đệ thân hình mảnh đẻ như một cây bạch dương. Mẹ đi tới trước mặt
chị Cả giằng lấy bé Hoa. Bé Hoa. Ôm chầm lấy bà ngoại. Mẹ dỗ nó:
- Cháu ngoan, đừng sợ, có ngoại đây!
Bé Hoa khóc nhỏ dần, rồi chỉ còn tiếng sụt sịt. Cánh tay chị Cả vẫn
giữ nguyên tư thế bế con cứng nhắc, trông rất xấu. Mặt chị trắng
bệch, hai mắt ngây dại. Chị mặc bộ quần áo xanh kiểu đàn ông, đôi vú
đã trưởng thành nhô cao, không dẹt như vú mẹ.
- Bà Lượng, chúng tôi đối xử với vợ chồng bà có thể nói là chí nhân
chí nghĩa? Không theo chúng tôi cũng chẳng ép, nhưng không nên đầu
hàng bọn Nhật? - Đại đội trưởng Lỗ nói.
Chị Cả cười nhạt:
- Đó là chuyện của các ông, đừng nói với bọn đàn bà chúng tôi.
Chính ủy Tưởng nói:
- Nghe nói bà Lượng là tham mưu cấp cao của ông Lượng?
Chị Cả nói:
- Tôi chỉ biết đòi lại con gái tôi. Các ông có giỏi thì chơi nhau
bằng gươm bằng súng. Đem trẻ con ra làm những trò mèo, không phải là
bậc trượng phu?
Chính ủy Tiếng nói:
- Bà sai rồi! Chúng tôi đối với tiểu thư có thể nói cực kỳ chu đáo,
có bà cụ làm chứng, có các em gái bà làm chứng, có đất dày làm
chứng, có trời cao làm chứng! Bản chất của chúng tôi là yêu trẻ, vì
trẻ, tất cả hành động của chúng tôi đều vì mục đích đó. Chúng tôi
không muốn một cô bé xinh đẹp như thế này mà lại có bố mẹ là Hán
gian!
Chị Cả nói:
- Ông đừng nhiều lời nữa. Tôi đã rơi vào tay các ông, muốn làm gì
thì làm!
Thằng câm xông ra. Dưới ánh sáng của mười mấy cây đuốc, hắn cao to
hung hãn lạ thường. Da đen thui như bôi một lớp mỡ con hoan. Ôà...
Ôà... mắt hắn như mắt chó sói, mũi lợn, tai khỉ, mặt hung dữ như mặt
hổ hắn vừa gào lên a... a... vừa giơ cánh tay hộ pháp lên lắc lắc
nắm đấm, chạy một vòng tròn trước mặt mọi người. Hắn đá cái xác nằm
trên lối đi và lần lượt đấm đá ba tù binh, mỗi người một đấm, vừa
đấm vừa kêu ố ố. Quả đấm cuối cùng, người tù binh cố ngẩng đầu, ngã
lăn ra bất tỉnh. Chính ủy Tưởng ngăn hắn lại, khiển trách:
- Tôn Bất Ngôn, không được đánh tù binh.
Thằng câm nhếch miệng cười, chỉ vào chị Lai Đệ, lại chỉ vào ngực
hắn. Hắn đi tới trước mặt chị, tay trái bóp vai chị, tay phải làm
điệu bộ với mọi người. Chị Ba nhìn đăm đăm ngọn lửa luôn thay hình
đổi dạng. Chị Cả giơ tay trái tát đánh bốp vào má phải thằng câm.
Hắn buông tay, ngơ ngác xoa má, hình như không hiểu cú đánh từ đâu
tới. Chị Cả lại giơ tay phải tát đánh bốp vào má trái thằng câm, cái
tát vừa nhanh vừa mạnh. Hắn loạng choạng lùi lại. Do lực phản hồi
của cú tát, chị Cả cũng thoái lui một bước. Chị Cả dựng ngược mày
liễu, trợn tròn đôi mắt phượng, nghiến rằng nghiến lợi, chửi:
- Đồ súc sinh, mày hủy hoại em gái tao!
Đại đội trưởng Lỗ bảo:
- Giải nó đi! Con nữ tặc, hung hăng khiếp!
Vài binh sĩ tiến đến kẹp chặt cánh tay chị Cả. Chị nói to:
- Mẹ lú lẫn rồi. Con Ba là chim phượng hoàng, thế mà mẹ gả cho thằng
Câm!
Một binh sĩ thở hồng hộc chạy vào, báo cáo:
- Báo cáo đại đội trưởng, báo cáo chính ủy, đại đội nhân mã của Sa
Nguyệt Lượng đã vào trấn Sa Lĩnh!
Đại đội trưởng Lỗ nói:
- Mọi người không được rối lên. Các trung đội trưởng chú ý, hành
động theo kế hoạch đã bàn, gài tất cả số mìn hiện có.
Chính ủy Tưởng nói:
- Để đảm bảo an toàn cho bác và lũ trẻ, bác đến đại đội bộ với chúng
tôi!
Mẹ lắc đầu, nói:
- Không, có chết cũng chết ở nhà?
Chính ủy Tưởng khoát tay, một tốp lính kèm chặt mẹ, tốp khác ùa vào
trong nhà. Mẹ gào to:
- Chúa ơi, xin Chúa chứng giám!
Cả nhà tôi bị giam trong phòng xép nhà Tư Mã. Trước cửa có lính gác.
Bên cạnh là đại sảnh, đèn khí sáng trung, người nói ầm ĩ. Bên ngoài
thôn, tiếng súng nổ như ngô rang.
Chính ủy Tưởng xách chiếc đèn bão, chụp đèn bằng thủy tinh. Khói
trong đèn bốc lên cuồn cuộn, khiến anh ta phải nheo mắt lại. Anh ta
để đèn lên bàn, nhìn chúng tôi từ đầu đến chân, nói:
- Đứng làm gì nhỉ, ngồi xuống cả đi!
Anh ta chỉ những ghế tựa bằng gỗ hoa lê bày xung quanh chân tường,
nói:
- Chàng rể thứ hai nhà bác ra vẻ đấy!
Anh ta ngồ |